Lời Vọng Phục Sinh

bia phuc sinh

bia phuc sinh

Chúa vẫn sống! Nhưng mắt họ vẫn còn bị ngăn cản, nên họ không nhận ra Ngài (x.Lc 24,15). Lời Tin mừng theo thánh sử Luca thuật lại chuyện hai môn đệ trên đường Emmau sau khi Đức Giêsu đã trỗi dậy từ cõi chết, gợi lên cho chúng ta một vài suy tư gợi mở chúng ta nhớ lại sứ mạng ngôn sứ trong ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội và ngôn sứ của tình yêu trong đời sống cộng đoàn dưới gương sáng của Đấng sáng lập Leo John Dehon (1843-1925).

  1. Cuộc đời vắng bóng Ngài

Họ trò chuyện và bàn tán với nhau (x.Lc 24,15). Ngày thứ sáu hôm nao, Đức Kitô đã chết tức tưởi trên thập giá. Thế là mọi sự đã tan vỡ. Cơn mộng ngồi bên hữu hay bên tả trong vinh quang của Chúa sau khi tái quốc Israel đã tan thành mây khói. Mỗi người một ngả, họ lên đường trở về với mảnh đất xưa kia, nơi họ đã ra đi để dệt giấc mơ đổi đời. Họ đã không còn Chúa, không còn người lãnh đạo, nên họ đã bàn tán, tranh cãi với nhau trên đường, Ta sẽ đánh chủ chiên và đoàn chiên sẽ tan tác (x.Mc 14,27). Chúng ta không biết họ bàn tán gay gắt như thế nào, nhưng lời tường thuật Tin mừng cho ta thấy họ không được bình an và tỏ hiện qua khuôn mặt buồn rầu. Không có Chúa, chúng ta thấy cuộc sống thật vô thường, mọi sự thay đổi từng giây và chúng ta không biết bám tựa vào đâu, không xác định cùng đích của cuộc đời. Chúng ta như đoàn người ở giữa đại dương bao la mà không có la bàn để xác định bến bờ, ta bị trôi dạt vô định giữa dòng đời đổi thay.

Từ chỗ không có người hướng dẫn, không có mẫu hình lý tưởng như là quy chuẩn cho mọi hành động, chúng ta có khuynh hướng đề cao cái tôi của mình. Tự cho mình là chuẩn mực trong mọi sinh hoạt của cuộc sống và dĩ nhiên khi cái tôi lên cao thì phải có ai khác bị đè xuống và như một mặc định, mâu thuẫn sẽ nảy sinh.

  1. Và Ngài đã xuất hiện

Trong lời tựa tác phẩm Cơ hội của Chúa tác giả Nguyễn Việt Hà nhận định: “Sự cùng quẫn cuối cùng của con người, đấy là cơ hội của Chúa”. Quả thế, suy nghĩ về sứ mạng và cùng đích của phận người chỉ dẫn đến bế tắc. Vì con người luôn là hữu thể hữu hạn trong lý trí mà lại muốn thấu hiểu thiên cung bí sử của Thiên Chúa là Đấng vô hạn thì chỉ có đường cùng mà thôi. Vì thế, Đức Giêsu đã xuất hiện và giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh cũng như Ngài đã ở lại và đồng bàn với họ. Và bây giờ, mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người khi Người bẻ bánh  (x.Lc 24,27-31).

Tại sao hai môn đệ nhận ra Người khi Người bẻ bánh chứ không phải khi Người xuất hiện? Một lý chứng liên quan đến đức Tin Kitô giáo xuất hiện cho chúng ta. Chúng ta không thể gặp Thiên Chúa qua con mắt thể lý, nhưng chỉ con mắt đức Tin mới cho chúng ta thấy Thiên Chúa hiện diện bên cạnh chúng ta. Đức Tin là một hồng ân nhưng không của Thiên Chúa ban cho con người, Ngài muốn tặng ban cho ai tùy ý Ngài. Như vậy, đức Tin là điều kiện tiên quyết cho việc khám phá Thiên Chúa như là nguyên nhân đệ nhất của mọi hoạt động của Ngài. Vì thế, việc giải thích kinh thánh chỉ làm cho các môn đệ được bừng cháy, còn với việc bẻ bánh thì mắt họ đã mở ra, bởi trong hoạt động bẻ bánh phải nại đến đức Tin, như vị linh mục xướng lên sau khi truyền phép bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô “Đây là mầu nhiệm Đức Tin”. Như vậy, với đức Tin chúng ta gặp Đấng Phục Sinh trong lời Chúa và trong các Bí Tích, từ đó, trong cảm thức đức Tin, chúng ta có thể thưa chuyện, đụng chạm và nhận ra Ngài là Đấng Hằng Sống và chúng ta ý thức rằng, Chúa hằng ở bên ta để hâm nóng trái tim đã bị chai đá và mở đôi mắt mù lòa để ta luôn tìm thấy ánh sáng ở cuối con đường cuộc đời đầy đen tối và đau khổ của phận người.

  1. Họ đứng dậy và quay trở lại

Khi đã nhận ra Đức Giêsu, họ đứng dậy và trở lại Giêrusalem. Tường thuật Tin mừng Luca cho thấy hành động dứt khoát của hai môn đệ sau khi gặp Đấng Phục Sinh. Họ lên đường trở lại Giêrusalem. Tại sao họ trở lại Thành Thánh? Bởi vì từ Thành Thánh, ơn cứu độ sẽ được lan tỏa đi khắp cùng thế giới. Chính tại Giêrusalem – các Tông Đồ sẽ nhận lệnh truyền của Thầy Chí Thánh là đem mọi người đến hưởng ơn cứu độ thông qua Bí tích Rửa Tội, phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội (x.Lc 24,47).

Trở lại Giêrusalem và nhận lãnh sứ mạng đem Tin mừng cho muôn dân là hành động kép trong một việc mà thôi. Động từ תשובה (Teshuval) mang hai hàm nghĩa, một là trở về và hàm nghĩa thứ hai là trả lời, đáp lại một yêu cầu nào đó[1]. Hành động hai môn đệ trở lại Giêrusalem và thuật lại cho các Tông Đồ đoàn việc mình nhận ra Chúa thế nào cũng là sự đáp lại lời mời gọi của Đức Kitô để trở nên chứng nhân cho sự phục sinh của Ngài. Vì vậy, chứng nhân là một dấu chỉ không thể thiếu trong mọi thời đại, Tông huấn loan báo Tin mừng của Đức Chân Phước Giáo Hoàng Phalô VI đã nhận định: “con người cần chứng nhân hơn là thầy dạy”. Như thế, chứng nhân về sự phục sinh vô cùng quan trọng trong đời sống đức tin của người Kitô hữu, như Thánh Phalô đã viết rằng: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì việc rao giảng của chúng tôi trở nên vô ích và đức tin của anh em cũng trống rỗng nữa”(1Cr 15,14). Vì thế, lời vọng phục sinh vẫn luôn luôn gọi mời mỗi chúng ta là những người đã lãnh nhận chức vụ ngôn sứ trong ngày lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy.

  1. Lên đường với một tâm thế mới

Ngày lãnh nhận Bí tích Khai Tâm, chúng ta được trở nên ngôn sứ để ơn cứu độ được phô diễn trong từng bậc sống của mỗi người. Tuy nhiên, có những người được tuyển chọn để trở nên dấu chứng cho sự toàn vẹn của Đức Ái Kitô giáo, họ tiếp tục kiện toàn chức năng ngôn sứ của mình với tên gọi mới là ngôn sứ của tình yêu. Trong giới hạn của mình, người viết xin nói đến sứ vụ ngôn sứ tình yêu theo dấu chân Cha Leo John Dehon.

Hội dòng linh mục Thánh Tâm, qua cha Dehon đã lãnh nhận ân sủng và sứ vụ để làm phồn thịnh Giáo Hội bằng một Hội Dòng Tông Đồ sống động qua cạnh sườn mở rộng và trái tim bị đâm thâu của Đấng Cứu Thế. Từ kinh nghiệm đức Tin của đấng sáng lập, mỗi tu sĩ của Hội dòng được kêu gọi dìm sâu vào trái tim rất thánh của Thầy Nhân Lành[2]. Từ đó, chúng ta ra đi đến tận cùng của thế giới nhằm làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa đã dành cho nhân loại, một tình yêu đã vắt kiệt những giọt máu và nước cuối cùng để nhân loại được sống và sống dồi dào (x. Ga 10,10).

Giống như hai môn đệ lên đường trở về Giêrusalem, mỗi môn đệ của cha Dehon cũng được kêu gọi đi đến những miền đất mới, những Giêrusalem mới đang cần đến những chứng nhân của tình yêu, một thứ tình yêu mãnh liệt hơn sự chết (x. Dc 8,6). Tình yêu được khởi phát từ Thánh Tâm Chúa Giêsu sẽ là nguồn lực xóa tan mọi sự sợ hãi và luôn luôn mở ra đón lấy chúng ta, hiến dâng cho chúng ta sự dịu ngọt khi chúng ta phải mang lấy những đau khổ trong khi thi hành sứ mạng ngôn sứ tình yêu giữa một thế giới bội vọng[3].

Để tạm kết, người viết xin mượn lời cầu trong kinh kính Trái Tim Rất Thánh của Đức Giêsu để ước mong sao được trở nên một tình yêu với Ngài. Lạy Đức Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng chúng con nên giống Trái Tim Chúa, để con đem Tin vui Phục Sinh đi đến muôn lối, tựa như mưa sa, mưa hồng ân xuống trên trần đời.

Tác giả bài viết

Hữu Thìn, SCJ

 

[1] Abraham Joshua Heschel, God in search of Man, Harper and Row, Publisher, New York, 1966, 141.

[2] Dòng Linh mục Thánh Tâm Việt Nam, Quy luật sống, lưu hành nội bộ, số 7, 21

[3] Leo John Dehon, The Love of Sacred Heart in His Passion, Volume Two, trans John Dalbec, SCJ, , 1960, 103.