Các bài suy niệm Chúa nhật V thường niên năm C

CHUA NHAT 800x445 1

Các Bài Đọc hôm nay dẫn chứng việc Thiên Chúa gọi một số nhân vật để cộng tác với Ngài trong việc loan truyền ơn cứu độ đến cho muôn người. Trong Bài Đọc I, Thiên Chúa gọi Isaiah đang khi ông tham dự phụng vụ thánh trong Đền Thờ. Ông được nhìn thấy sự thánh thiện và vinh quang của Thiên Chúa cũng như nhận ra sự ô uế của mình; nhưng sứ thần của Thiên Chúa đã thanh tẩy ông bằng than hồng, trước khi ông tình nguyện để được sai đến với con cái nhà Israel. Trong Bài Đọc II, Phaolô tường thuật lại sự kiện ông được Đức Kitô gọi và trao sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Ông được gọi làm tông đồ khi đang trên đường bắt bớ các tín hữu tại Damascus; nhưng Đức Kitô đã hiện ra với ông và làm ông bị ngã ngựa và bị mù. Sau đó Ngài sai người đến mở mắt, huấn luyện, và trao cho ông sứ vụ mang Tin Mừng. Phaolô cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa và sự bất toàn của mình; nhưng ơn thánh của Thiên Chúa đã lấp đầy những bất toàn và giúp cho sứ vụ của ông được thành công. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu chuẩn bị tâm hồn Phêrô bằng cách cho ông chứng kiến cảnh con người khao khát được nghe Tin Mừng và mẻ cá lạ lùng. Phêrô cảm thấy mình tội lỗi và bất xứng nên xin Đức Kitô tránh xa ông; nhưng Ngài đã gọi và biến đổi ông thành người chinh phục tha nhân về cho Thiên Chúa.

CHUA NHAT 800x445 1

Bài đọc: Isa 6:1-2a, 3-8; I Cor 15:1-11; Lk 5:1-11.

1/ Bài đọc I: 1 Năm vua Út-di-gia-hu băng hà, tôi thấy Chúa Thượng ngự trên ngai rất cao; tà áo của Người bao phủ Đền Thờ. 2 Phía bên trên Người, có các thần Xê-ra-phim đứng chầu.

3 Các vị ấy đối đáp tung hô: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!” 4 Tiếng tung hô đó làm cho các trụ cửa rung chuyển; khắp Đền Thờ khói toả mịt mù. 5 Bấy giờ tôi thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh!” 6 Một trong các thần Xê-ra-phim bay về phía tôi, tay cầm một hòn than hồng người đã dùng cặp mà gắp từ trên bàn thờ. 7 Người đưa hòn than ấy chạm vào miệng tôi và nói: “Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, ngươi đã được tha lỗi và xá tội.” 8 Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Tôi thưa: “Dạ, con đây, xin sai con đi.”

2/ Bài đọc II: 1 Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững. 2 Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích.

3 Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, 4 rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. 5 Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai.

6 Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. 7 Tiếp đến, Người hiện ra với ông Gia-cô-bê, rồi với tất cả các Tông Đồ. 8 Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non.

9 Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa. 10 Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi. 11 Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như vậy.

3/ Phúc Âm: 1 Một hôm, Đức Giê-su đang đứng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. 2 Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. 3 Đức Giê-su xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Si-môn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông. 4 Giảng xong, Người bảo ông Si-môn: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” 5 Ông Si-môn đáp: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.” 6 Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. 7 Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm. 8 Thấy vậy, ông Si-môn Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” 9 Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Si-môn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. 10 Cả hai người con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Si-môn, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” 11 Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.


GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Thiên Chúa mời gọi con người cộng tác với Ngài để mang ơn cứu độ cho mọi người.

Thiên Chúa là Đấng quan phòng mọi sự cách kỳ diệu và khôn ngoan. Ngài có thể làm tất cả; nhưng lại muốn dùng con người để mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Ngài gọi mỗi người trong những hoàn cảnh khác nhau, và trao sứ vụ mang ơn cứu độ đến cho tha nhân bằng những cách thức khác nhau. Người được gọi phải có một kinh nghiệm sâu xa với Thiên Chúa trước khi đáp trả lời mời gọi của Ngài. Họ phải cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa dành cho họ, sự bất toàn của bản thân, sự thánh thiện của Thiên Chúa, sự quan trọng và thúc bách của ơn cứu độ.

Các Bài Đọc hôm nay dẫn chứng việc Thiên Chúa gọi một số nhân vật để cộng tác với Ngài trong việc loan truyền ơn cứu độ đến cho muôn người. Trong Bài Đọc I, Thiên Chúa gọi Isaiah đang khi ông tham dự phụng vụ thánh trong Đền Thờ. Ông được nhìn thấy sự thánh thiện và vinh quang của Thiên Chúa cũng như nhận ra sự ô uế của mình; nhưng sứ thần của Thiên Chúa đã thanh tẩy ông bằng than hồng, trước khi ông tình nguyện để được sai đến với con cái nhà Israel. Trong Bài Đọc II, Phaolô tường thuật lại sự kiện ông được Đức Kitô gọi và trao sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Ông được gọi làm tông đồ khi đang trên đường bắt bớ các tín hữu tại Damascus; nhưng Đức Kitô đã hiện ra với ông và làm ông bị ngã ngựa và bị mù. Sau đó Ngài sai người đến mở mắt, huấn luyện, và trao cho ông sứ vụ mang Tin Mừng. Phaolô cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa và sự bất toàn của mình; nhưng ơn thánh của Thiên Chúa đã lấp đầy những bất toàn và giúp cho sứ vụ của ông được thành công. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu chuẩn bị tâm hồn Phêrô bằng cách cho ông chứng kiến cảnh con người khao khát được nghe Tin Mừng và mẻ cá lạ lùng. Phêrô cảm thấy mình tội lỗi và bất xứng nên xin Đức Kitô tránh xa ông; nhưng Ngài đã gọi và biến đổi ông thành người chinh phục tha nhân về cho Thiên Chúa.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Thiên Chúa gọi Isaiah làm ngôn sứ.

1.1/ Hoàn cảnh của Isaiah: Ông là công dân của vương quốc Judah, có vợ và ít nhất hai người con. Ông sống trong một thời kỳ rất khó khăn của đất nước: sự kiện vua Uzziah băng hà chấm dứt thời huy hoàng của Judah và bắt đầu một thời kỳ gian nan với sự cai trị của các vua Jotham, Ahaz, và Hezekiah. Ông đã chứng kiến cảnh vương quốc Israel miền Bắc bị rơi vào tay của quân đội Assyria năm 721 BC, và cảnh suy sụp về đạo nghĩa của vua quan cũng như dân trong xứ Judah sẽ đem đến thảm cảnh cho vương quốc Judah sau này (587 BC). Trình thuật hôm nay tường thuật một thị kiến xảy ra trong Đền Thờ và bắt đầu sứ vụ ngôn sứ của Isaiah.

1.2/ Kinh nghiệm của Isaiah: Thiên Chúa cho ông nhìn thấy sự vinh quang và thánh thiện của Thiên Chúa. Ông kể lại thị kiến: “Tôi thấy Chúa Thượng ngự trên ngai rất cao; tà áo của Người bao phủ Đền Thờ. Phía bên trên Người, có các thần Seraphim đứng chầu. Các vị ấy đối đáp tung hô: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!” Tiếng tung hô đó làm cho các trụ cửa rung chuyển; khắp Đền Thờ khói toả mịt mù.” Ba lần tung hô “Thánh! Thánh! Chí Thánh!” là truyền thống Do-thái diễn tả sự thánh thiện của Thiên Chúa. Khói tỏa mịt mù nhắc cho ông biết về sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đền Thờ, như con cái Israel từng có kinh nghiệm về “cột mây” suốt 40 năm trong sa mạc.

Khi nhận ra sự thánh thiện của Thiên Chúa, ông cũng đồng thời cảm thấy mình ô uế tội lỗi; nên ông thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh!” Truyền thống Do-thái vẫn tin: không ai nhìn thấy Thiên Chúa mà còn sống. Trường hợp của Isaiah là một trường hợp đặc biệt, vì Thiên Chúa đã sai thiên thần đến để thanh tẩy miệng lưỡi của ông, như ông tường thuật: “Một trong các thần Seraphim bay về phía tôi, tay cầm một hòn than hồng người đã dùng cặp mà gắp từ trên bàn thờ. Người đưa hòn than ấy chạm vào miệng tôi và nói: “Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, ngươi đã được tha lỗi và xá tội.””

1.3/ Isaiah tình nguyện để được sai đi: Quang cảnh Isaiah được chứng kiến là cảnh triều đình của Thiên Chúa với các thiên thần. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa hỏi ý kiến của các ngài: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Ngài không trực tiếp gọi Isaiah; nhưng Isaiah bị thôi thúc để đáp trả: “Dạ, con đây, xin sai con đi.” Lý do bị thúc đẩy có lẽ vì Isaiah được chứng kiến vinh quang thánh thiện của Thiên Chúa và được thiên thần sốt mến Seraphim thanh tẩy. Khi con người cảm nhận được tình yêu và sự tốt lành của Thiên Chúa, họ muốn đáp trả tình yêu Thiên Chúa bằng cách rao truyền tình yêu này cho mọi người.

2/ Bài đọc II: Đức Kitô chọn Phaolô làm tông đồ Dân Ngoại.

2.1/ Hoàn cảnh của Phaolô: Ông là một người Pharisee nhiệt thành với Lề Luật, sinh sống tại Tarsus, trong tỉnh bang Cicilia, và hành nghề chế tạo lều. Ông đang trên đường đi Damascus để truy nã các tín hữu của Đức Kitô. Lý do ông truy nã các tín hữu vì ông tin như bao người Do-thái khác: chỉ có người Do-thái mới xứng đáng được hưởng ơn cứu độ bằng cách giữ cẩn thận các luật lệ của tiền nhân để lại. Ông không được nghe trực tiếp từ Đức Kitô; nhưng qua những lời tố cáo của những người khác, ông nhìn Chúa Giêsu và các tín hữu như những kẻ thù đe dọa niềm tin của Do-thái Giáo.

Nhưng biến cố gặp gỡ Đức Kitô trên đường đi Damascus đã thay đổi toàn bộ đời sống của Phaolô. Ông bị té ngựa bởi một luồng sáng cực mạnh từ trời, bị mù lòa, và được nghe tiếng Đức Kitô cho biết Ngài chính là Người mà ông đang truy nã. Ngài cũng cảnh cáo cho ông biết “khốn cho những ai cứ giơ chân đạp mũi nhọn!” Sau đó, ông được sai tới với Ananiah, môn đệ của Đức Kitô, để được chữa lành và trao sứ vụ rao giảng Tin Mừng, cách riêng cho Dân Ngoại.

2.2/ Kinh nghiệm của Phaolô: Khi suy niệm về biến cố ngã ngựa đó, Phaolô cảm thấy mình hoàn toàn không xứng đáng với tình yêu của Đức Kitô. Thứ nhất, ông là kẻ thù đáng chết của Đức Kitô, vì ông đang truy tố các tín hữu của Ngài; thế mà Ngài đã không bắt ông phải chết, lại còn chữa lành sự mù lòa của ông về thể xác cũng như tinh thần. Ngài cho ông nhìn thấy sự thật về những mầu nhiệm của Thiên Chúa mà trước đó ông đã lầm lẫn. Thứ đến, Ngài còn ban cho ônh đặc quyền được làm tông-đồ. Phaolô thú nhận: “tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa.” Sau cùng, Ngài ban muôn ơn thánh để giúp ông hoàn thành sứ vụ được trao phó: “tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.”

2.3/ Phaolô thực thi sứ vụ tông đồ: Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, Phaolô đã gặp nhiều chống đối từ mọi phía: từ phía các tín hữu và từ người Do-thái. Các tín hữu không thể tin Phaolô, một người đang nhiệt thành bắt đạo, có thể trở thành người rao giảng Tin Mừng. Những người ghen tị tố cáo Phaolô giảng dạy giáo lý sai lạc. Họ nêu lý do vì Phaolô không thuộc Nhóm Mười Hai nên không thấu hiểu đạo lý của Đức Kitô. Trong trình thuật hôm nay, Phaolô nêu bật những điều quan trọng mà mọi người phải tin: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại đúng như lời Kinh Thánh. Sau đó, Đức Kitô đã hiện ra với nhiều người: với ông Kêpha và với Nhóm Mười Hai, với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ, và sau cùng với chính ông trên đường đi Damascus. Tất cả đều làm chứng Đức Kitô đã chết và đã sống lại. Phaolô kết luận: “Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như vậy.”

3/ Phúc Âm: Chúa Giêsu gọi Phêrô trở thành kẻ “lưới người như lưới cá.”

3.1/ Hoàn cảnh của Phêrô: Ông là người quê ở Betsaida và đang hành nghề đánh cá trên Biển Hồ Galilee. Theo trình thuật của Lucas hôm nay, Chúa Giêsu muốn Phêrô chứng kiến hai điều quan trọng:

(1) Dân chúng khao khát được nghe Tin Mừng: Vì dân chúng phải chen lấn nhau đến gần Chúa Giêsu để nghe lời Thiên Chúa, nên Chúa Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông. Phêrô chứng kiến nhu cầu khao khát được nghe Lời Chúa của dân chúng; nhưng chắc ông không bao giờ dám mơ tưởng một người ngư phủ như ông có thể trở thành người rao giảng Tin Mừng.

(2) Chúa Giêsu cho Phêrô bắt được một mẻ cá lạ lùng: Giảng xong, Người bảo ông: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” Ông Simon đáp: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.” Ông nghĩ với kinh nghiệm của một ngư phủ hành nghề lâu năm, ông sẽ cho Chúa Giêsu thấy lệnh truyền của Ngài vô ích; nhưng Chúa Giêsu chứng minh cho Phêrô thấy uy quyền của Thiên Chúa. “Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.”

3.2/ Kinh nghiệm của Phêrô: Ông nhận ra sự bất toàn của mình và uy quyền của Chúa Giêsu. Ngài không chỉ có uy quyền trong việc giảng dạy Lời Chúa; nhưng còn có uy quyền trên biển cả, mà ngay cả những ngư phủ kinh nghiệm như ông, đã vất vả suốt đêm mà không bắt được con cá nào cả. Ông Simon Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”

3.3/ Sự đáp trả của Phêrô: Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simon: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” Ông đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người. Khi gọi ông theo Ngài, Chúa Giêsu muốn Simon dùng kinh nghiệm ông có sẵn trong nghề đánh cá để áp dụng vào việc rao giảng Tin Mừng. Đánh cá đòi hỏi sự kiên nhẫn và thói quen thức khuya dạy sớm; người ngư phủ phải biết giờ nào cá đi tìm mồi và chỉ bắt cá trong những giờ đó. Việc chinh phục con người về cho Thiên Chúa cũng vậy, người rao giảng không phải chỉ biết đạo lý Nước Trời, nhưng còn phải biết tâm lý con người, và phải kiên nhẫn để hoán cải những tâm hồn ngoan cố.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

– Mỗi người chúng ta đều đã được Thiên Chúa kêu mời để cộng tác với Ngài trong việc mang ơn cứu độ đến cho chính mình và cho tha nhân.

– Chúng ta không xứng đáng với tình yêu, ơn gọi, và ơn cứu độ của Thiên Chúa; nhưng chúng ta đừng lo lắng, vì Chúa sẽ lấp đầy mọi thiếu thốn của chúng ta với ơn thánh của Ngài.

– Chúng ta hãy nhiệt thành đáp trả và cố gắng hết sức để chu toàn sứ vụ được trao phó. Khó khăn chắc chắn sẽ có; nhưng Thiên Chúa sẽ ban ơn thánh để chúng ta vượt qua tất cả.

Suy niệm

1.Từ nay anh sẽ bắt người

Suy Niệm

Chẳng ai ngờ cuộc đời Simon có thể chuyển hướng.

Ông đã có nghề nghiệp ổn định và đã lập gia đình. Thế giới của ông là hồ Ghênêxarét, là những con cá quẫy đuôi trong lưới, là gia đình cần phải chăm nom.

Ông yêu vợ con, ông yêu biển cả. Chúa đã đặt ông vui sống trong thế giới ấy, nên chỉ có Ngài mới có thể kéo ông ra, và bất ngờ đưa ông vào một thế giới mới, một đại dương bao la hơn nhiều, một gia đình rộng lớn hơn vạn bội. Chỉ Chúa mới có thể làm trái tim ông say mê một Ai khác, yêu một Ai đó hơn những người ông đã từng yêu.

Đức Giêsu đã đến với Simon thật tự nhiên. Ngài chọn thuyền của ông làm nơi giảng dạy. Sau đó Ngài mời ông thả lưới bắt cá, Simon có nhiều lý do để khước từ. Ông có thể nhân danh kinh nghiệm của mình để thấy tốt hơn nên chờ dịp khác, hay nại lý do mệt mỏi, sau một đêm ra khơi. Nhưng Simon đã vâng lời, chỉ vì tin Lời Thầy Giêsu, Lời đầy quyền uy, Lời trừ được quỷ (Lc 4,30). Lời mạnh mẽ đã chữa cho mẹ ông khỏi bệnh (4,39).

Mẻ cá lạ lùng, mẻ cá chỉ có trong mơ. Mẻ cá làm Simon run rẩy nhận ra mình tội lỗi, và nhận ra Đấng ở gần bên. Mẻ cá bất ngờ mở đường cho một lời mời gọi mới: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ thành kẻ bắt người.”

Simon lại có nhiều lý do hơn để từ chối. Chuyện gia đình bề bộn, tương lai bấp bênh. Kẻ quen bắt cá đâu có khả năng bắt người. Kẻ tội lỗi đâu xứng với sứ mạng. Nhưng một lần nữa, Simon dám tin vào Lời Chúa, để cho Chúa tự do lôi kéo mình.

Ông đã bỏ lại bao điều ông yêu mến. Khi bỏ lại hai thuyền đầy cá, ông tin rằng những mẻ cá mới đang đợi ông.

Chúa vẫn gọi tôi ra khỏi lối mòn quen thuộc, khỏi những điều tưởng như không thể đổi. Tôi có sẵn sàng lên đường theo Ngài không?

Gợi Ý Chia Sẻ

Nghe theo tiếng Chúa, buông lưới và gặt hái được một kết quả không ngờ: có khi nào trong đời, bạn có một kinh nghiệm tương tự như kinh nghiệm của Simon không?

Theo ý bạn, để sống cho tha nhân, điều gì là khó bỏ hơn cả?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.

Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.

Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.

Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.

Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.

2.Dựa vào lời Thầy

Suy Niệm

Simon là một giáo dân, có gia đình, có nghề nghiệp. Cuộc đời ông tưởng như chẳng thể nào đổi thay. Vậy mà ông ngư phủ bộc trực và ít học này lại lọt vào cặp mắt của Đức Giêsu.

Ngài đã từng đến nhà chữa bệnh cho bà mẹ vợ của ông. Chắc ông cũng đã có lần nghe Ngài giảng và thấy một số phép lạ Ngài làm. Đôi bên đã quen biết nhau qua nhiều mối liên hệ đời thường, nên Đức Giêsu rất tự nhiên xuống thuyền của Simon, và từ thuyền, Ngài giảng cho đám đông lời Thiên Chúa.

Khi giảng xong, Ngài bảo ông thả lưới chỗ nưóc sâu. Đây thật là một thách đố lớn cho Simon.

Kinh nghiệm dân chài cho ông biết nếu đêm không có cá thì đánh cá ban ngày cũng uổng công. Vả lại ông và các bạn đã mệt nhoài sau một đêm vất vả. Lưới đã được giặt và đem phơi…

Nhưng Simon còn có một kinh nghiệm khác, kinh nghiệm về sức mạnh của Lời Đức Giêsu. Lời đầy uy quyền, lời đuổi được ma quỷ, lời chữa cho mẹ vợ ông. Thế nên, giờ đây ông dám dựa vào lời Thầy mà thả lưới.

Mẻ cá sau đó là lời đáp của Thầy trước niềm tin của ông.

Điều mà ông đã vất vả tìm kiếm thì không gặp. Còn khi chẳng cố gắng mấy thì lại được dư tràn. Tràn trề dư dật là dấu hiệu của bàn tay Thiên Chúa.

Qua mẻ cá kinh khủng, Đức Giêsu tỏ mình cho ông. Ngài cho ông gặp Ngài và gặp bản thân mình.

Chính lúc đó ông cảm được khoảng cách giữa mình với Chúa. Ông thú nhận mình là tội nhân trước mặt Đấng Thánh.

Nhưng khi ông muốn Ngài tránh xa ông, thì Ngài lại đến gần ông để trao sứ mạng. Ngài mở đời ông sang một trang mới:

“Từ nay, anh sẽ bắt sống người ta.” Không phải bắt để làm chết như bắt cá, nhưng bắt để đưa vào cuộc sống mới.

Simon đã trải qua một chuỗi kinh nghiệm với Đức Giêsu: kinh nghiệm quen biết, kinh nghiệm bị thách đố trong niềm tin, kinh nghiệm thấy Chúa tỏ mình mình chói lòa qua mẻ cá lạ, kinh nghiệm được gọi và kinh nghiệm đáp trả.

Kinh nghiệm trước dẫn đến kinh nghiệm sau.

Gặp Đức Giêsu là bước vào một cuộc đối thoại. Chỉ cần đứt một mắt xích là tương quan đổ vỡ. Simon cứ lớn dần lên sau mỗi bước của lòng tin.

Tin đòi vượt trên lối suy luận thông thường, vượt trên kinh nghiệm, vượt trên mệt mỏi của xác thân.

Tin đòi tôi ra khơi buông lưới thêm một lần nữa.

Tin đòi tôi bỏ lại tất cả để theo Chúa. Bỏ tất cả là đặt tất cả dưới Chúa và sử dụng tất cả trong Ngài.

Hôm nay, Đức Giêsu vẫn cần các giáo dân cộng tác. Tôi có dám bước vào chuỗi kinh nghiệm như Simon không?

Gợi Ý Chia Sẻ

Có nhiều người đi lễ, nhưng ít người nghe được tiếng mời gọi cộng tác của Đức Giêsu. Bạn có thấy vai trò quan trọng của giáo dân trong Hội Thánh không? Họ có thể làm gì và phải làm gì?

Cuộc đời Kitô hữu của bạn có những đêm vất vả mà không được gì. Bạn đã làm gì để giữ vững niềm tin trong giai đoạn ấy?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.

Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.

Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.

Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.

Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.

3.Đào tạo tông đồ

(Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)

Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật về mẻ cá lạ lùng mà Phêrô và các bạn được chứng kiến. Đây khám phá chỉ đơn thuần là một phép lạ lớn lao cho ta ngưỡng phục quyền năng của Thiên Chúa. Nhưng qua dấu lạ này, Chúa Giêsu còn muốn mời gọi ta ra khơi truyền giáo. Và qua tiến trình của phép lạ, Chúa Giêsu đã áp dụng một chương trình đào tạo các môn đệ, đặc biệt là Phêrô, người đứng đầu các môn đệ. Chương trình đào tạo này gồm 4 điểm.

Điểm thứ nhất: cảm nghiệm về sự nghèo nàn của bản thân. Phêrô và các bạn đang giặt lưới. Các ông mệt mỏi sau một đêm thức trắng vật lộn với biển khơi. Tâm trạng các ông chán nản sau thất bại chua cay não nề. Thế mà giờ đây, Chúa Giêsu lại bảo các ông ra khơi. Ra tận chỗ nước sâu. Nước sâu là chỗ nguy hiểm. Nước sâu là chỗ Phêrô gặp thất bại. Chúa Giêsu muốn Phêrô trở lại chỗ nước sâu để nhận thức rõ sự vô tài bất lực của bản thân. Chúa Giêsu muốn Phêrô nhìn rõ những thất bại để ông biết khiêm nhường. Khiêm nhường là bài học đầu tiên Chúa Giêsu muốn gửi đến các môn đệ của Người.

Điểm thứ hai: cảm nghiệm về sự cao cả của Thiên Chúa. Người tông đồ phải làm chứng về Thiên Chúa. Muốn làm chứng phải có kinh nghiệm. Ai chưa từng gặp được Thiên Chúa, chưa từng tiếp xúc với Người thì không thể làm chứng về Người. Trong những trường hợp đặc biệt, Thiên Chúa thường chủ động tỏ mình ra. Chúa tỏ mình cho Môsê trong bụi gai cháy đỏ. Chúa tỏ mình ra cho thánh Phaolô qua làn ánh sáng chói lọi trên đường đi Đa mát. Hôm nay Chúa tỏ mình ra cho Phêrô qua mẻ lưới lạ lùng. Lập tức Phêrô nhận biết sự cao cả, sự thánh thiện của Chúa. Sợ hãi vì thấy mình tội lỗi, Phêrô vội quỳ xuống xin Chúa rời xa. Phêrô đã sống bên cạnh Chúa. Ông đã được tiếp xúc với Chúa. Ông đã cảm nghiệm được sự thánh thiện cao cả của Chúa. Sau này ông đi rao giảng chỉ là để kể lại những gì ông đã mắt thấy tai nghe.

Điểm thứ ba trong chương trình đào tạo môn đệ của Chúa đó là sự vâng lời tuyệt đối. Phêrô hẳn là rất ngạc nhiên khi Chúa Giêsu bảo ông ra khơi đánh cá, lại còn chỉ rõ nơi thả lưới. Không ngạc nhiên sao được khi Phêrô là người miền biển trong khi Chúa Giêsu là người miền núi. Phêrô làm nghề chài lưới lâu năm kinh nghiệm trong khi Chúa Giêsu chỉ làm nghề thợ mộc. Thế mà khi Chúa Giêsu bảo ông thả lưới bên phải thuyền, ông đã tăm tắp làm theo. Phêrô đã vâng lời tuyệt đối. Phêrô đã học được thái độ vâng lời của người môn đệ. Ông đã thành công. Ông đã thấy kết quả rõ ràng. Và Chúa đã đặt ông làm tông đồ trưởng.

Điểm sau cùng mà Chúa muốn người môn đệ phải có đó là sẵn sàng ra đi. Ra đi là một thái độ liều lĩnh. Vì vượt qua những khoảng không gian vật lý cheo leo. Ra khơi là chấp nhận đối đầu với phong ba bão táp.

Vượt qua những khoảng không gian vật lý đã khó. Vượt qua những khoảng không gian tâm lý còn khó hơn. Ra đi là bỏ nơi an toàn để đến nơi bấp bênh. Ra đi là bỏ nơi quen biết để đến nơi xa lạ. Lên đường truyền giáo là bỏ lại tất cả: gia đình, thuyền bè, chài lưới. Bỏ cả nghề nghiệp cũ đã thành thạo để bắt tay vào nghề mới còn chập chững. Bỏ lưới cá để chài người.

Nhưng khó nhất chính là ra khỏi chính mình. Dù có đi xa ngàn dặm nhưng vẫn giữ được những thói tật xưa cũ thì người ta vẫn còn ở khởi điểm. Muốn lên đường người môn đệ phải ra khỏi tính tự ái tự mãn của mình. Ra khỏi những quan niệm xưa cũ hẹp hòi. Ra khỏi những ảo tưởng viễn vông. Ra khỏi những ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân.

Khi đã từ bỏ tất cả, người môn đệ sẽ trở nên hoàn toàn nghèo nàn. Gia tài chỉ có niềm cậy tin phó thác hoàn toàn vào Đấng kêu gọi ta. Vũ khí chỉ có lòng vâng phục tuyệt đối vào Đấng sai ta.

Mỗi người được Chúa huấn luyện. Bao lâu ta chưa cảm nghiệm được sự hèn kém của bản thân, chưa cảm nghiệm được sự thánh thiện cao cả cũng như tình yêu của Thiên Chúa, chưa có niềm vâng phục tuyệt đối, chưa ra đi trong tự do và khó nghèo, ta vẫn chưa thực sự trở thành môn đệ của Chúa. Chưa được đào tạo kỹ lưỡng mà đã làm việc thì phần thành công chắc chắn sẽ ít hơn phần thất bại.

Lạy Chúa, xin hãy dạy bảo con theo đường lối của Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Bạn có tuyệt đối vâng lời Chúa trong mọi hoàn cảnh không?

2. Bạn có cảm nghiệm về sự vô tài bất lực của mình không?

3. Bạn đã ra đi khỏi chính mình chưa?

4. Bạn có cảm thấy Chúa có chương trình đào tạo mình không?

4.Thánh thiện và tội lỗi

(Suy niệm của ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên)

Thánh thiện và tội lỗi là hai phạm trù đối lập nhau. Thánh thiện thuộc về Thiên Chúa và tội lỗi là bản chất của con người. Hai nhân vật được nêu trong Lời Chúa hôm nay, một trong Bài Cựu ước và một trong Bài Tin Mừng, đã khẳng định sự tách biệt này. Khi được chiêm ngưỡng vinh quang của Thiên Chúa với lời tung hô ba lần “Thánh! Thánh ! Thánh”, ngôn sứ Isaia đã thốt lên: “Vô phúc cho tôi! Tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn, tôi ở giữa một dân tộc mà lưỡi họ đều nhơ nhớp, mắt tôi đã trông thấy Đức Vua, Người là Chúa các đạo binh”. Về phần ông Phêrô, khi chứng kiến mẻ lưới lạ, đã khiếp đảm thú nhận: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Phản ứng của hai nhân vật trên đây cho thấy quan niệm của Do Thái giáo về sự cách biệt giữa Thiên Chúa và con người, vì Thiên Chúa là Đấng Chí thánh và con người là kẻ phàm hèn tội lỗi. Sự khác biệt này đã tạo một khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người. Khoảng cách ấy ngặt nghèo đến nỗi, nếu con người lỡ nhìn thấy Chúa, thì phải chết.

Nếu con người lo sợ và mặc cảm về thân phận tội lỗi của mình, thì Thiên Chúa lại chủ động đến với họ. Thiên Chúa trong Cựu ước đã trấn an ông Isaia: “Hãy nhìn xem, than lửa này đã chạm đến lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ, và tội của ngươi được thứ tha”. Đức Giêsu trong Tân ước thì lại nói với ông Phêrô: “Đừng sợ hãi: từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Thật lạ lùng! Thiên Chúa không những bỏ qua thân phận tội lỗi của con người, mà còn chọn gọi họ như những cộng sự viên thân cận của Ngài. Ông Isaia và ông Phêrô không những không phải chết, mà còn được gọi và sai đi để loan truyền giáo huấn của Thiên Chúa, giúp cho nhiều người nhận biết Ngài. Quả thật, ông Isaia và ông Phêrô đã nhiệt thành đáp lại lời mời gọi của Chúa, trở nên ngôn sứ và tông đồ của Ngài.

Thiên Chúa đã lấp đầy khoảng cách giữa Ngài với chúng ta. Không chỉ chủ động đến gần con người tội lỗi, Chúa Cha còn sai Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô đến trần gian để sống thân phận con người. Người thánh thiện, mà chấp nhận hòa mình vào đám đông tội nhân đang xin ông Gioan Tẩy giả làm phép rửa. Người là Đấng vô tội mà bị kết án như một kẻ bất lương. Người là nguyên lý của sự sống mà đã phải mang lấy cái chết trên thập giá. Qua Đức Giêsu, nhờ Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, con người tội lỗi được trở nên con Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh. Đây là sự trao đổi nhiệm màu: Con Thiên Chúa mang lấy tội lỗi của con người để con người được làm con Thiên Chúa.

Con Thiên Chúa đã làm người để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa. Từ nay, không ai còn mặc cảm thân phận tội lỗi nữa. Hết thảy đều được Thiên Chúa yêu thương và mời gọi làm sứ giả của Ngài giữa lòng thế giới. Thánh Phaolô là một bằng chứng: ông thú nhận mình đã từng giết hại các tín hữu, nhưng khi được Chúa quy phục, ông đã ăn năn sám hối và cuộc đời của ông đã sang trang. Ông tâm sự: “Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa. Nhưng nay tôi là người thế nào, là nhờ ơn của Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các Đấng: song không phải tôi, nhưng là ơn của Thiên Chúa ở với tôi” (Bài đọc II). Đó là điều kỳ diệu của tình thương. Phaolô luôn tâm niệm điều này và ông thấy có bổn phận làm cho vương quốc của Chúa sớm được thực hiện nơi trần gian.

Isaia, Phêrô, Phaolô, ba con người xuất thân từ ba hoàn cảnh xã hội khác nhau, nhưng có chung một lý tưởng và một ơn gọi: làm sứ giả của Chúa và nhiệt thành loan báo lời Ngài. Hôm nay, Chúa vẫn đang kêu gọi chúng ta. Đừng mặc cảm cho rằng mình bất xứng hay bất tài. Ơn của Chúa sẽ phù giúp và ban cho chúng ta sức mạnh. Về phía chúng ta, chúng ta cần đáp lại lời mời gọi của Chúa, bằng tâm tình yêu mến, nhiệt thành và thiện chí. Chúa sẽ làm cho chúng ta trở nên những dụng cụ hữu ích trong Giáo Hội của Người. Qua những dụng cụ bé mọn ấy, Chúa tiếp tục làm nên những mẻ cá kỳ diệu, và làm cho cuộc sống này nở hoa.

5.Được gọi để gọi

(Suy niệm của Lm. Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc)

Tin mừng Lc 5: 1-11: Chúa Nhật hôm nay nhắc lại cho chúng ta ba ơn gọi: ơn gọi của Isaia trong đền thánh Giêrusalem (Bđ.1), ơn gọi của Phaolô trên đường đi Đamas (Bđ.2) và ơn gọi của Simon Phêrô bên bờ hồ Giênêzaret (bài Tin Mừng)…

– “Thưa ông bà muốn gặp ai ạ?”

Chị Céline đã nói câu ấy lần đầu tiên cách đây 40 năm. Từ đó ngôi nhà khách với chùm chìa khóa, cái chổi, chiếc ghế đã trở thành giang sơn của chị.

Bổn phận của chị giữ nhà khách là gọi người khác. Trong suốt 40 năm trường, chị Céline chỉ làm ngần ấy công việc. Câu hỏi trên kia chị phải lặp đi lặp lại đến hơn 10 lần mỗi ngày. Với thời gian, phương thế có đôi phần thay đổi: từ cái kẻng đến chuông điện, rồi điện thoại, sau đó lại trở về chuông kéo, kẻng sắt… nhưng công việc luôn luôn vẫn là gọi người khác.

Ôi chao! biết bao khuôn mặt đã xuất hiện tại nhà khách, bao giọng nói đã vang rền trong điện thoại. Nhưng có một điều chị Céline hằng đoán chắc: người ta đang gọi, đang xin gặp một người nào đó… trừ ra chị. Vì thế chị thường nói đùa: “Tôi chỉ được Chúa gọi một lần duy nhất và từ dạo ấy, tôi đã luôn luôn gọi người khác: tôi được gọi để gọi”.

Một ngày của chị bị cắt vụn thành từng miếng, công việc của chị bị chẻ thành từng mảnh, luôn luôn là gián đoạn. Khi cầm chuỗi lần hạt, chị biết mình sẽ không đọc được quá 10 kinh, khi xem sách chị đoán sẽ thưởng thức không quá 10 dòng ; trong nhà nguyện, chị quỳ ở ghế cuối cùng, gần cửa ra vào, luôn thấp thỏm đợi chờ chuông reo… Luôn bị gián đoạn, nhưng chỉ với “sự gián đoạn” này của mình, chị mới có thể tạo nên “sự liên hệ” của người khác. Chị bao giờ cũng nhanh nhẹn đối với một khách sang cũng như một bà lão nhà quê. Tất cả mọi người đều ăn cắp giờ của chị. Không ai cần gặp chị… Với thời gian, da mặt chị nhợt nhạt hơn, người chị tiều tụy hơn, nhưng nụ cười vẫn tươi nở như thuở nào, lời kinh dâng Chúa mỗi ngày lại càng thêm sốt sắng hơn.

Và rồi một hôm, trong lúc vội vã đi gọi người khác, chị Céline đã ngã quỵ trong hành lang nhà dòng, thổ huyết! Chị bập bẹ: “Chúa đến gọi tôi lần thứ hai” (và cũng là lần cuối). Đôi tay chị run run ôm lấy lồng ngực khiến chùm chìa khóa rơi trên nền gạch hoa. Đàng kia, chiếc ghế vẫn vô tình không biết từ nay mình sẽ là vô chủ…

Chị Céline đã suốt đời trung thành với tiếng gọi của Chúa và với công việc bổn phận hằng ngày của chị: được gọi để gọi người khác. Giá trị và sự cao cả của chị không phải là ở chỗ đó sao?

Thưa anh chị em,

Chúa Nhật hôm nay nhắc lại cho chúng ta ba ơn gọi: ơn gọi của Isaia trong đền thánh Giêrusalem (Bđ.1), ơn gọi của Phaolô trên đường đi Đamas (Bđ.2) và ơn gọi của Simon Phêrô bên bờ hồ Giênêzaret (bài Tin Mừng). Nhưng chắc chắn có chủ ý dạy chúng ta lắng nghe tiếng gọi của Chúa và làm theo ý Chúa, ra đi gọi những người khác đến với Chúa: được gọi để gọi người khác.

Isaia tự thuật về chính ơn gọi làm ngôn sứ của ông. Chúa đã gọi ông. Ông đã can đảm, sẵn sàng đáp lại: “Tôi đây, hãy sai tôi đi”. Thái độ của Isaia là thái độ của Đức Giêsu sau nầy khi Ngài đi vào thế gian: “Này con xin đến để thực thi ý Chúa” (Dt 10,9).

Thánh Phaolô cũng khéo léo tế nhị nhắc lại ơn gọi của mình và cách mình đáp lại ơn gọi đó. Phaolô cho biết khi Chúa hiện ra với ông trên đường đi Đamas và chọn ông làm tông đồ cho dân ngoại. Ông khiêm tốn cho mình là một tông đồ hèn mọn nhất, chẳng đáng gọi là tông đồ vì đã bắt bớ Giáo Hội. Ông coi đây là một ân huệ Chúa ban và không dám uổng phí, trái lại ông nhờ ơn Chúa mà hết lòng hết sức chịu khó làm theo ơn gọi.

Còn Simon Phêrô đã được Chúa gọi một cách rõ ràng và công khai sau mẻ cá thật nhiều đến nỗi gần rách lưới, Chúa Giêsu nói với ông: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ đi lưới người như lưới cá”. Điều gì sẽ xảy ra sau đó? Tin Mừng cho thấy không phải chỉ có Phêrô, người được gọi đích danh, đã theo Chúa, mà cả những người khác nữa cũng đã vội vã theo Chúa: “Họ đưa thuyền vào bờ và bỏ mọi sự mà theo Chúa”. Đến đây chúng ta mới rõ “mẻ cá lạ” Chúa làm là có dụng ý hay có mục đích “mở đường” cho ơn gọi của Phêrô và đồng bạn. Nghề nghiệp đánh cá của các ông thật đã giúp ích cho các ông hiểu một cách dễ dàng sứ vụ mới là làm “những kẻ chài lưới người” (Mt 4,19), nhưng mẻ cá lạ mới giúp các ông quyết định đáp lại ơn gọi một cách mau chóng, vì biết rằng có Chúa giúp khi thi hành sứ vụ của mình.

Anh chị em thân mến,

Chính Thiên Chúa, bằng cách trực tiếp hay gián tiếp, đã chọn gọi những người làm việc cho Ngài, làm cộng tác viên của Ngài trong công trình cứu chuộc nhân loại. Ngài đã gọi các tiên tri, các tông đồ, đã gọi bao nhiêu người khác, đã gọi chính chúng ta. Những ai được Chúa gọi phải mau mắn đáp lại ơn huệ của Chúa – Chúa kêu gọi đó là một ân huệ Ngài ban – một cách khiêm tốn và biết ơn vì ta chẳng đáng được vinh dự lớn lao như thế, và tự sức ta, ta cũng chẳng làm nổi việc gì.

Phải làm trọn ơn gọi của mình, khi đã chấp nhận thì không ngoái cổ lại đàng sau và hãy bắt tay vào việc một cách cần mẫn, hết lòng trông cậy vào ơn phù trợ của Ngài, vâng lời Ngài, tin tưởng phó thác và để Ngài tùy ý hoàn tất công việc lúc nào theo như Ngài muốn.

Chúng ta cầu xin Chúa ban ơn phù trợ giúp cách đặc biệt cho những người Chúa đã chọn, đã và đang khiêm tốn chịu khó làm việc Chúa trên khắp mọi cánh đồng và vườn nho của Chúa, nhất là cho Đức Thánh Cha, cho các vị Giám mục và các linh mục, cùng tất cả những người cộng tác chặt chẽ với các Ngài.

Chúng ta cũng cầu xin Chúa ban ơn gọi cho những người muốn vào làm việc tông đồ của Hội Thánh, đặc biệt trong những nơi đang xảy ra tình trạng “lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít”.

Chính chúng ta cũng hãy xin ơn biết lắng nghe tiếng Chúa chỉ bảo ta làm việc nầy hay việc khác trong hoàn cảnh Giáo Hội hiện nay trên quê hương đất nước chúng ta. Trước hết là giữ vững niềm tin vào Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Đó chính là ơn gọi đưa chúng ta vào Nước Trời bây giờ và sau nầy. Đó cũng là ơn gọi làm tông đồ giáo dân bằng chính cuộc sống đức tin của mình trong môi trường xã hội.

Nhưng nhất là giờ đây, chúng ta kính nhớ Đức Kitô chịu chết và tuyên xưng Ngài sống lại vì chúng ta qua cử hành Thánh Thể, chúng ta hãy hết lòng tạ ơn Chúa đã gọi chúng ta đến tham dự vào mầu nhiệm cứu rỗi nầy. Nhờ nghe Lời Chúa và ăn uống Mình Máu Thánh Chúa, chúng ta sống với ơn gọi một cách tốt đẹp để đời sống chúng ta cũng là một lời mời gọi nhiều người khác đến với Chúa.

6.Chinh phục người khác

– Đừng sợ, từ nay các con sẽ là những kẻ chinh phục người ta.

Chúa Giêsu vừa mới truyền dạy Phêrô như thế, tuy nhiên qua đó, chúng ta có thể rút ra một bài học quí giá.

Vào một buổi sáng, đang khi các môn đệ giặt lưới, Chúa Giêsu xuống thuyền và đứng đó giảng dạy cho đám đông. Khi đã kết thúc, Ngài bảo Phêrô:

– Con hãy ra khơi và thả lưới.

Đây là một lệnh truyên vô lý dưới mắt Phêrô. Thực vậy, Chúa Giêsu sinh ra tại Bêlem, lớn lên tại Nagiarét, kiếm ăn bằng nghề thợ mộc, không phải là người sống bên sóng nước nơi biển hồ Giênêgiarét, nên chẳng có chút kinh nghiệm nào về chài lưới.

Còn Phêrô, với mười mấy năm lăn lộn trong nghề, ông biết rất rõ: ra khơi và thả lưới giữa ban ngày ban mặt như thế này, thì chẳng hy vọng chút nào. Hơn nữa, suốt cả một đêm Phêrô và các bạn đã vất vả mà chẳng bắt được một con cá nào. Nếu ra khơi vào lúc này, thì chỉ chuốc lấy mệt mỏi vào thân mà thôi. Đúng là dạ tràng xe cát biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì. Thế nhưng, Chúa Giêsu có lẽ muốn thử thách vị thủ lãnh tương lai của Giáo Hội, xem Phêrô có biết vâng lời và tin tưởng vào Ngài hay không?

Sau một lúc do dự, Phêrô đã lấy lại bình tĩnh vì biết rằng đây là lệnh truyền của Chúa, cho nên phải thi hành mà chẳng cần đặt điều kiện hay đưa ra những câu hỏi và thắc mắc. Nghĩ vậy, Phêrô đã thưa lên cùng Chúa:

– Lạy Thày, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà chẳng được gì cả, nhưng vâng lời Thày, chúng con sẽ ra khơi và thả lưới.

Phần thưởng lớn lao cho niềm tin tưởng ấy là gì? Đó là một mẻ cá thật bất ngờ đến nỗi cả hai ghe phải chở đầy, mà theo lẽ tự nhiên sẽ chỉ là một mẻ lưới luống công vô ích. Trước sự kiện lạ lùng ấy, Phêrô đã quì xuống và thưa lên cùng Chúa:

– Lạy Thày, xin hãy xa con vì con là kẻ tội lỗi.

Phép lạ này đã để lại một dấu ấn sâu xa trong tâm hồn Phêrô và đã chuẩn bị cho sứ mạng tương lai của ông trong Giáo Hội. Đúng thế, Phêrô sẽ không còn thả lưới trên mặt biển hồ nữa, nhưng cùng với các bạn đồng nghiệp, ông sẽ ra đi chinh phục thế gian về cho Chúa Giêsu, như lời Ngài truyền dạy:

– Đừng sợ, từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta.

Nhưng để chu toàn một bổn phận, một trách nhiệm cao cả và nặng nề như thế, Phêrô phải có một lòng khiêm tốn và tin tưởng hoàn toàn vào Chúa:

– Hãy chuẩn bị cho một sứ mạng siêu việt ở ngoài tầm tay và khả năng của con. Hơn một lần con đã thất bại, đã vất vả mà chẳng bắt được một con cá nào. Con hãy ý thức sự yếu đuối của con, nhưng đồng thời phải can đảm và tin tưởng vào Ta. Ta sẽ ở bên con. Ta là ai thì con đã biết. Ta là Thiên Chúa quyền năng. Ta là Đấng cả đất trời và muôn loài đều phải vâng phục. Ta sẽ chúc lành cho những cố gắng của con, nhờ đó con sẽ gặt hái được những thành quả tốt đẹp.

Chính phép lạ này, một lần nữa đã xảy ra cho cuộc đời của Phêrô. Thực vậy, tự bản chất, Phêrô chỉ là một người thuyền chài quê mùa, dốt nát và nhát đảm. Thế nhưng, Phêrô đã vâng lời Chúa, lên đường truyền giáo và đã đem về cho Chúa một mẻ cá lạ lùng, đó là những tâm hồn tin vào Phúc âm. Chắc chắn Phêrô đã nhiều lần suy nghĩ về bài học thấm thía này, nhất là vào những năm tháng cuối đời.

Đúng thế, Phêrô đã tới Rôma vào thời bạo vương Nêron, giữa lúc cơn bách hại đang nổi lên như cuồng phong vũ bão. Ông đã bị bắt, bị tống giam và sau cùng bị đóng đanh vào thập giá, đầu ngược xuống đất trên ngọn đồi Vatican. Thế nhưng, ngày hôm nay trên phần mộ của ông, một ngôi đền thờ nguy nga và lộng lẫy nhất đã được xây dựng và mang tên ông: Đền thờ thánh Phêrô.

Bài học của Phêrô cũng là bài học của mỗi người chúng ta: hãy kiên nhân và tin tưởng vào Chúa. Đứng trước những thất bại đắng cay, nhiều người đã phàn nàn và kêu trách Chúa, để rồi đi tới chỗ tuyệt vọng, vì họ nghĩ rằng Chúa đã ngoảnh mặt làm ngơ, thậm chí còn bịt tai không còn nghe tiếng họ kêu xin. Thế nhưng, họ đã lầm. Hãy bình tĩnh và tự vấn lương tâm xem: chúng ta đã hành động một mình hay là đã hành động với Chúa? Tự sức riêng, chúng ta sẽ chuốc lấy thất bại như lời Chúa đã phán:

– Không có Thày, các con chẳng làm gì được.

Hãy biết bắt đầu lại trong niềm cậy trông vào Chúa, nhất là trong lãnh vực hoạt động tông đồ.

Thực vậy, sứ mạng tông đồ là sứ mạng chung của mọi người tín hữu, bởi vì đã là phần tử của Giáo Hội, chúng ta có bổn phận làm cho nhiệm thể Đức Kitô được phát triển và lớn lên. Tuy nhiên, phương pháp tuyệt diệu nhất bảo đảm cho những thành quả tốt đẹp, chính là kiên nhẫn và tin tưởng vào Chúa.

Đúng thế, tục ngữ Việt Nam đã nói:

– Có công mài sắt, có ngày nên kim.

– Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.

– Chớ thấy sóng cả mà lo,

Sóng thời mặc sóng, chèo cho có chừng.

Sự kiên nhẫn chính là một bí quyết dẫn tới thành công. Một Augustinô đã trở lại nhờ vào đâu, nếu không phải nhờ vào những lời cầu nguyện liên tục và những giọt nước mắt khổ đau của người mẹ hiền là thánh nữ Monica.

Cùng với sự kiên nhẫn, chúng ta hãy đặt trót niền tin tưởng cậy trông vào Chúa. Chúng ta hãy ý thức mình chỉ là một đầy tớ vô dụng, một dụng cụ tầm thường, chính Chúa mới là Đấng làm nên kết quả. Một Saulô hung dữ, thế mà chỉ trong nháy mắt, Chúa biến đổi để trở nên một Phaolô nhiệt thành, một vị tông đồ dân ngoai.

Mỗi người chúng ta đều có thể và phải trờ nên một vị tông đồ, một kẻ chinh phục người khác về cho Chúa Giêsu, miễn là chúng ta biết kiên nhẫn và tin tưởng và Chúa.

Cầu nguyện

Lạy Chúa, đã hai ngàn năm trôi qua, thế mà vẫn còn biết bao nhiêu người chưa được đón nhận tin mừng của Chúa. Và như vậy, lệnh truyền của Chúa ngày xưa vẫn còn vang vọng bên tai chúng con: hay ra khơi và thả lưới. Xin cho mỗi người chúng con, bằng một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương, góp phần nhỏ bé vào công cuộc truyền bà đức tin của Giáo Hội.

7.Vâng lời Thầy con thả lưới

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm – ViKiNi)

Dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa, dù chưa biết gì về đạo Thiên Chúa, thế mà đã có những lời nguyện thành khẩn trông cậy trời:

“Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống,

Lấy ruộng tôi cầy, lấy đầy bát cơm,

Lấy rơm đút bếp”.

Lời van xin đơn sơ mộc mạc đó đã nói lên sự bất lực của mình và nhận ra quyền phép vô cùng của Thiên Chúa, đã tỏ bày lòng thành khẩn của mình và nhận biết lòng thương xót vô biên ban ơn giáng phúc của Thiên Chúa. Quyền phép và tình thương của Thiên Chúa đã làm ra mưa, ra nước, ra ruộng, ra rơm. Giới hạn khả năng của con người ở chỗ biết cầy, biết uống, biết ăn, biết lấy rơm đút bếp.

Thiên Chúa đã làm những việc vĩ đại, những thứ căn bản, những thứ nguồn gốc sinh sự sống cho muôn loài muôn vật. Con người phải biết trông cậy, nương nhờ, tham gia, khai triển để làm ăn, nuôi dưỡng và phát triển sinh sống sao cho đáng lãnh ơn trời, chứ đừng phung phí, phá hoại.

Phaolô trước khi trở lại ông đã hăng hái phá hoại, bắt bớ những kẻ khác. Nhưng nhờ ơn Chúa, ông trở lại đạo Chúa, ông đã tham gia vào công trình cứu độ của Chúa, đã làm việc nhiều hơn tất cả các vị khác, nhưng ông đã thú nhận “thật ra không phải tôi, mà là ơn Chúa nơi tôi”, ông cũng nói: “Tôi gieo, anh em tưới và Thiên Chúa cho mọc lên!”

Isaia cũng nhận vô tài bất lực trước Thiên Chúa: “Thánh! chí Thánh! ngàn trùng chí thánh, Chúa tể càn khôn, cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!”. Ông đã thốt ra: “Khốn thân tôi, chết tôi rồi! Tôi là người môi miệng ô uế”. Nhưng nhờ than hồng là lửa tình thương của Chúa, ơn Thánh thần của Chúa đã thanh tẩy ông, ông đã được sạch, được sai đi làm tiên tri và ông đã mau mắn xin vâng: “Có con đây, xin Chúa sai con đi”.

Đặc biệt hôm nay, Đức Giêsu muốn chúng ta đưa mắt nhìn con thuyền Phêrô với cánh buồm no gió căng phồng lướt sóng, xa dần rồi mất hút giữa biển cả bao la. Phêrô sống với cái nghề vô danh, đầy may rủi và luôn phải vật lộn với giông tố nguy hiểm. Vô danh vì công việc nặng nhọc giữa biển khơi, không ai biết tới. May rủi vì chẳng bao giờ nắm chắc kết quả, thất bát thường xuyên, dù cố gắng vật lộn với nghề nghiệp. Con thuyền lại luôn tròng trành trên sóng nước, bảo tố. Mạng sống con người quá mong manh. Phêrô dầu kiên cường, hăng hái, lạc quan chống đỡ, nhiều lúc phải chán nản, thất vọng thở dài: Suốt đêm kéo lưới cực khổ chẳng được gì!

Đang lúc buồn phiền mệt nhọc đó, Đức Giêsu lại còn đến cậy nhờ lên thuyền để giảng cho dân chúng đông nghẹt đứng trên bờ. Tuy nhiên, Phêrô không quản ngại rước Người lên thuyền. Giảng xong, Người cũng không để Phêrô nghỉ ngơi, lại bảo ông chèo thuyền ra khơi thả lưới bắt cá. Dầu cực nhọc và biết rõ Thầy chẳng bao giờ làm người chài lưới. Còn ông rất rành nghề. Thế mà ông chỉ nói: “Thưa Thầy, suốt đêm chúng con vất vả kéo lưới chẳng được gì; nhưng vâng lời Thầy, con xin thả lưới”. Thật lạ lùng trước lòng tin của Phêrô vào Thầy! chính nhờ đức tin đó, Phêrô đã hiến nhà mình làm trung tâm truyền giáo cho thành phố Caphanaum, và các miền lân cận. Người đã ban cho ông một trung tâm truyền giáo vĩ đại là đế quốc Rôma. Ông đã hiến cho Chúa con thuyền bé nhỏ mong manh. Người đã ban cho ông con tầu Giáo Hội vững chắc dù sức hùng satan vẫy vùng như vũ bão, cũng phải đầu hàng. Ông đã hiến cho Chúa nghề đánh cá, Người đã làm cho ông nên ngư ông trên biển cả trần gian. Ông đã hiến cho Chúa trót cả mạng sống, Người đã ban cho ông được đời sống vinh quang muôn đời. Ông đã hiến tất cả cái tạm thời và ông đã được tất cả cái trường tồn vô cùng. Ông đã hiến cái nhỏ bé trần gian và ông đã được chìa khóa vĩ đại trên trời. Nhờ vâng lời Thầy, ông đã được tất cả.

Việt Nam có câu: “Không thầy đố mày làm nên” – “Nhờ thầy mới được làm thầy”. Loài người với nhau, còn phải cần nhau, nhờ nhau như thế mới nên người. Huống chi loài người với Thiên Chúa, Đấng làm nên mình, dựng nên vũ trụ vạn vật, thì loài người phải cần, phải nhờ, phải cầu khẩn Thiên Chúa biết chừng nào! Thế mà, có kẻ đã cả gan tuyên bố như Nietzsche: Thiên Chúa đã chết rồi, thay trời làm mưa, để họ tự tôn mình lên làm Chúa, làm chủ, để làm mưa, làm gió, tung hoành phá hoại khắp nơi. May thay những hạng đó đã chết rồi!

Nếu biết nhận ra mình quá bé nhỏ, quá bất lực để chạy đến cầu khẩn, vâng theo Thiên Chúa, thì họ đã được cứu sống muôn đời.

Thiên tài vĩ đại bậc nhất nhân loại như Newton hơn cả Descartes, Einstein, thế mà ông chỉ dám nói: “Tôi chỉ là một em bé chơi đùa trên bờ biển và thỉnh thoảng nhặt được một hòn sỏi nhẵn hơn, hoặc một vỏ sò đẹp hơn những cái người ta thường tìm thấy, trong khi đó biển chân lý mênh mông trải ra trước mắt nó, vẫn hoàn toàn bí mật, chưa hề bị xâm phạm”. Càng khiêm tốn, ông càng được thế nhân tôn vinh và nhớ ơn, nên trên bia mộ ông được khắc ghi câu: “Let men rejoice that so great a glory of the human race has appeared”: Loài người hãy hân hoan rằng một vinh quang lớn lao bậc ấy của nhân loại đã xuất hiện” (Nguyễn hiến Lê: Gương Hy Sinh – tr. 7).

Isaia cũng đã kêu lên: Khốn thân tôi, chết tôi rồi và được Thiên Chúa cho làm tiên tri vĩ đại. Phaolô đã thú nhận “Tôi là người hèn mọn nhất trong các tông đồ” và đã được ơn Chúa giúp cho làm việc nhiều hơn tất cả các vị khác. Phêrô đã sấp mình dưới chân Đức Giêsu và van xin: “Lạy Thầy, xin tránh xa tôi, vì tôi là kẻ tội lỗi”. Và đã vâng lời Thầy đi thả lưới được muôn linh hồn về cho Chúa.

Lạy Chúa, xin cho con hết lòng khiêm tốn vâng lời Chúa ra khơi biển đời để thả lưới, cho lưới con được đầy bạn hữu biết khẩn cầu và tôn vinh Chúa. Amen.

8.Dám một lần nữa

Có những người đã xả thân nhiều cho Giáo Hội hay cho giáo xứ hoặc để cung cấp một nền giáo dục tốt nhất cho con cái họ, và sau nhiều năm cố gắng họ đã thất vọng, chua xót và ngã lòng. Họ có cảm tưởng như đã làm việc luống công. Họ không thấy xuất hiện những hoa quả tốt đẹp mà lẽ ra công việc của họ phải làm nảy sinh. Và thậm chí thường là điều trái ngược đã xảy ra! những gì họ đã rất vất vả xây dựng đều sụp đổ; những gì tốt nhất họ đã cho con cái họ, thì chúng ta lại vứt bỏ đi.

Phải, những con người mà hôm qua đầy hăng say phấn khởi thì nay lại ủ rũ, buồn sầu! và có lẽ chúng ta cũng thuộc vào số những người ấy. Vậy thì chúng ta hẵy chăm chú nghe lời kinh thánh nói với chúng ta hôm và để cho những lời ấy thấm sâu vào lòng chúng ta. Những lời này có thể gây nên niềm phấn khởi hoặc thoa dịu cõi lòng và trợ giúp chúng ta nhiều.

Sự mệt mỏi của thánh Phêrô.

Không khó khăn gì nếu chúng ta muốn nhận ra một chút kinh nghiệm bản thân trong kinh nghiệm mà thánh Phêrô tông đồ đã trải qua. Suốt đêm ông thả lưới. Hàng chục và hàng chục lần ông đã quăng lưới xuống hồ, nhưng không được gì cả. Không bắt được một con cá nào.

Biết bao nhiêu lần chúng ta đã đọc đi đọc lại cũng những cử chỉ đó, làm đi làm lại cũng những cố gắng đó, nói đi nói lại những lời đó, mà không bao giờ đạt được những điều mình muốn. Không lạ gì sau bao nhêu cố gắng chẳng mang lại kết quả chúng ta kiệt sức rồi và sự mệt mỏi đã xâm chiếm chúng ta hoàn toàn. Không còn chút hy vọng nào nữa.

Tuy nhiê , vì chính Chúa Giêsu yêu cầu, nên một lần nữa Phêrô lại ra khơi thả lưới. Một lần nữa ông làm điều mà ông không muốn làm chút nào cả. Và chính lần đó đã đem lại kết quả. Lưới đầy muốn rách.

Ta hãy nhớ bài học này: những gì tự sức mình chúng ta không làm được, thì chúng ta có thể làm được với sự cộng tác của Chúa. Thường thường, khi con người mệt nhọc nhất, họ họ sắp hỏ cuộc, thì Chúa xuất hiện và ban ơn can đảm cần thiết đẩ một lần nữa họ tiếp tục công việc.

Sự đổi mới của ngôn sứ Isaia và thánh Phaolô.

Sau khi xem xét ngắn gọn kinh nghiệm của thánh Phêrô, ta hãy xem kinh nghiệm của ngôn sứ Isaia và thánh Phaolô tông đồ. Nó rất đáng cho chúng ta quan tâm tìm hiểu. Isaia rất thành thật tuyên bố: “Lạy Chúa, cong không thể nói nhân danh Chúa được. Con không xứng đáng làm ngôn sứ của Chúa”. Thánh Phaolô cũng Không kém thành thật khi người viết: “Tôi là kẻ rốt trong các tông đồ. Tôi không xứng đáng được gọi là tông đồ…Thậm chí tôi là một đứa sinh non”.

Ta biết điều gì sẽ xảy ra cho hay vị này. Cả hai đều được ơn của Chúa thanh tẩy và biến đổi. Cả hai sẽ trở thành những chứng nhân xuất sắc của Thiên Chúa.

Nơi đây nữa có một bài học ta cần đón nhận: dù chúng ta là ai, bất chấp những giới hạn và yếu đuối của chúng ta, chúng ta vẫn là quí báu trước mắt Thiên Chúa, va dều có thể được ân sủng của Ngài biến đổi.

Thánh Phaolô nói: “Những gì tôi đã trở thành, chính là nhờ ơn Chúa mà tôi được như vậy”. Isaia sẽ trả lời Thiên Chúa khi Ngài đang tự hỏi sẽ sai ai đi làm sứ igả cho Ngài: “Lạy Chúa, xin hãy sai con, con sẽ là sứ giả của Chúa”. Thánh Phaolô và Isaia, hai con người được đổi mới.

Những biến cố có ý nghĩa đối với chúng ta.

Nếu xem những biến cố này như là những biến cố đã qua, không có ý nghĩa cụ thể đối với chúng ta thì đó là sai lầm. Trái lại, nếu những biến cố ấy được nhắc lại cho chúng ta là vì chúng soi sáng con đường của chúng ta hôm nay.

Nếu, như thánh Phêrô, chúng ta dám một lần nữa thả lưới xuống hồ… Nếu, như ngôn sứ Isaia và thánh Pholô, chúng ta quay về Chúa và tin tưởng nơi Ngài, thì không gì – thật sự không gì – ngăn cản chúng ta có được kinh nghiệm giống như các Ngài. vì Thiên Chúa không thay đổi. Ân sủng mà trước kia Ngài đã ban cho vẫn là một ơn luôn luôn được ban lại cho người nào một lần nữa….Ơn này sẽ dcban lại cho người nào một lần nữa lại thả lưới…Người nào để cho Ngài gặp gỡ và biến đổi. Ta chớ nghi ngờ: kinh nghiệm cảu Thánh Phêrô, của thánh Phaolô, của ngôn sứ Isaia có thể là kinh nghiệm của chúng ta.

9.Chúa Nhật 5 Thường Niên

HỌ BỎ HẾT MỌI SỰ MÀ THEO NGƯỜI

(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)

Chúa Giêsu ở biển hồ Ghennêxaret. Dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa. Vì dân chúng quá đông, Ngài xuống một trong hai chiếc thuyền đang đậu gần bờ để không bị đám đông chen lấn. Chiếc thuyền đó của ông Simôn. Ông đang giặt lưới.

Giảng xong,Ngài bảo ông: “Hãy ra chỗ nước sâu đánh cá.”

Đây là một lệnh truyền chứ không chỉ là một lời khuyên. Những người đánh cá đang giặt lưới, Ngài thấy điều đó, tức là họ đang thu dẹp để nghỉ ngơi, nhưng Ngài vẫn bảo họ ra khơi đánh cá. Điều nầy cho chúng ta thấy rằng Ngài đã chủ ý ra lệnh cho họ, vì Ngài đang định một điều gì khác quan trọng.

Simôn trả lời: “Thưa Thầy, chúng con vật vả suốt đêm mà không bắt được gì”. Nhưng ông chấp nhận: “Vâng lời Thầy, tôi thả lưới”.

Chúa Giêsu muốn kêu gọi ông Simôn và các bạn ông, nhưng trước khi làm việc đó, Ngài muốn cho các ông thấy quyền năng lạ lùng của Ngài.

Simôn chèo thuyền ra và bủa lưới, và lạ thay! Trong chốc lát, cá đầy lưới đến nỗi phải nhờ một thuyền bạn chở cá về.

Trong đời chài lưới của ông chưa từng thấy được cá nhiều và nhanh như thế. Ông cảm nhận đây không phải là một việc bình thường mà ông vẫn thường làm, nhưng là một dấu hiệu lạ lùng mà ông chưa từng thấy và vượt xa những gì ông biết được. Đứng trước sự lạ đó, Simôn kinh sợ. Người Do thái sống trong một thế giới vừa tự nhiên vừa linh thiêng. Họ vẫn còn giữ tâm thức về mối liên hệ với Thiên Chúa. Họ luôn sợ hãi khi đứng trước những dấu lạ bất ngờ mà họ không giải thích được và vì thế họ nghĩ là do Thiên Chúa. Vẫn cảm thấy bàn tay Thiên Chúa luôn can thiệp vào cuộc sống của họ, như đã can thiệp vào lịch sử của cha ông họ. Simôn mang một tâm trạng như thế, do vậy ông kinh sợ trước mẻ cá lạ lùng vừa mới bắt được. Ông cảm nhận đây không phải là một việc bình thường nữa mà là một hiện tượng vượt xa tầm tưởng tượng của ông. Ông nhìn Chúa Giêsu như Đấng Thần linh, không phải người thường.

Ông mang tâm trạng của Môsê trước ngọn lửa tỏa hào quang trong bụi gai, tâm trạng của tiên tri Isaia trong Đền thờ khi diện kiến với Chúa đang ngự trên ngai. Ông phản ứng như Môsê và Isaia, ông sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và nói: “Xin Thầy xa con vì con là kẻ tội lỗi”. Đứng trước một Đấng cao cả như thế, ông cảm thấy mình tội lỗi và bất xứng.

Nhưng Chúa Giêsu bảo ông: “Đừng sợ! Từ nay anh sẽ là người lưới người ta”. Đây là mệnh lệnh thứ hai mà Simôn nhận từ nơi Chúa Giêsu. Mệnh lệnh đầu là: “Hãy ra khơi đánh cá”. Mệnh lệnh thứ hai là: “Anh là người lưới người ta”.

Đứng trước hai mệnh lệnh ấy, Simôn luôn cảm thấy mình bất lực, bất xứng.Chính vì thế mà Chúa đã chọn ông.

Chúng ta cũng thế thôi. Đứng trước lời mời gọi của Chúa, chúng ta không ai xứng đáng cả. Chỉ vì thương mà Chúa chọn chúng ta cộng tác với Ngài. Chính Chúa đã nói: “Không có Thầy, chúng con không thể làm được việc gì”. Và Ngài cũng dạy chúng ta: “Sau khi đã làm xong mọi sự, chúng con hãy nhận rằng mình chỉ là tôi tớ vô dụng”.

Nhiều người trong chúng ta, sau khi thành công được một vài công việc, thường khoác cho mình vòng hoa chiến thắng. Chúa chỉ có thể hoạt động dể dàng trong những tâm hồn nhỏ bé. Chúa chỉ sử dụng những con người biết vâng phục như Simôn. Chính những người đó mới mang lại nhiều kết quả cho các linh hồn.

Các thánh chính là những con người nhỏ bé và khiêm tốn. Thánh Maria Vianney, cha sở họ Ars là một người luôn cảm thấy mình tội lỗi và dốt nát. Ngài đã được Giáo Hội xem như một “kẻ lưới người” vĩ đại.

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu luôn thấy mình bé bỏng trong tay Cha trên trời, đã trở nên gương mẫu cho bao thế hệ kitô hữu, là thầy dạy con đường yêu mến Chúa, là một nhà truyền giáo không bôn ba ngoài thế gian, nhưng là một nhà truyền giáo lừng danh.

Thánh Luca ghi lại: “Họ bỏ hết mọi sự mà theo Người”. Đây chính là điều kiện quan trọng nhất.Người thanh niên giàu có, đầy thiện chí đã đến gặp Chúa Giêsu và được Ngài mời gọi: “Ngươi hãy về bán hết của cải, phân phát cho những người nghèo rồi đến đây theo Ta”. Người thanh niên thiện chí kia không dám bước theo Ngài vì không thể từ bỏ gia sản vật chất để đổi lấy kho tàng quí báu nhất là Ngài.

Lời mời gọi ấy được gởi đến, không phải chỉ cho những tu sĩ hay linh mục mà thôi, mà được gởi đến cho mọi người đã lãnh nhận kho tàng đức tin. Công Đồng Vatican II đã nói đến nhiều lần về ơn gọi của giáo dân là “trở nên nắm men trong bột, góp phần vào việc thánh hóa thế giới từ bên trong, và như thế, họ làm cho người khác nhận biết Đức Kitô… (Hiến chế Giáo Hội số 31). Như thế có nghĩa là họ phải là những kẻ lưới người ta. Đặc biệt hơn, Công Đồng dành riêng một Sắc Lệnh để nói về Tông Đồ giáo dân, vạch rõ những nhiệm vụ và trách nhiệm của giáo dân phải tích cực tham gia vào việc truyền giáo của Giáo Hội.

Hiện nay, chúng ta vui mừng thấy rằng nhiều giáo dân đã nghe theo tiếng gọi đó và đã dấn thân vào việc “lưới người ta”, nhưng vẫn còn quá ít so với nhu cầu. Chúng ta có cả một thế giới chưa biết đạo để Phúc Âm hóa. Vậy chúng ta cần phải làm gì?

Chúng ta được mấy người dám bỏ mọi sự mà theo Ngài? Ngay cả một số đã tự nguyện dấn thân vào đời sống tu trì, nhưng vẫn “cầm cày còn ngó lại sau lưng”, thì huống hồ là giáo dân!

Hãy cầu nguyện, xin Chúa sai nhiều thợ gặt đến trong ruộng lúa, sai nhiều tay chài lưới dám xông pha vào biển cả thế gian đang từ chối Thiên Chúa để bủa lưới. Hãy cầu xin cho mỗi người chúng ta đủ can đảm nghe theo tiếng gọi của Chúa.

Chúa Giêsu đang kêu gọi chúng ta bằng chính sự có mặt của Ngài nơi bàn tiệc yêu thương nầy. Ngài đến như một của ăn để thâm nhập một cách hết sức thực tế vào mỗi người chúng ta, mời gọi chúng ta dành cho Ngài cuộc sống nhỏ bé nầy, thời gian sống cơ cực nầy, để làm cho Nước Cha trị đến. Đứng trước tình yêu tha thiết của Ngài, chối từ là đắc tội. “Hãy đứng lên, chúng ta đi thôi!”.

10.Chúa Nhật 5 Thường Niên

HỌ BỎ HẾT MỌI SỰ MÀ THEO NGƯỜI

(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)

Chúa Giêsu kêu gọi Simon. Tất cả trình thuật nầy kết liễu một cách bất ngờ là Chúa Giêsu kêu gọi Phêrô và ông đã bỏ mọi sự mà theo Thầy.

Thánh Luca cho thấy Chúa Giêsu bắt đầu hoạt động, Ngài rao giảng cho dân, và dân chúng chen lấn nhau để nghe lời Ngài. Vì quá đông người, Chúa Giêsu phải nhờ một chiếc thuyền đậu gần đấy để có thể giảng một cách thoải mái hơn. Ngài xuống chiếc thuyền của Simon, và ngồi trên thuyền mà giảng dạy. Mấy ngư phủ đã bỏ thuyền để giặt lưới. Simon nghe giảng với mọi người trong khi giặt lưới.

Giảng xong, Ngài bảo ông Simon: “Hãy ra khơi thả lưới”. Đây là một đề nghị không thích hợp tí nào. Simon trả lời: “Thưa Thầy, chúng tôi đã lao lực suốt đêm mà không bắt được gì cả, nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. Họ là những ngư phủ lành nghề, suốt bao nhiêu năm họ sống bằng nghề đánh cá, thường họ chỉ đánh lưới vào ban đêm. Giờ nầy, làm sao đánh cá? Tại sao ông lại vâng lời Thầy? Chúng ta không thể biết. Lạ một điều là Thầy cùng đi với họ trên thuyền ra khơi. Lại là một vấn đề khác nữa.

Chúng ta nhớ rằng, Chúa Giêsu đã biết Simon từ khi Anrê đã giới thiệu ông với Chúa và Ngài đã đổi tên ông thành Phêrô. Chúa Giêsu đã đến nhà ông để chữa cho bà nhạc gia của ông và nhiều người trong ngày đó. Vì thế, Simon đã có một liên hệ nào đó với Chúa và đã chứng kiến những phép lạ của Ngài. Hôm nay, ông bước vào một giai đoạn quyết định của đời ông, ông bỏ mọi sự mà theo Ngài.

Sau khi giảng cho dân chúng, Chúa bảo Simon ra khơi thả lưới. Đây là một việc làm vô lý, vì giờ nầy không thể đánh cá. Ông nói rõ là ông đã lao lực suốt đêm mà không được gì cả, thì làm sao giờ nầy lại có cá? Nhưng ông vâng lời, và có thể trong thâm tâm, ông vẫn còn nghi ngại là sẽ mệt mõi một phen nữa mà không kết quả gì. Nhưng vừa bủa lưới, cá vào đầy đến nỗi hai thuyền chở cá gần chìm. Đứng trước mẻ cá lạ lùng đó, Simon giựt mình kinh hãi sụp lạy dưới chân Thầy và nói: “Xin Thầy hãy xa con, vì con là người tội lỗi”. Trong suốt bao nhiêu năm đánh cá, chưa bao giờ ông được cá nhiều, trong một thời gian ngắn như thế. Không mệt nhọc cũng không khó khăn gì. Đây không còn là một việc bình thường nữa mà là một dấu lạ!

Người Do Thái, khi đứng trước một điềm lạ vượt tầm tưởng tượng như thế luôn âu lo sợ hãi vì họ nghĩ rằng Chúa đang hiện diện. Môsê, đứng trước bụi gai bốc lửa đã kinh hãi. Tiên tri Isaia trong Đền Thờ đã tưởng mình chết mất, vì không ai thấy Chúa mà còn sống, Kinh Thánh đã nói như thế. Simon cũng thế, ông nghĩ rằng, Thầy không là người tầm thường như ông tưởng mà là hiện thân của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã trấn an ông và trao cho ông một sứ mệnh khác: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ lưới người ta”, nghĩa là anh không còn làm nghề đánh cá nữa mà là người bủa lưới chinh phục con người. Mẻ cá lạ lùng kia là một bằng chứng. Sứ mệnh mới sẽ là như thế.

Tại sao có được cá nhiều như thế? Vì Simon đã vâng lời Thầy. Điều nầy cho thấy, kết quả của những công lao khó nhọc của chúng ta không là gì cả, chỉ cần vâng lời Thầy. Kết quả hay không là do Chúa chứ không do cố gắng của chúng ta: Chúng tôi lao lực suốt đêm mà không bắt được gì cả”. Chúng ta chỉ là dụng cụ trong tay Chúa, là những đầy tớ vô dụng.  Chính Chúa dùng chúng ta và nếu chúng ta đi theo Ngài, vâng theo ý Ngài, chúng ta mới mong thâu được kết quả. Chúng ta có giỏi đến đâu, có bao nhiêu phương tiện kỹ thuật đi nữa nếu chúng ta không vâng lời Thầy như Phêrô, kết quả sẽ chẳng bao nhiêu. Chúng ta có xây bao nhiêu nhà thờ, nếu chỉ làm theo ý mình, mọi sự chỉ là công dã tràng.

Simon đứng trước mặt Chúa, tự nhận mình là kẻ tội lỗi. Chính sự khiêm tốn thành thực đó là yếu tố quan trọng hơn mọi khả năng hay tài khéo. Cha xứ Ars là thánh Gioan-Maria Vianney chỉ là một linh mục kém về khả năng trí thức, không có tài ăn nói, giọng ngài the thé rất khó nghe, nhưng đã chinh phục cả nước Pháp. Têrêxa Hài Đồng Giêsu là một nữ tu tầm thường, nhưng đã thành tiến sỉ Hội thánh, là bổn mạng của các xứ truyền giáo. Những con người khiêm tốn, nhỏ hèn trước mặt thế gian, nhưng đã trở thành kẻ lưới người ta. Các ngài chỉ biết nghe theo lời Chúa thôi, nhìn nhận sự hèn kém của mình, để cho Chúa hoạt động trong mình, hoàn toàn dưới quyền sử dụng của Chúa. Chúng ta chỉ thành công khi bước vào con đường khiêm tốn đó.

Simon sợ sệt ngỡ ngàng trước mẻ cá lạ lùng. Chúa Giêsu bảo ông: “Đừng sợ!” Con người khiêm nhường không phải là con người nhát đảm, vì họ không dựa vào tài khéo của mình mà dựa vào ơn Chúa. Họ là những người tay không, không vũ khí, không phương tiện, bàn tay trắng, họ đã làm nên những việc lạ lùng. Thánh Phanxicô Assisi rao giảng tình yêu Chúa bằng sự nghèo khó tột cùng và ảnh hưởng của ngài vẫn còn đến hôm nay. Hơn ai hết, Mẹ Maria là con người âm thầm, không rao giảng, không làm phép lạ, Mẹ chỉ là Đầy tớ khiêm hạ của Chúa, Mẹ trở thành Mẹ của các tín hữu, Nữ Vương trên trời dưới đất.

Điều kiện khác để thành công là “bỏ mọi sự mà theo Ngài.

Chúa kêu gọi không chỉ Phêrô mà tất cả những ai đã biết Chúa, đã nhận được hồng ân đức tin. Phêrô và các Tông đồ chỉ là những của đầu mùa. Sau nầy Giáo Hội tiếp nối công trình của các ngài, bủa lưới khắp nơi trên thế giới, và vẫn còn nhiều cá chưa vào trong lưới. Chúa bảo ra khơi. Chúng ta có ra khơi không hay chỉ ở trong ao tù của chúng ta? Đức Thánh Cha Phanxicô đã luôn nhắc đi nhắc lại: Phải đi ra ngoại biên. Ngài nói: “Tôi thích thấy một Giáo Hội bầm giập vì đã đi ra hơn là một Giáo Hội ở lì trong tháp ngà của mình”. Chúng ta e ngại vì không muốn dấn thân cho các linh hồn. Chúng ta sợ bị người ta cười chê, sợ bị từ chối. Chúa Giêsu đã nói: “Thầy sai anh em như chiên giữa sói”. Đi ra, nhưng phải đơn sơ như chim câu và khôn khéo như rắn”. Thế giới duy vật hôm nay không dễ chấp nhận Tin Mừng của Chúa và chúng ta vẫn bị bách hại dưới nhiều hình thức.

Tại sao chúng ta làm việc hết mình mà vẫn không mấy kết quả? Trong những dịp lễ như lễ phong chức giám mục, chúng ta thấy một số lớn các giám mục, linh mục, tu sĩ, hàng ngàn người, những con người ưu tú của Giáo Hội, tại sao với một lực lượng hùng hậu như thế, chúng ta chưa chinh phục được thế giới quanh ta? Có lẽ chúng ta cần xét lại. Phêrô đã đánh được thật nhiều cá mà không cực khổ nhiều, chỉ vì ông đã vâng theo lời Thầy. Chúng ta thực sự có vâng theo lời Thầy không? Hay chúng ta chỉ làm theo khả năng riêng của mình, theo ý muốn cá nhân? Chúng ta có thực sự bỏ mọi sự để theo Thầy không? Hay chúng ta theo Thầy để được những ưu đãi như các tông đồ xưa, họ tranh nhau để xem ai là người lớn nhất?

“Bỏ mình, vác thập giá và theo Thầy”, đó mới là con đường thành công. Không dễ dàng như chúng ta nói, nhưng ai bền đỗ đến cùng mới thấy những mùa xuân đầy hoa trái. Từng ngày, đi vào con đường của Chúa, từng ngày, vâng theo lời Thầy.

Đừng sợ! Thầy đây. Chúa Giêsu dẫn chúng ta vào những con đường gai góc, nhưng chính Ngài đi trước. Ngài đã bỏ tất cả để theo chúng ta trước. Ngài là bảo đảm vững chắc nhất, Ngài vẫn trung thành khi chúng ta bất trung. Ngài vẫn đợi chờ nhẫn nại khi chúng ta ngại ngùng không dám bước. Ngài đến với chúng ta hằng ngày trong Bí tích Thánh Thể, nuôi dưỡng sự yếu đuối của chúng ta bằng chính sức mạnh thần thiêng của Ngài. Chúng ta ăn lấy Ngài để cùng Ngài dấn thân hơn. Tình yêu của Ngài vẫn còn đó, chờ đợi, khuyến khích, chúng ta hãy vững tin. Chúng ta chỉ mạnh khi chúng ta biết mình yếu đuối như thánh Phaolô đã cảm nghiệm. Cá sẽ đầy thuyền.

11.Chúa Nhật 5 Thường Niên

KITÔ HỮU LÀ LOAN BÁO LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

Ba bài Lời Chúa hôm nay nói về 3 bài sai cho ba người được Chúa chọn và sai đi nói về Lòng Thương Xót Chúa: Isaia trong bài đọc 1, Phaolô trong bài đọc 2 và Simon Phêrô trong bài Tin Mừng. Isaia tự thuật về chính ơn gọi làm ngôn sứ của ông. Chúa đã gọi ông. Ông đã can đảm, sẵn sàng đáp lại: “Tôi đây, hãy sai tôi đi”. Thái độ của Isaia chính là thái độ của Đức Giêsu sau nầy khi Ngài đi vào thế gian: “Này con xin đến để thực thi ý Chúa” (Dt 10,9). Phaolô cho biết khi Chúa hiện ra với ông trên đường đi Đamas và chọn ông làm tông đồ cho dân ngoại, ông khiêm tốn cho mình là một tông đồ hèn mọn nhất, chẳng đáng gọi là tông đồ vì đã bắt bớ Giáo Hội. Ông coi đây là một ân huệ Chúa ban và không dám uổng phí, ông hết lòng hết sức và sẵn sàng đáp lại tiếng gọi ra đi loan báo Lòng Thương Xót Chúa các các dân ngoại để họ tin vào Chúa và được cứu độ. Còn Simon Phêrô đã được Chúa gọi một cách rõ ràng và công khai sau mẻ cá thật nhiều đến nỗi gần rách lưới, Chúa Giêsu nói với ông: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” Ông Si-môn đáp: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. “Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.”

Chính Thiên Chúa, bằng cách trực tiếp hay gián tiếp, đã chọn gọi những người làm việc cho Ngài, làm cộng tác viên của Ngài trong công trình thương xót cứu chuộc nhân loại. Ngài đã gọi các tiên tri, các tông đồ, đã gọi bao nhiêu người khác, đã gọi chính chúng ta khi chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Qủa thế, Giáo lý Hội Thánh dạy rằng: “Người đã chịu Phép Rửa trở thành phần tử của Hội Thánh, họ không còn thuộc về mình nữa, nhưng thuộc về Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta. Từ nay, họ được mời gọi để phục tùng lẫn nhau và phục vụ người khác trong tình hiệp thông của Hội Thánh” (số 1269). Như vậy, hôm nay Chúa cũng kêu gọi chúng ta hãy thu phục lòng người ta. Làm thể nào để thu phục lòng người ta? “Hãy thương xót như Chúa Cha”. Chúa Cha thương xót chúng ta thế nào?

Trong Tông Sắc Dung Nhan Lòng Thương Xót, Đức Thánh Cha trả lời rằng nhìn vào Chúa Giêsu và dung nhan nhân hậu của Ngài, chúng ta thấy được Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, là tình yêu tự hiến, viên mãn, hữu hình và chạm tới được bởi vì chính Ngôi Con làm người đã hoàn tất mọi hành vi bằng tình yêu, trong tình yêu và qua tình yêu. Vì thế, trong Ngài, tất cả đều nói về Lòng Thương Xót (số 8§1). Qủa thế, lược lại những trang Tin Mừng, chúng ta thấy rõ ràng cử chỉ tình yêu thương xót của Chúa Giêsu: chạnh lòng thương, chữa bệnh, trừ quỉ, cho ăn, yêu thương, tha thứ, phục sinh kẻ chết… Thật vậy, Thiên Chúa luôn tha thứ, cảm thông và thương xót. Đó là cốt lõi của Tin Mừng và Đức Tin. Lòng Thương Xót tỏ ra sức mạnh vượt thắng tất cả, tỏ ra niềm an ủi khi tha thứ (số 9§1). Chúa Giêsu nói đến hai dụ ngôn: tha thứ mấy lần? (x. Mt 18, 21-22) và tên mắc nợ không biết thương xót (x. Mt 18, 23-33) để nhấn mạnh về tha thứ của con người. Hãy tha thứ cho tha nhân vô hạn như Chúa tha cho ta, nếu không Cha trên trời cũng sẽ đối xử với ta như vậy (x. Mt 18, 35). Để tỏ ra là những người con đích thực của Thiên Chúa giàu Lòng Thương Xót, chúng ta cũng phải sống Lòng Thương Xót trong Năm Thánh này bằng việc tha thứ để có được bình an và hạnh phúc vì vậy,”Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4, 26) và “Phúc thay ai thương xót, vì họ sẽ được xót thương” (Mt 5,7). Cuối cùng, Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định Lòng Thương Xót là trách nhiệm của Thiên Chúa, luôn là hành động, là thái độ thường ngày, cụ thể và rõ ràng. Từ đó, con cái Thiên Chúa cũng nhận thấy trách nhiệm của mình mà thương xót nhau, như “nằm trên một cùng bước sóng” với Lòng Thương Xót của Thiên Chúa vậy (số 9§4).

Lòng thương xót Chúa đã làm người và hôm nay hiện diện giữa chúng ta trong Thánh Lễ, trong bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu Thánh Thể là lòng thương xót Chúa ở giữa chúng ta. Vậy, là Kitô hữu, chúng ta hôm nay được Chúa sai đến hiện diện giữa xã hội này để Tân Phúc Âm hóa xã hội. Đức Thánh Cha Phanxico đã nói: “Tân Phúc Âm hóa là thế này: Nhận ra tình yêu thương xót của Thiên Chúa nhờ đó chúng ta nên khí cụ của ơn cứu độ cho anh chị em mình. Con người ngày nay mong đợi điều gì nơi Giáo Hội: đó là Giáo hội đồng hành với họ, làm chứng về điều mình tin, sống tinh thần hiệp nhất đại đồng, đặc biệt liên đới với những người nghèo khổ, cô độc và bị loại trừ. Thế giới hôm nay có quá nhiều người nghèo! Nghèo vật chất. Nghèo tâm linh. Họ đang chờ Tin Mừng có sức mạnh giải thoát vùng ngoại vi do một xã hội vô thần, thao túng gây nên. Họ đang chờ đợi sự gần gũi và liên kết của chúng ta! Nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho chúng ta là bước trước hết khơi gợi lên nơi ta biết trợ giúp người khác. Thiên Chúa đã đến để cứu chúng ta khỏi tình trạng yếu nhược của mình. Và ơn cứu độ của Ngài làm cho chúng ta nhận ra sự hiện diện và sự gần gũi thiết thân của Ngài.”

Trong Thánh Lễ này, chúng ta hãy sốt sắng cảm tạ Chúa đã thương xót chúng ta và thế giới, đồng thời dâng Chúa quyết tâm để đẩy còn thuyền đời ta ra biển xã hội và dùng lời nói và đời sống của chúng ta loan báo lòng thương xót cho mọi người. Amen.

12.Tin vào sức mạnh Lời Chúa

(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)

Bài thánh ca “Tin vào tình Chúa” của Cha Mi Trầm viết rằng: “Người đời dạy con phải sống khôn ngoan nhưng Chúa dạy con phải sống điên dại.. Người đời dạy con tin vào quyền lực nhưng Chúa dạy con tin vào tình thương. 2. Người đời dạy con nắm giữ thật chặt nhưng Chúa dạy con phát hết cho người. Người đời dạy con sẵn sàng dừng lại nhưng Chúa dạy con sẵn sàng mà đi. 3. Người đời dạy con hãy tin tưởng mình nhưng Chúa dạy con phó thác nơi Ngài.. Người đời dạy con sống vì hiện tại nhưng Chúa dạy con sống vì ngày mai. ÐK: Xin cho con tin vào tình Chúa mà dấn bước đời con. Xin cho con tin vào tình Chúa mà đánh liều đời con”. Quả thế, chủ nghĩa cá nhân và thực dụng của xã hội hôm nay gây ra nhiều mối nguy hại cho cuộc sống, nhất là chúng làm cho các mối tương quan con người với nhau, giữa con người với thiên nhiên và giữa con người Thiên Chúa bị đảo lộn. Thậm chí, nhiều khi nó làm cho chúng ta không nhìn thấy Chúa hiện diện trong đời sống chúng ta và Lời của Ngài không ứng nghiệm nữa! Chính vì thế, Lời Chúa hôm nay, đầu năm Kỷ Hợi này cho thấy Chúa luôn hiện trong mọi cảnh huống của cuộc sống của chúng ta và mời gọi chúng ta phó thác tin vào Lời Chúa vì Lời có sức mạnh đem lại hạnh phúc đích thực cho chính mình, gia đình, giáo xứ, giáo hội và xã hội của chúng ta ngay ở đời này và đời sau.

Trang Tin Mừng chúng ta vừa nghe kể rằng Chúa Giêsu xuống thuyền của ông Phêrô, thuyền đó là thuyền đánh cá của ông Phêrô, tức là Người đi vào cuộc sống làm ăn hằng ngày của ông. Người bảo ông Phêrô chèo ra chỗ sâu, thả lưới bắt cá, đó là hành nghề của ông. Dựa vào sự hiểu biết, kinh nghiệm tay nghề của mình, ông tự nhủ làm sao Chúa Giêsu biết nghề này sành điệu bằng mình, vì Chúa Giêsu làm nghề thợ mộc mà. Cho nên, Phêrô thành thực nói cho Thầy biết rằng điều Thầy yêu cầu là hoàn toàn sai lầm, “”Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”. Nhưng, ông Phêrô tin vào sức mạnh kỳ diệu lời của Thầy mình, Lời đã chữa lành cho mẹ vợ khỏi cơn sốt, Lời trục xuất tên quỷ, Lời chữa lành nhiều người đau yếu khác… “Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. Cho nên, ông gạt bỏ những kinh nghiệm riêng tư, quên đi sự mệt nhọc suốt đêm vất vả nhưng chẳng bắt được con cá nào, để rồi vâng lời Thầy thả lưới trong thái độ tự do, tín thác. Qủa thực, Chúa đã thoả đáp lòng tin của ông bằng mẻ cá lạ lùng đồng thời kêu gọi ông làm ngư phủ lưới người. Nghĩa là từ nay Đức Giêsu không chỉ là một vị thầy, nhưng còn là Chúa của ông.

Tiên tri Isaia và Thánh Phaolô trong hai bài đọc hôm nay đã tin và hiểu rõ sức mạnh lời Chúa nên với sự can đảm, họ đã vất bỏ mọi sự, cất đi những hàng rào khép kín của tính hư tật xấu, tính tự cao tự đại, để chọn Chúa làm gia nghiệp và ra đi rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng cứu độ dù phải đối đầu với nhiều mưu mô xảo quyệt của thế gian, bất chấp những cám dỗ bị lây nhiễm, bị hiểu lầm, hay thất bại dù phải chết vì Đạo hầu mong Lời Chúa được chiếu sáng và Nước Chúa được rộng lan khắp nơi.

Còn chúng ta thì sao? Nhờ việc lắng nghe Lời, sống và thi hành Lời Chúa và giáo huấn của Giáo hội, chúng ta vững tin và đủ sức để đương đầu với những mối nguy hiểm làm lây chuyển đức tin của chúng ta, và nhờ sức mạnh của Lời Chúa, chúng ta có thể phá toang hoang những ngục tù nội tâm vô hình: đó là tính kiêu căng, lòng hận thù, sự gian ác hay mưu mô xảo trá gian tà… Cho nên, Thánh Phaolô trong bài đọc hai nói rõ ràng rằng nhờ Tin Mừng mà các ngài loan báo mà chúng ta hôm nay được cứu thoát, nếu chúng ta giữ đúng như lời ngài đã loan báo, bằng không thì chúng ta có tin cũng vô ích.

Con thuyền đức tin của chúng ta đã ra khơi, có người một năm, hai năm, 5 năm, 15 năm, 20 măm… Chắc chắn chúng ta gặp không ít nhiều khó khăn thiếu thốn và không thiếu những sóng gió bão táp của biển đời, biển tình, biển kinh tế… những điều đó có lúc làm chúng ta cũng e ngại, lo âu hoặc hoảng sợ, hốt hoảng chao đảo dễ mất đức tin nhưng, với Lời Chúa hôm nay, chúng ta hãy tín thác, cậy trông vì có Chúa Giêsu cùng thuyền cùng hội với chúng ta mà đồng hành bên đỡ phù trì thì chắc chắn con thuyền đức tin của chúng ta dẫu có chông chênh nhưng không bao giờ chìm. Thế nhưng, tin vào Chúa và sức mạnh của Lời Ngài đòi hỏi chúng ta từ bỏ tất để theo Ngài, bỏ tất cả ở đây là đặt tất cả dưới Chúa và sử dụng chúng theo ý Ngài để sống và làm chứng cho Chúa và chân lý của Ngài giữa lòng nhân thế hôm nay. Cho nên, dù ai, hạn người nào thiên tài hay bất tài, Chúa vẫn yêu thương, tín nhiệm và trao ban cho ta muôn vàn ân sủng và sứ mạng rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Vì Chúa muốn dùng chúng ta như khí cụ bình an của Chúa để đem yêu thương vào nơi oán thù, đem an bình vào nơi tranh chấp đem chân lý vào chốn lỗi lầm, đem tin kính vào nơi nguy nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng ngõ hầu toàn thể mọi người trên đất nước chúng ta và toàn thể thế giới sống chan hoà yêu thương nhau như anh em một nhà, “tứ hải giai huynh đệ”.

Ước gì qua lời Chúa hôm nay, tựa như Phêrô, tiên tri Isaia và Phaolô, xin cho chúng ta biết tin tưởng tuyệt đối vào Lời Chúa mà dấn bước đời ta theo Chúa là chính nguồn tình yêu, sự thật và sự sáng Chúa. Đồng thời xin cho chúng ta sự khiêm nhường để nhận biết những yếu đuối của chúng ta, và tin vào sức mạnh của Lời Chúa sẽ giúp chúng ta vượt lên yếu đuối, những lần vấp ngã vì chưng Chúa đang ở với chúng ta và quyền năng của Lời Chúa có hiệu lực trong đời sống chúng ta.

13.Ra khơi, mà thả lưới!

(Suy niệm của AM Trần Bình An)

Chủ đề tĩnh tâm Giáo phận năm nay là truyền giáo. Đức Giám mục hô hào đẩy mạnh phong trào truyền giáo. Phương pháp truyền giáo là phát triển Dân Sinh, Dân Trí và Dân Đạo…. Bất ngờ ngài nói với anh em một câu của một vị thừa sai nào đó: “Linh mục Việt Nam chỉ có tài coi sóc họ đạo, chứ không biết gầy dựng họ đạo”.

Vì tự ái dân tộc, mình giơ tay và đứng bật lên như m­ột cái lò xo: “Thưa Đức cha, không phải linh mục VN không biết gầy dựng họ đạo, nhưng vì chưa có “Bài sai” (Văn thư bổ nhiệm một linh mục do Đức Giám Mục ấn ký) của Đức Cha.” Mình hung hăng chừng nào thì Đức Giám mục bình tĩnh chừng ấy. Với giọng trầm buồn, ngài thủng thẳng trả lời: “Tôi biết đi truyền giáo thì thiếu thốn và cực khổ nhiều lắm, nên không nỡ tâm sai các cha đi. Cha nào tình nguyện thì tôi mới dám. Vậy cha nào tình nguyện thì giơ tay lên.” Mình đếm được sáu cánh tay giơ thật cao và thật thẳng: Hai cha già, hai cha sồn sồn, và hai cha trẻ. Đức Giám mục cười và khôi hài: “Các cha đi truyền giáo thì bỏ họ đạo, bỏ chủng viện, bỏ trường học cho ai?”

Cả hội trường cười hì một cái. Thế là đánh trống bỏ dùi. Vấn đề truyền giáo chỉ được nêu lên như một sự gợi ý và thăm dò. Rồi đây, sau tuần tĩnh tâm, ai nấy lại trở về với họ đạo của mình và tiếp tục rao giảng Tin Mừng cho ng­ười đã nghe. Tuyệt nhiên không nghĩ gì, không làm gì cho người lương dân, những người chưa bao giờ được nghe Tin Mừng.

Viết đến đây, mình liên tưởng đến Đức Giêsu khi Ngài đến rao giảng tại Caphácnaum. Sau khi được nghe giảng và chứng kiến nhiều phép lạ, dân thành Caphácnaum nảy ra một sáng kiến: “Xin Thầy ở lại với chúng tôi, đừng đi đâu nữa.” Câu nói của họ hàm nhiều ý nghĩa: Thứ nhất, vì quá thương, họ muốn Chúa ở lại với họ. Họ không muốn Chúa lúc nào cũng đầm đìa mồ hôi, ăn không trọn bữa, ngủ không đầy giấc, do các chuyến đi liên tục. Họ muốn có một “ngôi nhà xứ” có đủ tiện nghi cho Chúa sử dụng. Họ sẽ kiếm cho Chúa một bà bếp nấu ăn thật giỏi, có thể đó là mẹ vợ của Simon. Thứ nhì, họ muốn gởi gắm sự nghiệp của mình vào sự nghiệp của Chúa. Caphácnaum sẽ là trung tâm rao giảng, trung tâm trị bệnh. Caphácnaum sẽ trở thành thủ đô của nước “Israel mới.” Sự nghiệp của Chúa sẽ gắn liền với sự nghiệp vẻ vang của Caphácnaum. “Xin Thầy ở lại với chúng tôi, đừng đi đâu nữa!” Ôi thương quá là thương ! Nghe mà nẫu cả ruột ! Đó là một chước cám dỗ, chước cám dỗ dễ thương vô cùng. Để đối phó, Chúa đã khẳng định: “Ta còn phải loan báo Tin Mừng cho các thành khác nữa. Chính vì thế mà Ta được sai đến.” Sau đó Chúa đã đi thật, và đi mãi.

Chúa ơi, Chúa đã giã từ Caphácnaum để đi loan báo Tin Mừng, còn chúng con thì đã chui vào đó để “Ngồi Họ.” Quả vậy, Giáo hội của Chúa có một truyền thống yêu thương giáo xứ. Con cái của Chúa quây quần bên nhau thành một xóm đạo…(Lm Piô Ngô Phúc Hậu, Giáo xứ Caphácnaum, Nhật ký Truyền Giáo)

Tin Mừng Thánh Luca Chúa nhật hôm nay tường thuật mẻ cá ban ngày trúng đậm, khiến ông Simon nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa toàn năng, cảm thấy mình yếu hèn tội lỗi, bất xứng gần gũi Người. Nhưng Đức Giêsu đã hân hoan thâu nạp hai ông Anrê, và ông Simon, và các bạn chài con ông Dêbêđê, là hai ông Giacôbê và Gioan, làm những môn đệ đầu tiên thực hiện nhiệm vụ “chài lưới bắt người.” (theo bản dịch của Lm Nguyễn Thế Thuấn, DCCT)

Lời Chúa hôm nay còn muốn nhắn gửi đến tất cả Kitô hữu, không phân biệt chủ chăn hay con chiên, sứ mạng truyền giáo rất cấp bách, đòi hỏi toàn thể tín hữu dấn thân vào đời, vào nơi đông đảo quần chúng chưa được vinh dự biết đến Tin Mừng, mặc dù ở vùng xa xôi, hẻo lánh, như ngoài khơi biển cả. Can đảm noi gương Đức Giêsu rời khỏi “Giáo xứ” Caphácnaum thuần đạo vẻ vang, để còn “loan báo Tin Mừng cho các thành khác nữa.”

Ra khơi

Sau khi giảng dạy cho dân chúng từ trên thuyền neo gần bờ, Đức Giêsu bảo ông Simôn: “Ra khơi, mà thả lưới đánh cá!” Lệnh truyền súc tích, vắn gọn, rõ rang, chính xác, không thừa hay thiếu chữ nào. Người đi rao giảng không được nấn ná, ở lì, cắm dùi một chỗ Tin Mừng đã được loan báo, đã hình thành cơ cấu và sinh hoạt tâm linh.

Ra khơi là mệnh lệnh dấn thân phiêu lưu theo Đức Giêsu, sẵn sàng chấp nhận đối đầu những phong ba, bão táp, những ngày biển động, những thách đố bất ngờ, những tai ương hoạn nạn có thể đổ ập đến bất cứ lúc nào, nhưng sẽ luôn có Chúa ở cùng, luôn có Chúa Quan Phòng chở che, nếu một lòng một dạ mãi tín thác nơi Ngài.

Ra khơi còn là biểu lộ thái độ dứt khoát, một quyết định vững chãi, không còn dấm dớ theo Chúa nửa vời, nửa muốn theo Chúa, nửa lo sợ thế gian ghét bỏ, hãm hại, lo mất cuộc sống yên ả, sung túc, tiện nghi, lo đói khát, cực nhọc, khó khăn.“Kẻ vừa tra tay cầm cầy vừa ngó lui sau, là người bất kham đối với Nước Thiên Chúa”(Luca 9, 62)

“Đi, đi, đi mãi, đi quyết liệt, đi không nhượng bộ cũng như không ai đi với người đi lui. Không nhượng bộ cho xác thịt, Không nhượng bộ cho lười biếng, Không nhượng bộ cho ích kỷ… Con không thể gọi đen là trắng, xấu là tốt, gian là ngay được.” (Đường Hy Vọng, số 12 & 13)

Vâng lời

Lời đáp lại mau mắn của ông Simon chính là lời tuyên xưng đức tin công khai, với tâm hồm khiêm nhường, tôn kính, hoàn toàn vâng phục: “Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới.”

Dẫu rằng ông Simon vốn là dân chài chuyên nghiệp, dẫu đã bao năm kinh nghiệm dầy dạn sương gió trên biển hồ Giênêdarét, dẫu vừa mới thức trắng một đêm lao nhọc chài lưới công cốc, ông vẫn tận tâm, tận tuỵ thi hành mệnh lệnh, dù nghe thật chướng tai và bất hợp lý, khi đánh cá ngay ban ngày.

Khiêm nhường, bỏ đi những khôn ngoan thế gian, những lập luận lô gích, những kinh nghiệm cá nhân, để vâng theo Thánh Ý Chúa không bao giờ dễ dàng. Nhưng“Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy.” (Is 55, 9)

“Đức Chúa có ưa thích lễ toàn thiêu và các hy lễ như ưa thích người ta vâng lời Đức Chúa không? Này, vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn dâng mỡ cừu.”(1 Sam. 15, 22)

“Thế gian bảo con vâng phục như vậy là “điên khùng.” Chúa nói con vâng phục, vì Chúa là “anh hùng.” (Đường Hy Vọng, số 393)

Từ bỏ

Kinh ngạc trước phép lạ nhãn tiền, mẻ cá đầy ắp vô tiền khoáng hậu, ông Simon sụp lạy dưới chân Chúa Giêsu và thưa Người rằng: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi.” Không chỉ mình ông Simon ngạc nhiên, mà tất cả bạn chài cũng kinh ngạc không kém. Tất cả mọi người, mọi loài thụ tạo đều phải quy phục trước quyền năng siêu phàm của Thiên Chúa. Khi đó, con người mới có cơ hội nhận thức được thân phận yếu kém, hèn hạ của mình, mà tôn kính, thờ lạy Đấng Tạo Hoá muôn loài, mới cảm thấy bất xứng, tội lỗi, xấu xa, trước Thánh Nhan Chúa.

Chính khi nhận ra mình phận hèn, là lúc Chúa đoái thương, gần gũi, nâng đỡ, mời gọi. Chúa không nỡ lìa xa, như ông Simon khẩn khoản nài xin, mà Lòng Thương Xót Chúa có dịp chiếu toả, sưởi ấm, vỗ về, bao bọc, chở che, tin tưởng, trao phó trọng trách:”Đừng sợ hãi: từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới bắt người.” Chèo đò vào bờ, họ đã bỏ mọi sự mà theo Ngài.” Bỏ lại tất cả những gì vướng víu, tiền của, nghề nghiệp, gia đình, tình cảm riêng tư, bỏ cả tương lai sáng lạn của thế gian, mà dấn thân phục vụ Nước Chúa, phục vụ rao truyền Tin Mừng, phục vụ tha nhân mọi nơi.

Từ bỏ tất tần tật mọi sự thế gian, nhưng chưa bỏ chính mình thì cũng vô ích hoàn toàn. Vì thế, Đức Giêsu đích danh kêu gọi từ bỏ bản thân, vị kỷ, ham muốn, bản năng, xác thịt, sẵn sàng chấp nhận gian khó, thử thách, đau khổ mà theo Chúa: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta. Quả thật, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai chịu mất mạng sống mình vì Ta và vì Phúc Âm, thì sẽ cứu được mạng sống mình.” (Mc 8, 34-35)

“Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì con chưa bỏ gì cả, vì chính mình con sẽ dần dần quơ góp lại những gì con bỏ trước.” (Đường Hy Vọng, số 3)

Lạy Chúa Giêsu, xin thức tỉnh chúng con khỏi đam mê thế gian, khỏi xác thịt nặng nề, khỏi u mê, mù loà trong đời phù vân, khỏi trầm luân trong đam mê hư ảo, tội lỗi, để chúng con nghe được tiếng Chúa mời gọi từ bỏ thế gian, mà can đảm ra khơi, trở nên con Chúa, vâng lệnh làm chứng nhân cho Tin Mừng, dẫu muôn khó khăn đau khổ đang chờ đợi chúng con.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là ánh sao dẫn đường chỉ lối cho chúng con bước đi. Khấn xin Mẹ cầu bầu cho chúng con dấn thân theo Mẹ, cùng trung kiên đồng hành với Chúa đến tận cuối đời. Amen.

14.Ơn gọi Kitô hữu

(Suy niệm của Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng)

Tin mừng Lc 5: 1-11: Thánh Luca kể lại việc Đức Giêsu sau phép lạ mẻ cá trên hồ Tibêria đã mời gọi một số ngư phủ theo Người để trở nên những Tông đồ là những kẻ chài lưới người.

Qua Bí tích Thanh tẩy, Kitô hữu được trao ban một sứ mạng làm sứ giả Tin mừng. Mỗi Kitô hữu là một người được chính Chúa mời gọi làm cho Nước Chúa trị đến. Mỗi người phải quan tâm đến ơn gọi và sứ vụ loan báo Tin mừng của mình làm sao để cuộc sống mình luôn thể hiện những giá trị Tin mừng, nhờ đó, lôi kéo đựơc người chung quanh theo Chúa.

I. Tìm Hiểu Lời Chúa

1. Bài đọc I: Is 6, 1-2a, 3-6

* Ơn Gọi Của Isaia

Chúa nhật vừa qua chúng ta đã nghe đọc bản văn về ơn gọi của Tiên tri Giêrêmia. Hôm nay, chính Tiên tri Isaia nói cho chúng ta biết ông đã được Thiên Chúa gọi như thế nào và đã giao phó cho ông sứ mạng nào.

Khi Isaia đang cầu nguyện trong đền thờ thì ông nhận được một thị kiến lớn lao: Thiên Chúa mạc khải cho ông sự thánh thiện và vinh quang của Người.

Đối diện với màu nhiệm lớn lao này, Isaia khám phá ra lòng thương sót của Thiên Chúa. Với môi miệng nhơ uế làm sao ông có thể mang Lời Thiên Chúa, nhưng môi miệng ông sẽ được Thiên Chúa thanh luyện. Ông đã manh dạn thưa vâng: Lạy Chúa! này con đây.

Thiên Chúa tìm kiếm những cộng sự cho công trình Cứu độ của Ngài. Nhưng để được gọi cần thiết phải gặp gỡ với Thiên Chúa: gặp Ngài trong đức tin và cầu nguyện là điều cần thiết triệt để, để làm tròn sứ mạng được uỷ thác.

2. Bài đọc II: 1Cr 15, 1-11

* Ơn Gọi Của Phaolô

Sau khi nhắc lại rằng sự Phục Sinh của Đức Kitô là một trong những cứ liệu nền tảng của đức tin, Thánh Phaolô khẳng định trang trọng: Ngài là chứng nhân của Đức Kitô. Ngài đã thấy Đức Kitô Phục Sinh.

Không chuẩn bị gì cho sứ vụ tông đồ, thận chí còn là người miệt mài truy bắt các môn đệ của Đức Kitô, Phaolô đã phải cúi đầu trước một sự thật hiển nhiên: Đức Kitô đã hiện ra sống động với ông.

Cùng lúc khám phá ra ý nghĩa và tầm quan trọng về sự phục sinh của Đức Giêsu; được Thần khí soi dẫn, Phaolô đã hiểu rằng ông có sứ mạng công bố điều này, đặc biệt là cho các dân nước ngoài Do Thái.

Ngày nay, có nhiều dòng tư tưởng khác nhau tìm cách rút ra từ sự phục sinh của Đức Kitô những sự giải thích không có gì là chính thống. Chúng ta cần phải gắn bó với đức tin của Hội Thánh để sống đúng kho tàng đức tin mà các Tông đồ đã để lại.

3. Tin Mừng: Lc 5, 1-11

* Ơn Gọi Của Các tông Đồ

Thánh Luca kể lại việc Đức Giêsu sau phép lạ mẻ cá trên hồ Tibêria đã mời gọi một số ngư phủ theo Người để trở nên những Tông đồ là những kẻ chài lưới người.

Sau khi giảng dạy dân chúng từ trên thuyền của Phêrô, Đức Giêsu nói các ông thả lưới. Cho đến lúc ấy, các ngư phủ đã hoài công vất vả mà không được gì. Ngay ở lần thử đầu tiên các lưới đã đầy cá muốn rách.

Phêrô và các bạn đã bị lôi cuốn. Được Chúa mời gọi không chần chừ, các ông đã bỏ mọi sự để theo Người. Các ông sẽ không bao giờ quay trở lại nữa.

” Chài lưới người” … Tất cả mọi Kitô hữu không ngoại trừ ai đều được mời gọi để trở nên “kẻ chài lưới người”. Mỗi người theo khả năng, nghề nghiệp, văn hóa của mình đều được Thiên Chúa kêu mời hãy thả lưới.

II. Gợi ý Suy Niệm

1. Kitô hữu, một ơn gọi: Các bài đọc Kinh Thánh hôm nay trình bày về ơn gọi của ba người mà cuộc đời của họ trước khi được Chúa gọi khác nhau, cũng chẳng có gì là nổi bật, thận chí còn thù địch với Chúa: Isaia, một quí tộc Israel; Phaolô, một người Biệt phái nhiệt thành hăng say bắt bớ các môn đệ Đức Giêsu; và Phêrô cùng các tông đồ đầu tiên, những anh chài lưới tầm thường bên hồ Tibêria. Tuy nhiên qua ơn gọi của các ông, chúng ta cũng nhận ra ơn gọi của mỗi người chúng ta hôm nay, ơn gọi Kitô hữu. Khi nhận lãnh bí tích Thanh Tẩy, không chỉ đơn giản là tin vào Chúa, theo Chúa để trở nên thành viên trong Nước Chúa mà cơ bản đó còn là một ơn gọi để dựng xây Nước Chúa. Nghĩa là cũng như Isaia, cũng như các Tông đồ, cũng như Phaolô, Kitô hữu cũng được mời gọi lên đường loan báo Tin mừng của Chúa đến cho người khác. Kitô hữu cũng chính là những kẻ nhận lãnh sứ mạng đi chài lưới người, đi chinh phục tâm hồn người ta về với Chúa. Xuất thân từ mọi thành phần trong xã hội với nhiều hoàn cảnh, với nhiều khả năng khác nhau, nhưng đều có chung một đức tin, một tình yêu và một ơn gọi, ơn gọi làm Kitô hữu để sống niềm tin vào Thiên Chúa. Thể hiện niềm tin đó qua việc loan báo công trình yêu thương cứu độ của Thiên Chúa cho anh chị em chung quanh.

Kitô hữu là người được gọi để sai đi loan báo; Kitô hữu là các tông đồ của ngày hôm nay. Chúng ta đã ý thức và đón nhận ơn gọi Kitô hữu như thế nào? Hãy tự hỏi lòng mình hôm nay với tư cách Kitô hữu tôi là ai? Tôi đang làm gì để loan báo Tin mừng của Chúa?

Ơn gọi Kitô hữu, ơn gọi của tình yêu: Nhìn vào các Tông đồ, vào Phaolô hay vào Isaia nếu theo tâm lý bình thường chắc khó mà gọi họ trở nên những cộng sự của mình được vì xem ra chẳng có tài cán hay đức độ gì cả. Thận chí như Phêrô là anh chàng chài lưới quê mùa dốt nát, một Phaolô nhiệt tình bắt đạo là kẻ thù của Kitô Giáo thời các Tông đồ. Thế nhưng, tất cả đều được Chúa tuyển chọn. Vì sao Chúa lại chọn những con người như vậy để sai đi loan báo Tin mừng cứu độ? Không phải vì họ giỏi, không phải vì họ có thế lực cũng không phải vì họ đạo đức thánh thiện hơn những người khác mà chỉ đơn giản là vì Chúa chỉ muốn chọn những ai Chúa muốn. Và Chúa chọn chỉ vì Chúa yêu mà thôi. Chính vì tình yêu mà các ông được chọn. Chúa chọn để minh chứng tình yêu hải hà của người, yêu cả kẻ thù. Với Kitô hữu cũng vậy, được gọi vì yêu và được gọi để sai đi làm nhân chứng và loan báo tình yêu. Ơn gọi Kitô hữu cũng như ơn gọi Tông đồ xuất phát từ tình yêu của Thiên Chúa để ra đi loan báo tình yêu của Người. Một Tình yêu dám chết cho người mình yêu; một tình yêu được thể hiện tròn đầy trong màu nhiệm nhập thể và màu nhiệm Tử Nạn_Phục sinh của Người. Vì yêu, Người đã dám chết cho tội lỗi nhận loại và sống lại để mang lại sự sống, hạnh phúc và tình yêu bất tử cho nhân loại.

Kitô hữu, ơn gọi của tình yêu nên mỗi người trước hết phải khám phá, phải sống huyền nhiệm tình yêu Thiên Chúa để rồi một khi đã được yêu, thì sẽ biết yêu và dám yêu đến cùng. Kiếp sống Kitô hữu không yêu là kiếp sống thừa.

2. Sống ơn gọi Kitô hữu trong hoàn cảnh hôm nay: Giáo Hội Việt Nam qua thư chung của Hội Đồng Giám Mục năm 2003 mời gọi dân Chúa hãy đáp lại lời mời gọi “Ra khơi” của Đức Thánh Cha, qui hướng lời cầu nguyện và hoạt động của Hội Thánh tại Việt Nam vào việc “Loan báo Tin Mừng”. Trong thư chung này Hội Đồng Giám Mục đã trình bày khá chi tiết và rõ nét đường hướng loan báo Tin mừng của cả Giáo Hội Việt Nam cũng như phần việc cụ thể của mỗi Kitô hữu. Sống ơn gọi Kitô hữu ngày nay chính là tìm ra cách thế phù hợp để loan báo Tin mừng. Chúng ta cùng trích một số tư tưởng trong thư chung để suy gẫm, tìm hiểu cách sống ơn gọi Kitô hữu thiết thực và hiệu quả trong bối cảnh hôm nay. Trước hết là hãy trở về với nguồn mạch ơn gọi nơi chính Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, qua việc bắt chước Người: Noi gương Chúa Giêsu Kitô Chúa Giêsu là sứ giả Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất … Để rao giảng Tin Mừng, Ngài đã không biết mệt mỏi đi đến khắp mọi nơi, tiếp xúc với tất cả mọi hạng người, thực hiện rất nhiều việc lạ lùng để làm chứng Nước Chúa đã đến. Xác định rao giảng Tin Mừng theo ý Chúa Cha là lẽ sống (x. Mc 1,38; Lc 4,43) nên Ngài hiến trọn cuộc đời, đến tự nguyện hy sinh cả mạng sống, chấp nhận cái chết tủi nhục trên Thánh Giá để hoàn thành thánh ý Chúa Cha. (TCHĐGMVN, 2003, số 3). Đồng thời, trung thành với truyền thống của Hội Thánh sơ khai. Chúa Giêsu đã thiết lập và uỷ thác cho Hội Thánh nhiệm vụ loan báo Tin Mừng (x. Mc 16,15; Mt 28,19-20). Lệnh truyền này đã trở thành sứ mạng chính yếu của Hội Thánh Chúa Kitô. Hội Thánh không hiện hữu cho mình nhưng cho con người và với con người. Hội Thánh hiện hữu là để loan báo Tin Mừng và làm cho những ai thành tâm đón nhận Tin Mừng trở nên môn đệ Chúa Kitô (x. Mt 28,19) đồng thời quy tụ cho Thiên Chúa mọi con cái tản mác về lại một mối (x. Ga 10, 52). (TCHĐGMVN, 2003, số 4). Từ đó, Hội Đồng Giám Mục đã đề ra những cách thế phù hợp với những cách sống năng động như cầu nguyện. Nêu gương sống lương tâm công giáo. Trước khi rao giảng bằng lời nói, hãy rao giảng bằng đời sống. Người tín hữu giáo dân hãy nỗ lực cùng với đồng bào xây dựng một nếp sống lành mạnh trong khu phố xóm làng, loại trừ mọi tệ đoan tật xấu. Đăc biệt hãy nêu gương tôn trọng sự sống, tôn trọng phẩm giá con người, sống theo lương tâm ngay thẳng làm chứng về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa. Thăm viếng thân hữa các thành viên tôn giáo bạn. Việc thăm viếng các thành viên tôn giáo bạn và nhất là thăm viếng các gia đình cũng như cá nhân ngoài công giáo là trình bày Phúc Âm một cách cụ thể. Thăm viếng để chúc mừng khi vui, an ủi khi buồn, nâng đỡ khi gặp hoạn nạn là những trang Phúc Âm sống động giúp anh chị em ngoài công giáo nhận rõ chân dung Chúa Giêsu Cứu Thế và hiểu biết đạo Chúa một cách chính xác hơn. Và Làm việc bác ái, việc bác ái cụ thể được thấy qua những cứu trợ thiên tai, giúp đỡ người nghèo về mọi mặt. Việc bác ái trong lâu dài phải nhắm đến phát triển toàn diện, giúp người nghèo có một đời sống xứng đáng với phẩm giá con người, vì “Phát triển là tên gọi mới của hòa bình” (x. Progressio Populorum). Những hoạt động xã hội bác ái là những lời rao giảng dễ được đón nhận,

III. Lời Cầu Chung

* Lời Mở: Anh chị em thân mến, chúng ta đựơc Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô yêu thương mời gọi và sai đi loan báo Tin mừng của Chúa. Trong niềm vui tri ân, chúng ta cùng dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện chân thành cho Hội Thánh và cho mọi người chúng ta.

1. Ngày nay, sứ mạng Tông đồ được tiếp nối qua các Đức Giám Mục trong Giáo Hội. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng, cho hàng Giám Mục và cho hàng giáo sĩ luôn hằng say nhiệt thành trong sứ mạng loan báo Tin mừng bằng đời sống yêu thương phục vụ của mình.

2. Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo Hội Việt Nam thân yêu của chúng ta trong năm thánh Truyền Giáo này thu hoạch được một mùa lúa bội thu nhờ ơn Chúa và nhờ lòng nhiệt thành của mọi thành phần dân Chúa nỗ lực sống đức tin.

3. Mỗi Kitô hữu đều được gọi để trở nên những kẻ chài lưới người, thu phục nhân tâm về cho Chúa, cho Hội Thánh. Chúng ta cùng cầu nguyện cho mọi người, mọi nhà trong cộng đoàn chúng ta luôn tràn đầy ơn Chúa để biết sống yêu thương, hiệp nhất làm gương sáng lôi kéo mọi người tìm về với Chúa.

* Kết Nguyện: Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã yêu thương chọn gọi chúng con trở nên môn đệ của Đức Giêsu Kitô để loan báo Tin mừng cứu độ của Chúa cho mọi người. Chúng con xin Chúa gia tăng ân sủng và nghị lực để ai nấy đều nhiệt thành ra khơi là cho danh Thánh Chúa vinh hiển và nước Chúa ngày càng phát triển. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

15.Chúa gọi các Tông Ðồ

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa – của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

Tiếp tục chương trình của những Chúa nhật mở đầu mùa Thường Niên day dỗ chúng ta về những bước đầu trong cuộc đời truyền đạo của Chúa Giêsu, bài Tin Mừng Luca hôm nay nói đến việc Chúa chọn những tông đồ đầu tiên. Bài Cựu Ước được dùng để báo trước vấn đề này là đoạn sách Isaia kể lại việc Chúa gọi nhà tiên tri. Các tông đồ ngày nay ở trong Hội Thánh tiếp nối công việc của những người được Chúa chọn trong Cựu Ước cũng như Tân Ước.

Thế nên bài Thánh Thư nói họ phải rao giảng giáo lý nào cho trung thành với truyền thống. Như vậy, Chúa nhật hôm nay đáng gọi là ngày ơn gọi. Chúng ta xem Chúa đã gọi chúng ta như thế nào để chúng ta biết phải sống thế nào cho xứng đáng với ơn gọi ấy.

1. Chúa gọi Isaia

Chúng ta đều biết những câu đầu chương VI sách Isaia. Nhà tiên tri kể lại ơn gọi của mình. Năm ấy Ôzya, vị vua thứ 10 của Israen mới thăng hà. Ðó là điềm không tốt cho quốc gia này. Vì Ôzya, cũng có tên là Azarias, là một vị vua đạo đức. Dưới triều đại ông, Israen không những thái bình, mà còn ghi vào lịch sử một số chiến thắng. Ông thăng hà, có nghĩa là thời vận Israen bắt đầu thay đổi. Sách Isaia nói đến thế lực của Assyria phương bắc đang dần dần kéo xuống gần bờ cõi Israen. Người ta run sợ trước kỵ binh và tên nỏ. Nhưng chính những lúc ấy, Chúa lại tỏ ra thương dân lạ lùng. Người sai đến cho họ những người sẽ nói nhân danh Người.

Isaia được ơn gọi vào năm ấy, năm 740 trước Ðức Giêsu ra đời. Ông đang ở trong đền thờ. Bỗng dưng ông thấy Chúa hiện ra ngự trên ngai, có áo choàng phủ khắp đền thờ. Lại có những Sêraphim chầu hầu. Và có tiếng tung hô: “Thánh, thánh, thánh, Chúa các đạo binh, khắp đất đầy tràn vinh quang Người”. Rồi mộng cửa rung rinh, nhà nghi ngút khói.

Có thật Isaia đã thấy như vậy không? Hay đây là những nét tả đầy tính cách thần học? Dù sao quang cảnh này cũng có nhiều ý nghĩa. Trung thành với truyền thống không bao giờ dám mô tả chính Thiên Chúa, – vì mắt phàm thấy sao được long nhan Người? ở đây tác giả nói đến những sự chung quanh Thiên Chúa hơn là diễn tả chính Người. Việc Người ngự trên ngai và có áo choàng trải khắp đền thờ chứng tỏ Người là vị hoàng đế cao cả, làm cho những kẻ đang sợ danh tướng của vua Assyria đến, được an tâm bình tĩnh lại. Và việc có các Sêraphim chầu hầu quanh ngai còn nói lên hơn nữa rằng Chúa trổi vượt hơn các thần dân xâm lược. Là vì ở Assyria người ta sợ hãi sùng bái các Sêraphim, đang khi ở đây chúng chỉ đáng bậc tôi tớ.

Và khác với thần thánh ở Assyria chỉ là những ngẫu tượng kính nhi viễn chi, tức là phải sợ hãi tôn thờ để khỏi bị oán trả, Thiên Chúa của Isaia trải vinh quang Người khắp cả mặt đất. Và tuy là Ðấng Thánh và ngàn trùng chí thánh, siêu việt ngàn lần đối với tạo vật… Người là Ðấng Thiên Chúa ở liền với các đạo quân của dân Người, và Người can thiệp vào lịch sử để mặt đất đầy vinh quang Người.

Hôm nay Người hiện ra với Isaia khác nào hôm Người ngự xuống trên núi Sinai: Có đất động và mây khói phủ đầy.

Tự nhiên Isaia phải sợ. Nhưng đây là một sự sợ tinh thần, khác hẳn sự sợ nô lệ. Isaia thấy Ðấng Thánh chiếu cố đến mình. Ông thấy mình bất xứng. Sự sợ của ông nói lên ý thức tội lỗi của con người ở giữa dân tội lỗi. Ông cầu cứu ơn cứu độ. Và ông đã được nhận lời. Vị thần sứ đã gắp một cục than hồng trên bàn thờ hương đi đến thanh tẩy môi miệng ông để xóa tội lỗi và biến môi miệng ấy nên xứng đáng cho việc rao giảng Lời Chúa.

Viết lại những dòng chữ này, Isaia khẳng định những quan điểm thần học sâu xa của ông. Mọi người đều là phàm nhân và tội lỗi, không thể cáng đáng những công việc thánh thiện, trước khi được thanh tẩy bằng chính ơn của Chúa, chứ không phải bằng nỗ lực và sự nghiệp của mình.

Có thể vì ý thức đã được thanh tẩy, Isaia chấp nhận ngay đề nghị của Chúa để đi làm tiên tri. Nhưng cũng có thể vì đứng trước một vị hoàng đế cao cả đến nỗi các Sêraphim cũng phải ngoan ngoãn chầu hầu, ai mà dám không mau lẹ thi hành ý muốn của Người.

Dù sao Isaia cũng đã hân hoan lãnh nhận sứ mạng tiên tri vì tất cả quang cảnh ông vừa thấy đầy khích lệ cứu độ. Israen không còn phải lo quân xâm lược nữa. Thiên Chúa là hoàng đế cao cả, siêu việt vượt hẳn vua chúa Assyria. Người điều khiển cả các Sêraphim của nước ấy. Người thánh thiện thật nhưng không ở xa dân. Người sẽ làm cho mặt đất đầy vinh quang Người. Và trước hết Người sẽ thanh tẩy, xóa bỏ tội lỗi cho chúng ta, để chúng ta nên tông đồ tiên tri rao giảng tin mừng cho các dân tộc.

Như vậy, bài sách Isaia rất nhiều ý nghĩa. Tuy nhiên phụng vụ hôm nay cũng chỉ dùng để đưa chúng ta vào bài Tin Mừng. Vì ở đây sẽ có những sự thực cụ thể hơn và nhất là có tầm mức phổ cập và luôn luôn hiện đại. Chúng ta hãy xem.

2. Chúa Gọi Các Tông Ðồ

Thánh Luca không xác định hôm ấy là ngày nào. Có lẽ tính cách “không có thời gian” rõ rệt này thuận lợi hơn để nói đến những công việc luôn có giá trị hiện đại.

Tác giả thoạt tiên cho chúng ta thấy một quang cảnh khác hẳn với những gì Isaia đã nhìn thấy. Ở đây là bờ hồ Giênêzaret chứ không phải là tại đền thờ Giêrusalem. Quang cảnh cởi mở này hợp với tinh thần truyền giáo và công giáo của sách Phúc âm Luca hơn. Nhưng tuy ở trên bờ hồ, Ðức Giêsu vẫn không thiếu vẻ oai phong cao cả, vì quần chúng xán lại bên Người và chăm chú muốn nghe Lời Người dạy dỗ… Người thấy có hai chiếc thuyền bỏ neo gần đó. Không một người nào ở trên hai chiếc thuyền ấy vì những người đánh cá đã xuống cả rồi và đang giặt lưới.

Ðó là hình ảnh những cái ngai đang còn trống. Ðức Giêsu lên chiếc thuyền thuộc về Phêrô và truyền đẩy ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống phán dạy quần chúng đang đứng trên bờ.

Rõ ràng Luca muốn cho những bức họa có phần oai phong như lại sống động. Một Ðức Giêsu ngồi một mình trên thuyền nhìn xuống quần chúng dưới bờ mà phán dạy họ những điều cao cả, cũng có Ðấng “Thánh” đang can thiệp vào thế gian. Chúng ta có thể nói Chúa trong điện thờ mà Isaia đã nhìn thấy, nay đang ở giữa loài người. Người ở gần chúng ta mà vẫn không mất vẻ siêu vời, Người muốn đem tinh thần và sức mạnh thần linh của Người vào thế gian.

Người bảo Phêrô: “Hãy chèo ra khơi thả lưới mà bắt cá”. Làm sao ông có thể không vâng lời? Chúng ta có thể thấy ông đã tức khắc sửa soạn hành trang. Nhưng đồng thời ông đã thành thật thưa: Ðêm vừa rồi ông không bắt được gì cả, nhưng Thầy đã dạy, ông xin làm theo. Phản ứng của ông rất thành khẩn. Nó vừa nói lên đức vâng lời và niềm tin tưởng, lại vừa báo trước và làm nổi bật phép lạ sắp xảy ra. Cả đêm đã đánh không được cá, huống nữa là lúc này, trời đã sáng.

Thế mà vì lệnh truyền, lưới của Phêrô đã đầy cá, sắp nứt ra rồi. Ông không kéo nổi và phải gọi đồng bạn ở cái thuyền kia đến giúp.

Từ trước đến giờ, Luca chỉ nói đến Giêsu và Phêrô. Tác giả muốn đề cao vai trò của vị tông đồ này ở trong Hội Thánh. Phêrô được ưu tiên trong cái nhìn của Chúa. Sau đó ông mới gọi đồng bạn là Gioan và Giacôbê ở thuyền kia đến giúp.

Thấy mẻ cá lạ lùng này, họ đâm kinh sợ con người đã truyền lệnh cho họ. Phêrô liền bắt chước Isaia, quỳ mọp xuống trước mặt Người, xưng thú thân phận tội lỗi chẳng dám đứng trước long nhan. Nhưng Chúa ôn tồn bảo: “Ðừng sợ, từ nay hãy đi lưới các linh hồn”. Người đã gọi các tông đồ một cách cụ thể hơn Chúa gọi Isaia ngày trước. Các ông sẽ đi làm công việc của các ông vừa làm, nhưng trên bình diện khác. Và công việc của các ông đã được báo trước sẽ kết quả lạ lùng như các ông vừa thấy cá đua nhau chạy vào lưới các ông.

Chúng ta hãy tạ ơn Chúa. Người đã làm những việc cao cả trong cuộc đời của Isaia. Nhưng nơi các tông đồ của đạo mới, Người còn tỏ ra uy quyền và mạnh hơn biết bao. Không những nơi Ðức Kitô, Thiên Chúa đã đến với loài người và ở giữa chúng ta, cụ thể hơn khi Người bày tỏ vinh quang cho Isaia nơi đền thánh, Người còn gọi Phêrô và các tông đồ để Hội Thánh làm cho vinh quang của Người trải ra trên khắp địa cầu.

Tác giả Luca thật ra đã muốn nói lên những điều ấy trong đoạn Tin Mừng hôm nay. Người viết lại câu chuyện Chúa gọi Phêrô sau khi Ðức Giêsu đã phục sinh và lên trời. Khi ấy đã là thời đại của Hội Thánh. Do đó câu chuyện Người kể nhất thiết phải mang các tính chất Kitô học và Giáo hội học. Ðức Giêsu đã là vua và là Chúa. Hội Thánh đã có Phêrô đứng đầu. Và công cuộc truyền giáo của các tông đồ đang mang lại nhiều kết quả. Nhưng tất cả đã khởi sự ngay khi Ðức Kitô còn tại thế.

Ðưa các hình ảnh về phục sinh đặt lên khoảng thời gian Ðức Giêsu mới xuất thân giảng đạo, tác giả Luca khiến chúng ta tin tưởng nhiều hơn về Hội Thánh hiện nay. Bề ngoài đời sống Hội Thánh như không có gì lạ lùng, nhưng cũng như cuộc đời trần gian của Chúa Cứu Thế, đây chẳng phải là lúc đang chứa chấp nhiều thành quả phong phú trong tương lai sao? Gioan chỉ kể chuyện về mẻ cá lạ sau phục sinh, Luca đặt lên trước phục sinh để đảm bảo thành công rực rỡ cho ơn gọi của các tông đồ và của Hội Thánh. Ta sẽ sống ơn gọi này thế nào?

3. Thi Hành Sứ Mạng Kitô Giáo

Muốn hiểu đoạn thư Phaolô hôm nay, chúng ta cần biết rằng nhiều người trong cộng đoàn Côrintô hồi ấy không tin lắm vào mầu nhiệm xác thịt sau này sẽ sống lại. Họ sống trong nền văn minh Hy Lạp vốn coi rẻ thân xác. Nhiều lý thuyết thời ấy quan niệm thân thế là tù ngục giam hãm linh hồn. Người ta phải mong có ngày ra khỏi chốn tối tăm ấy để được lên nơi tinh thần… Nhiều khi chúng ta không mặc nhiên nghĩ như vậy sao?

Nhưng đó là suy nghĩ rất tai hại, sai hẳn với tin mừng cứu độ. Thánh Phaolô nhắc lại cho người Côrintô biết: Nếu nghĩ như vậy thì đã theo đạo một cách vô ích. Chúng ta không những tin Chúa đã chịu chết, mà đặc biệt hơn, chúng ta tin Người đã sống lại. Có phục sinh, Người mới ban ơn cứu độ, chứ nếu cứ chết mãi thì hỏi Người cứu được ai? Tin điều Chúa sống lại vì thế là nền tảng và khởi điểm của đức tin trong Hội Thánh. Hội Thánh nắm vững niềm tin này vì mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh phù hợp với Sách Thánh; vì Phêrô và đoàn 12 tông đồ đã được nhìn thấy Chúa sống lại; vì cả cộng đoàn tín hữu đã được xem thấy Chúa Phục sinh hiện ra.

Cuối cùng chính Phaolô cũng được Người tỏ mình ra ở trên đường Ðamas. Nhưng dù là Phaolô, Giacôbê, hay Phêrô, mọi tông đồ trong Hội Thánh chỉ có một giáo lý. Ðó là Ðức Giêsu đã chết vì tội lỗi của chúng ta như lời Sách Thánh dạy và Người cũng đã sống lại theo như lời Kinh Thánh nói, để chúng ta có đức tin và được ơn cứu độ.

Thành ra ơn gọi của chúng ta là niềm tin vào Ðức Giêsu tử nạn phục sinh. Ðó là Tin Mừng cứu độ mọi người. Nó phải hướng dẫn đời sống chúng ta. Chúng ta không được bi quan về tương lai, như thể sẽ có sự chết mãi mãi. Ngược lại chúng ta phải lạc quan mạnh mẽ vì sẽ có sự sống lại cho ngay cả thân xác yếu đuối này. Sống niềm tin này một cách cụ thể, chúng ta sẽ trung thành tiếp nối truyền thống của Hội Thánh không những từ thời các tông đồ mà có thể nói ngay từ thời các tiên tri. Isaia trong bài đọc một hôm nay chẳng hạn đã nhìn thấy ơn gọi của mình rất lạc quan trong tình hình đáng run sợ của đất nước. Luca khẳng định ơn gọi của các tông đồ nhất định đem lại thành công như mẻ cá lạ lùng. Phaolô kêu gọi chúng ta hãy nhớ mình là tín hữu khi tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô chịu chết và sống lại. Người Công Giáo phải lạc quan phấn khởi. Dân Chúa phải rao truyền mầu nhiệm Chúa Phục Sinh.

Ở nhà thờ này, chúng ta vẫn làm như thế. Khi cử hành Thánh Lễ chúng ta hân hoan tuyên xưng việc Chúa chịu chết và sống lại. Chúng ta tin rằng thánh lễ ban sự sống mới cho tâm hồn. Thế thì chúng ta hãy ra về đi vào xã hội với niềm tin mạnh mẽ và ơn phục sinh mà Thánh Thể đã đặt vào lòng ta để đổi mới cuộc đời, xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, nhìn thấy tương lai hấp dẫn lạ thường. Xin Chúa thêm niềm tin cho chúng ta.

16.Bất lực

Đang đi bên này sông, tình cờ nhìn thấy một người bạn thân lâu năm không gặp, đang đứng ở bên kia sông, bấy giờ chúng ta sẽ làm gì? Tôi xin thưa rằng chúng ta làm mọi việc có thể, nào gọi to, nào vẫy tay, nào kiếm một cái xuồng để qua sông. Thế nhưng có một điều chúng ta lại không làm đó là nhảy xuống sông để bơi qua bờ bên kia, vì làm như thế chúng ta sẽ bị cho là điên khùng.

Tuy nhiên, điều điên khùng này chính thánh Phêrô đã làm. Phúc Âm kể lại, khi nhìn thấy Chúa Giêsu đi trên mặt nước, thánh Phêrô cũng đã nhảy xuống nước mà tiến lại với Chúa Giêsu. Có lẽ lúc bấy giờ thánh Phêrô cũng đã thầm nghĩ: Điều Thầy đã làm thì tại sao tôi lại không làm được. Nhưng rồi ông bắt đầu nghi ngờ và bị chìm dần xuống mặt nước. Bấy giờ ông bèn van xin Chúa giúp đỡ. Chính trong cái bối cảnh này mà chúng ta nhận thấy Phêrô cần phải sửa chữa cái thói tự cao tự đại, quá ỷ vào sức riêng của mình. Ông cần phải ý thức được những giới hạn của mình, cũng như những khả năng nhỏ bé và những bất lực của mình để nhờ đó mà khiêm nhường hơn.

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng đã dùng chiến thuật đó để răn dạy Phêrô. Sau một đêm vất vả chẳng bắt được một con cá nào, thế mà giữa ban ngày ban mặt Chúa Giêsu lại truyền cho ông phải thả lưới, và rồi sau đó một mẻ cá lạ lùng đã xảy ra. Sau mẻ cá lạ lùng ấy Phêrô đã thú nhận sự bất lực của mình: Lạy Chúa, xin hãy xa con vì con là kẻ tội lỗi.

Với mỗi người chúng ta cũng vậy, Chúa chờ mong chúng ta thú nhận sự bất lực, sự hạn hẹp của mình, để rồi tin tưởng và phó thác cho Ngài, cũng như để Ngài sẽ ra tay cứu giúp. Và đó chính là cái nền tảng để xây dựng đức tin.

Thế nhưng con người thời nay, đã hành động một cách khác hẳn. Với những thành công của khoa học, với những bước tiến nhảy vọt của kỹ thuật, người ta muốn lên ngôi bá chủ và không còn lệ thuộc vào Thiên Chúa nữa. Người ta không còn muốn cầu nguyện vì tưởng rằng sẽ không bao giờ còn cần đến một sự trợ giúp từ trời cao.

Thế nhưng nếu suy nghĩ cho chín chắn, chúng ta nhận thấy rằng: Khoa học càng tiến bộ thì lãnh vực của nó càng mở rộng, tưởng chừng như vô tận. Hơn nữa dù kỹ thuật có tân kỳ thì những sơ hở và trục trặc vẫn có thể xảy ra. Chỉ sơ hở một chút là sẽ tiêu ma cả một công trình nghiên cứu, như trường hợp đã xảy ra cho phi thuyền “Schalenger” của Mỹ, đã thiêu sống cả một phi hành đoàn gồm 6 người.

Đứng trước không gian vô tận, đứng trước thiên nhiên hùng vĩ, đứng trước những sự trục trặc của kỹ thuật, chúng ta mới nghiệm ra rằng: Tài năng con người thật nhỏ nhoi và có nhiều lãnh vực dường như con người cũng phải bó tay chưa khám phá ra nổi. Để rồi trong cố gắng, chúng ta vẫn phải khiêm nhường, nhờ đó mà chúng ta sẽ nhận được những sự trợ giúp của Thiên Chúa.

17.Thành quả vàng son

(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’ – Thiên Phúc)

Thánh Gioan Vianney, lúc còn là chủng sinh, học rất chậm. Ngày kia, một giáo sư thần học, thừa lệnh Đức Giám Mục đến khảo sát Vianney xem có đủ khả năng học vấn để tới chức linh mục chăng?

Tuy đã dốc hết sức học hành, Vianney vẫn không thể trả lời được câu nào cho trôi chảy.

Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn nói: “Vianney, anh dốt đặc như con lừa! Với một con lừa như anh, Giáo Hội hy vọng làm nên trò trống gì”.

Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: “Thưa cha, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại 3000 quân Philitinh. Vậy với cả một con lừa này, Thiên Chúa không làm được việc gì sao?”

***

Quả thật, con lừa của Thiên Chúa đó, sau này không chỉ trở thành một cha sở, mà còn được tôn phong làm thánh bổn mạng của các cha sở.

Hôm nay, Simon cũng vất vả suốt một đêm chài lưới mà không bắt được một con cá nào, nhưng: “Vì lời Thầy con sẽ thả lưới” (Lc 5,5). Và lạ thay, một mẻ cá lớn bất ngờ, đến nỗi lưới hầu như sắp rách. Trước tình thế này, Simon chỉ còn biết bỏ thuyền, chạy đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu mà nói: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8).

Kẻ nhận mình là tội lỗi yếu hèn đó, sau này đã trở thành Phêrô, người thuyền trưởng của con thuyền Giáo Hội.

Có một điểm gì đó rất giống nhau, rất tương đồng giữa Vianney và Phêrô. Đó chính là nhận mình yếu hèn khuyết điểm và hoàn toàn để Chúa lèo lái điều khiển đời mình. Nhờ đó, Chúa đã ban tặng cho các ngài những đậc ân vô cùng lớn lao. Vì ơn Chúa chỉ ban xuống cho những kẻ khiêm nhượng.

“Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không bắt được gì hết. Nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới” (Lc 5.5). Đây là lời bày tỏ sự bất lực của con người, để chính sự bất lực này sẽ làm nổi bật quyền năng của Thiên Chúa: Chính sự vâng phục của con người trước uy quyền của Thiên Chúa sẽ đem lại hiệu quả vượt sức tự nhiên loài người.

Từ vâng phục dẫn đến phép lạ, từ phép lạ dẫn đến niềm tin: Trước mẻ cá, Simon xưng Chúa Giêsu là Thầy: “Vì lời Thầy, con sẽ thả lưới”, nhưng sau mẻ cá diệu kỳ, người lại tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Qua phép lạ mẻ cá, Simon đã nhận ra quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu và đã tin vào Người. Đây chính là lời tuyên xưng thiên tính nơi Chúa Giêsu.

Chính khi tin vào quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu, mà Simon đã ý thức thân phận tội lỗi bất xứng của mình trước sự thánh thiện vô song của Thiên Chúa. Đó cũng là kinh nghiệm của ngôn sứ Isaia trước Thiên Chúa: “Khốn cho tôi, tôi chết mất, vì lưỡi tôi dơ bẩn” (Isaia 6, 5). Nhưng sau khi được than hồng là lửa tình thương Chúa thanh tẩy, ông đã mau mắn xin vâng, ra đi làm ngôn sứ cho Chúa: “Lạy Chúa, xin hãy sai con”. Hôm nay, Chúa cũng trấn an Phêrô: “Đừng sợ hãi, từ đây các con sẽ là kẻ chinh phục người ta” (Lc 5,10). Thành ngữ này thường gặp trong Cựu ước, để trấn an con người hãy tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa. Ở đây Chúa Giêsu muốn trấn an các Tông đồ, đặc biệt ba vị là Phêrô, Giacôbê và Gioan, để các ngài tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa khi đón nhận và thi hành sứ mạng Chúa giao.

Quả thật, ngay sau đó các Tông đồ đã “bỏ mọi sự mà đi theo Người” (Lc 5, 11). Đó là ơn gọi của Phêrô, con người đã gặp gỡ Chúa và đã được Chúa thu hút chinh phục, để rồi Phêrô lại ra đi chinh phục các tâm hồn về cho Người.

Trước khi gặp Chúa, Simon dù có vất vả suốt đêm cũng không được một con cá nào; sau khi gặp Chúa, Chúa đã hướng dẫn ngài kéo lên một mẻ cá bội thu. Nhưng dù cá có nhiều đến rách lưới ngài cũng không màng, vì từ đây mục đích đời ngài không phải là thành quả vàng son mà chính là Chúa mà thôi.

***

Lạy Chúa, từ bỏ mọi sự là điều kiện để đi theo Người. Xin cho chúng con một đức tin can đảm, dám từ bỏ những gì chúng con đã từng bám víu, cũng chẳng sợ thiệt thòi khi đã hiến dâng.

Xin cho chúng con một đức tin liều lĩnh, sẵn sàng mất đi tất cả, để chỉ xin giữ trọn một mình Chúa mà thôi. Vì Chúa chính là gia nghiệp và là phần phúc cuộc đời chúng con. Amen.

18.Chúa Nhật 5 Thường Niên

ĐƯỢC MỜI GỌI ĐỂ LOAN BÁO TIN MỪNG

(Trích trong ‘Suy Niệm Lời Chúa’ – Radio Veritas Asia)

Franco là một kịch sĩ người Italia nổi tiếng. Suốt 40 năm lão luyện trong nghề, ông đã đặt hàng trăm vở kịch thành phim được chiếu trên màn ảnh truyền hình nhà nước, từ năm 1980 đến nay ông đã dùng để rao giảng Lời Chúa. Franco đi khắp các thành phố và xứ đạo Italia, vào các nhà tù hay tham dự đại hội ca múa dân tộc để trình diễn Phúc Âm. Ông dùng mọi nhân tố kịch nghệ để đạo diễn Tin Mừng, chẳng hạn 16 chương Phúc Âm thánh Marcô được ông diễn xuất thành 96 cảnh. Ước mong duy nhất của ông là dùng kịch nghệ để loan báo Lời Chúa. Trong số bạn bè và người thân, có kẻ chế nhạo ông là người mất trí, nhưng cũng có nhiều người khuyến khích ông trong sáng kiến mới này, và đã có hàng trăm ngàn người được nghe loan báo Tin Mừng cứu độ qua hình thức nghệ thuật đó. Ông tâm sự: “Tôi thật may mắn được tin vào Chúa Giêsu và có Ngài làm bạn đường trong đời. Không có Chúa Giêsu, cuộc đời thật là nhạt nhẽo vô vị. Và chính lòng tin đã giúp tôi nảy ra sáng kiến lấy Ngài làm đề tài diễn xuất. Trong bao nhiêu năm cuộc đời nghệ sĩ, tôi đã chỉ nói và diễn xuất những gì người khác biết. Nhưng từ 10 năm nay, tôi đã lựa chọn việc thông truyền cho khán thính giả lịch sử nhất thế giới, đó là Phúc Âm kể lại cuộc đời Chúa Cứu Thế”.

Là Kitô hữu, mỗi người trong chúng ta cũng được mời gọi dùng các tài năng và cuộc sống của mình để loan báo Tin Mừng cứu độ của Chúa, đó là sứ điệp Giáo Hội muốn nhắn gởi chúng ta qua các bài đọc Chúa Nhật hôm nay. Ba bài đọc giới thiệu với chúng ta ba ơn gọi khác nhau. Ơn gọi của tiên tri Isaia, thánh Phaolô, thánh Phêrô và các bạn đồng nghiệp.

Isaia 6 lồng khung ơn gọi của ông trong lịch sử cứu độ của dân Do Thái, để khiển trách dân Do Thái sống trong tội lỗi và bất trung với Thiên Chúa. Ngài can thiệp bằng cách mời gọi Isaia trở thành sứ giả ra đi rao giảng Lời Ngài, giúp dân Israel hoán cải, dẫn đưa họ về với Chúa. Tiên tri chẳng những là người thấy trước tương lai nhưng còn là phát ngôn viên của Chúa, là sứ giả mang sứ điệp của Thiên Chúa xuống cho loài người. Ơn gọi đổi đời của Isaia xảy ra trong khung cảnh lúc cử hành phụng tự ở đền thờ Giêrusalem, ông được sống kinh nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa bằng các giác quan của mình. Isaia trông thấy Thiên Chúa ngự trị trên tòa vinh quang. Tòa cao là hình ảnh diễn tả xa cách con người ở trần gian hư hỏng tội lỗi này. Isaia còn được nghe tiếng của các thiên thần hát tung hô Thiên Chúa. “Thánh, Thánh, Thánh”. Ba lần thánh là kiểu cách diễn tả sự vẹn toàn siêu việt và thánh thiện của Ngài. Trước sự thánh thiện cao cả tuyệt đối của Thiên Chúa, Isaia nhận thức ra thân phận yếu hèn tội lỗi bất xứng của mình. Xác tín con người tội lỗi không thể xem thấy Thiên Chúa, nếu trông thấy Người, con người sẽ phải chết. Tuy nhiên, Kinh Thánh cũng thường diễn tả tội lỗi của con người bằng cách nêu bật sự kiện Thiên Chúa Abraham cứu độ con người, bởi vì Ngài là Đấng duy nhất có thể biến đổi và thánh hóa con người. Để hiện thực điều đó, Thiên Chúa chọn lửa dùng thiêu đốt của lễ trên bàn thờ để thanh tẩy tội lỗi của Isaia, tạo dựng một tâm hồn mới. Ơn gọi của Isaia đã phát sinh trong khung cảnh của một đền thờ, giữa bầu khí trật tự trong lúc nguyện cầu thinh lặng trước mặt Chúa. Sự lựa chọn của ông là kết quả của một sự tự do, tươi vui, hăng hái nhưng là một quyết định liều lĩnh, bởi vì nó dẫn đưa Isaia vào một cuộc đối thoại đổi đời, một cuộc phiêu lưu mạo hiểm với những hệ lụy không lường được.

Thánh Luca đoạn 5 kể lại ơn gọi của thánh Phêrô và các bạn chài đồng nghiệp. Trong tường thuật, thánh sử Luca không cố ý nhấn mạnh đến phép lạ mẻ lưới nhiều cá cho bằng nêu bật kết quả mà Lời Chúa có thể tác động trong thế giới và ngay tâm lòng con người. Do đó, mọi nhân tố của bài tường thuật đều mang một ý nghĩa lệnh lạc. Hồ Giênêsareth mênh mông dài 21 cây số, ngang 12 cây số, và sâu 45 thước diễn tả thế giới này. Lời Chúa là cái lưới đánh cá, Phêrô và các bạn chài và tất cả những ai có nhiệm vụ rao truyền Lời Chúa. Một đêm vất vả mỏi mệt và thái độ chán nản của Phêrô với các bạn chài đồng nghiệp diễn tả các đặc thái sinh hoạt của Giáo Hội cũng như các động tác các thừa tác viên Lời Chúa. Mỗi khi Giáo Hội và các thừa tác viên coi mình là trung tâm điểm, là nhân vật chính trong công tác rao truyền Tin Mừng, mỗi khi Giáo Hội và các thừa tác viên chỉ cậy dựa trên sức lực của mình, trên các phương diện tài chính, trên các con số, các nhân lực, làm thế các thừa tác viên Lời Chúa sẽ không được gì. Trừ khi nào biết có thái độ khiêm tốn, vâng lời, phó thác hoàn toàn nơi sức mạnh Lời Chúa và để cho Chúa chủ động hướng dẫn mọi sự, thì Giáo Hội và các thừa tác viên Lời Chúa mới được một mẻ lưới đầy cá.

Đối với tâm lòng của mỗi người, Lời Chúa có sức mạnh biến đổi toàn cuộc sống đó là điều đã xảy ra cho Phêrô. Phêrô lại chèo thuyền ra khơi thả lưới. Sự kết quả nghe Lời Chúa, Phêrô và các bạn đồng nghiệp nhận ra mình là người yếu hèn và tội lỗi. Chúa Giêsu chỉ chờ có thế và kêu mời các ông trở thành cộng sự viên của Ngài trong công tác loan báo Tin Mừng cứu độ cho toàn thế giới. Phêrô và các bạn đồng nghiệp đã gặp gỡ Chúa Giêsu ngay trong khung cảnh cuộc sống thường ngày của họ và các sinh hoạt nghề nghiệp, qua biến cố của nếp sống thường nhật, Chúa Giêsu kêu gọi họ trong chính khung cảnh và tình trạng sống vật chất và tinh thần hạn hẹp ấy của cuộc đời họ. Chúng ta tất cả cũng có thể gặp gỡ Chúa ở khắp mọi nơi và trong mọi lúc của cuộc đời chúng ta. Và mỗi một cuộc gặp gỡ sâu đậm thật sự với Chúa Giêsu và Lời Ngài có tác dụng biến đổi tâm lòng của cuộc sống chúng ta để trở thành những nhà truyền giáo. Vấn đề là chúng ta biết thái độ của thánh Phêrô hay không? “Vâng lời Thầy con thả lưới”.

Thư thứ nhất gởi cho giáo đoàn Côrintô đoạn 15, thánh Phaolô truyền lại cho giáo hữu Côrintô kinh Tin Kính của cộng đoàn Kitô tiên khởi tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết để đền bù tội lỗi cho loài người. Đấng đã bị chôn trong mồ và ngày thứ ba sẽ sống lại như lời Thánh Kinh. Thánh nhân cũng ghi lại những lần Chúa Kitô Phục sinh hiện ra cho các tông đồ, cho thánh Giacôbê, thủ lãnh của cộng đoàn Kitô hữu ở Giêrusalem và cho năm trăm môn đệ của cộng đoàn Kitô hiện thời. Và sau cùng, Chúa Kitô Phục sinh cũng đã hiện ra với thánh nhân trên đường Đamas, nghĩa là niềm tin vào Chúa Kitô Phục sinh là một kinh nghiệm sống động chớ không phải là một chuyện trừu tượng không chứng cớ. Kẻ sinh sau đẻ muộn thánh Phaolô, các biến cố đổi đời và ơn gọi của ngài là một cuộc tái sinh, bất ngờ gặp gỡ, không thể tưởng tượng được đối với một người chẳng những đã không tin vào Chúa Kitô mà lại còn bắt bớ thù ghét Chúa nữa. Trên con đường lòng tin, thánh nhân giống như một bào thai bị phá hoại và phải chết xa lòng mẹ. Những cuộc gặp gỡ bất ngờ với Chúa Kitô Phục sinh chẳng những đã trao ban cho thánh nhân cuộc sống mới trong ơn thánh, và còn cho thánh nhân trở thành tông đồ nhận lãnh từ Chúa Giêsu trong sứ mạng loan báo Tin Mừng cứu độ của Ngài cho muôn dân nữa. Ơn gọi Kitô là ơn gọi phát sinh từ một cuộc gặp gỡ đổi đời đối với Chúa Kitô Phục sinh. Những cuộc gặp gỡ ấy Chúa Kitô Phục sinh trao ban cho chúng ta sứ mạng làm chứng cho Ngài, và loan báo Tin Mừng cứu độ cho tất cả mọi người. Nhưng chúng ta có sẵn lòng nhận và ra đi như tiên tri Isaia, như thánh Phaolô, thánh Phêrô và các bạn đồng nghiệp của ngài hay không?

19.Chúa Nhật 5 Thường Niên

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA BIẾN ĐỔI CON NGƯỜI

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

Chủ đề nổi bật hơn cả trong Chúa nhật thứ V mùa Thường niên là “ơn gọi”. Chúa gọi Isaia (x. Is 6, 1-2a. 3,8), Phêrô (x. Lc 5,1-11) và Phaolô (1Cr 15,1-11). Cả ba đều thú nhận mình bất xứng, nhưng họ đã tin tưởng vào lòng thương xót và tha thứ, nhất là quyền năng của ơn thánh Chúa và sự đáp trả cách quảng đại của con người. Quả là lòng xót thương của Thiên Chúa biến đổi con người.

Chúa gọi Isaia

Trong một thị kiến uy nghi, Isaia cảm thấy mình hiện diện trước tôn nhan Thiên Chúa ba lần Thánh, khiến ông hoảng sợ và nhận ra sự vô phúc, bất xứng của chính mình. Nhưng một Thiên Thần Sốt Mến đã cầm cục than cháy đỏ thanh tẩy môi miệng ông, đồng thời xóa bỏ tội lỗi của ông: “Hãy nhìn xem, than lửa này đã chạm đến lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ, và tội của ngươi được thứ tha” (Is 6,7). Thế rồi ông cảm thấy sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa gọi, và thưa: “Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con” (x. Is 6,8). Sự thứ tha và lòng quảng đại của Thiên Chúa đã biến đổi Isaia thành đại ngôn sứ của Thiên Chúa.

Chúa gọi Phêrô

Tâm trạng trên cũng xảy ra trong câu chuyện mẻ cá lạ lùng được Luca thuật lại. Chúa Giêsu bước xuống thuyền của Simon, rồi ngồi trên thuyền mà giảng dạy dân chúng, có Simon ở bên để giữ cho thuyền khỏi tròng trành, còn Chúa Giêsu thì cố gắng giảng dạy đám đông. Về phương diện thể lý, Simon gần Chúa hơn, ông nghe Chúa rõ lời Chúa và lời Chúa thấm nhập vào ông. Vừa giảng xong, Chúa Giêsu bảo ông Simon: “Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu, và thả lưới bắt cá” (Lc 5,4). Phản ứng của Simon là: “Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới” (Lc 5,8). Lời Chúa Giêsu tác động mạnh lên Phêrô, đặt ông vào tình thế phải thả lưới bắt cá tiếp, dù kinh nghiệm ngư phủ là không thể. Phêrô tin vào lời Chúa Giêsu, đức tin được nuôi dưỡng bằng tình Thầy trò, đức tin tái tạo cái mới và tôn vinh khả năng của con người. Ông tin Chúa, nên bắt được một mẻ đầy cá.

Bảo Phêrô: “Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu”, là Chúa muốn ông bước ra ngoài sự toàn, thói quen, chắc chắn, “và thả lưới bắt cá”. Ðứng trước sự lạ lùng ấy, Simon Phêrô đã không ôm choàng lấy Chúa Giêsu để bầy tỏ lòng biết ơn vì thu lượm được nhiều cá quá sức mong đợi. Nhưng, theo như thánh sử Luca ghi lại, ông đã quỳ xuống trước mặt Người và thưa: “Lạy Chúa, xin tránh xa con đi, bởi vì con là một kẻ tội lỗi”(Lc 5,8). Chúa trấn an: “Ðừng sợ:từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta” (Lc 5,10); ông đã từ bỏ tất cả để đi theo Người.

Chúa Giêsu thật nhân lành! Phêrô, kẻ chài lưới, được Chúa gọi và trở nên nhà hùng biện đáng được ca ngợi nếu ông hiểu được công việc chài lưới người. Đó là tại sao thánh Phaolô gửi cho các tín hữu tiên khởi và nói: “Hãy coi đến, hỡi anh em, việc anh em được kêu gọi! Hẳn không có mấy người khôn ngoan xét theo xác thịt, không mấy người quyền thế, không mấy người tôn quí. Nhưng chính những điều thế gian coi là điên rồ, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc hạng khôn ngoan; và những điều thế gian coi là yếu đuối, thì Thiên Chúa đã chọn để bêu nhuốc những gì là mạnh mẽ.Những điều thế gian cho là ti tiện, là không đáng kể, thì Thiên Chúa đã chọn, những điều không không, để hủy ra không những điều có” (1Cr 1,26-28).

Vì nếu Chúa Giêsu chọn người hùng biện trước, người ấy có thể nói, “Tôi đã được chọn vì tài hùng biện của tôi” Nếu Chúa chọn làm một thượng nghị sĩ, thượng nghị sĩ có thể nói, “Tôi được chọn vì cấp bậc của mình”. Sau cùng, nếu Chúa chọn một hoàng đế, hoàng đế có thể nói, “Tôi được chọn vì khả năng của mình”.

Chúa gọi Phaolô

Phaolô, khi nhớ lại rằng mình đã từng là một kẻ bách hại Giáo hội, ông thú nhận mình không xứng đáng được gọi làm tông đồ, nhưng ông nhìn nhận rằng, Chúa Giêsu Phục Sinh đã thương xót ông và đã thực hiện nơi ông những điều kỳ diệu, và bất chấp con người có giới hạn của ông, Chúa còn trao cho ông nhiệm vụ và vinh dự được loan truyền Tin Mừng (x. 1Cr 15,8-10). Há chẳng phải lòng thương xót Chúa biến đổi con người ông sao?

Kinh nghiệm cuộc đời

Trong cả ba kinh nghiệm kể trên, chứng tỏ con người dù nghèo nàn và bất xứng, giới hạn và tội lỗi, kể cả mỏng dòn. Nhưng nếu gặp được Thiên Chúa là Ðấng giàu lòng xót thương và tha thứ, Chúa sẽ biến đổi con người. Isaia, Phêrô và Phaolô đã làm gương cho tất cả những ai được Chúa gọi thì hãy nhìn vào Chúa và lòng khoan nhân của Người, để thay lòng đổi dạ và hân hoan từ bỏ tất cả mọi sự vì Người.

Đây là lúc chúng ta kiên định và tin tưởng vào Lời hứa của Đấng đã không bao giờ bỏ chúng ta mồ côi. “Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới”(Lc 5,5). Câu trả lời của Phêrô tương tự như lời của Đức Maria tại tiệc cưới Cana: “Người bào gì thì phải làm theo” (Ga 2,5). Phải tin tưởng và thi hành thánh ý Chúa, nỗ lực của chúng ta mới hữu ích. Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Phêrô thật đơn giản nhưng sâu sắc, chúng ta có thể lấy làm của riêng của mình: giữa nơi sóng cả ba đào trong một thế giới tội lỗi, chúng ta đấu tranh và lội ngược dòng, tìm cách để loan báo Tin Mừng cách tốt nhất.

Mượn lời Phêrô chúng ta thưa Chúa: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi” (Lc 5,8). Thánh Irênê nói: ai nhận thức được bản chất tội lỗi của mình, thì người ấy có khả năng nhận biết tình trạng tạo vật của mình nữa. Chỉ có những người như Phêrô, mới chấp nhận những giới hạn của chính mình và nhận những thành quả tông đồ của mình. Chúa đã kêu gọi các Tông Đồ để trở thành kẻ lưới người, nhưng ngư dân đích thực chính là Chúa: trò giỏi không chỉ giỏi chài, mà còn bắt cá người giỏi. Điều này chỉ có hậu nếu chúng ta liều bỏ tất cả để theo Chúa.

Lạy Mẹ Maria, chúng con phó thác đời chúng con cho Mẹ. Xin Mẹ gợi lên nơi mỗi người chúng con lòng ước muốn đáp lại “Xin Vâng” với Chúa trong niềm hân hoan vui sướng. Amen.

20.Mau mắn đáp lời Chúa gọi

(Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái)

“Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Ngài”

(Lc 5,11)

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Từ Chúa nhật đầu mùa Thường niên, chúng ta đã từng bước đi theo hành trình sứ vụ của Chúa Giêsu. Hôm nay Phụng vụ dẫn chúng ta tới lúc Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên là Simon Phêrô, Giacôbê và Gioan. Điểm đáng chú ý trong chuyện này là các ông đã mau mắn bỏ hết mọi sự để đi theo Chúa.

Ngày hôm nay Chúa vẫn tiếp tục kêu gọi chúng ta. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng Ngài và hãy mau mắn đi theo Ngài.

II. Gợi ý sám hối

Vì mải mê lo những công việc thế tục, chúng ta đã phớt lờ đi những lần Chúa lên tiếng kêu gọi chúng ta.

Có nhiều thứ chúng ta quá quyến luyến nên không thể từ bỏ mặc dù biết là nó xấu.

Cũng như thánh Phêrô ngày xưa, giờ đây chúng ta hãy khiêm tốn thưa cùng Chúa: “Lạy Chúa, con là kẻ tội lỗi”.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Is 6,1-8)

Tường thuật ơn gọi của Isaia. Chúng ta hãy để ý đến tâm trạng và phản ứng của ông:

Trong một thị kiến, Isaia thấy mình đang ở trong Đền thờ. Qua những hiện tượng đặc biệt như cảnh các thiên thần tung hô, các cửa đền thờ rung chuyển, đền thờ nghi ngút khói v.v. Isaia, biết là có Thiên Chúa đang hiện diện.

Cảm giác đầu tiên của Isaia là thấy mình quá tội lỗi khi đứng trước Thiên Chúa thánh thiện.

Nhưng khi Thiên Chúa sai một thiên thần thanh tẩy Isaia và sau đó mời gọi ông làm ngôn sứ, thì Isaia đã mạnh dạn đáp lời.

2. Đáp ca (Tv 137)

Đây là bài ca được hát trong đền thờ, “giữa chư vị thiên thần, con đàn ca kính Chúa”. Thánh vịnh này rất hợp với tâm tình của Isaia khi được Chúa kêu gọi.

3. Tin Mừng (Lc 5,1-11)

Bài tường thuật việc Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên trong Tin Mừng Luca có nhiều chi tiết hơn bài tường thuật ngắn gọn trong Mt 4,19-22:

Họ đang giặt lưới để dẹp cất, vì suốt đêm đánh không được con cá nào.

Chúa Giêsu bảo họ thử đánh một mẻ nữa. Phêrô không tin vào sự thành công, nhưng nễ lời Ngài nên ông thả lưới.

Một mẻ lưới nhiều cá quá sức tưởng tượng đã khiến Phêrô và các bạn khám phá ra thân phận siêu phàm của Chúa Giêsu đồng thời cũng ý thức thân phận hèn hạ tội lỗi của mình.

Khi đó Chúa Giêsu lên tiếng gọi họ theo Ngài làm môn đệ. Và họ đã từ bỏ mọi sự để theo Ngài.

4. Bài đọc II (1 Cr 15,1-11)

Nhiều người chống đối Phaolô, cho rằng ông không đủ tư cách làm tông đồ.

Để trả lời họ, Phaolô nói rằng tất cả những gì ông rao giảng đều là những gì ông đã lãnh nhận từ giáo huấn của Chúa Giêsu. Phaolô cũng chứng mình rằng chính Chúa Giêsu đã chọn ông như đã chọn các tông đồ khác.

IV. Gợi ý giảng

* 1. Chúa gọi

Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta hiểu được rất nhiều điều về ơn gọi.

a/ Con người không chọn Chúa, mà chính Chúa kêu gọi con người: Isaia tin có Chúa đang hiện diện trong Đền thờ, nhưng ông không dám nghĩ tới việc được “thấy” Chúa và được Ngài “gọi” (bài đọc I). Phaolô đang trên đường lùng bắt các môn đệ Đức Kitô thì được gọi (bài đọc II). Còn Phêrô và các bạn chài thì đang lo đánh lưới bắt cá nhưng lại được gọi làm những kẻ quăng lưới bắt người (bài Tin Mừng). Đúng như lời Chúa Giêsu nói: “Không phải các con chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con”.

b/ Có khi ơn gọi phát sinh từ một cuộc gặp gỡ đặc biệt với Chúa. Cuộc gặp gỡ đặc biệt làm nẩy sinh một cảm nghiệm sâu sắc. Rồi cảm nghiệm sâu sắc cuốn hút con người vào một tương quan thân thiết mới mẻ với Chúa. Như trường hợp của Isaia, ông vẫn biết Thiên Chúa là Đấng vĩ đại và mạnh mẽ hơn các thần khác. Nhưng hôm ấy trong Đền thờ ông biết thêm rằng Ngài là Đấng hoàn toàn khác, là Đấng thánh gấp 3 lần. Điều đó khiến ông xúc động mạnh. Ông diễn tả cảm xúc mạnh mẽ ấy qua những hình ảnh các trụ của đền thờ rung chuyển và khói tỏa mịt mù khắp Đền thờ. Còn Phaolô thì mô tả việc Chúa gọi ông đột ngột như “một đứa trẻ sinh non” trước khi đủ ngày đủ tháng. Phần Phêrô, mẻ cá lạ làm ông chợt nhận ra Chúa Giêsu không phải chỉ là con người mà còn là Đức Chúa, đồng thời ông ý thức thân phận tội lỗi bất xứng của mình. Ông đã thốt lên “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”.

c/ Nhưng nhiều khi Chúa gọi con người trong những hoàn cảnh rất bình thường. Như Phêrô và các bạn khi ấy đang làm công việc thường ngày là đánh cá. Hoàn cảnh thì bình thường, nhưng ý nghĩa lại đặc biệt: nó khiến con người khám phá một chân lý quan trọng, nó thôi thúc con người làm một cuộc lựa chọn mới mẻ chuyển hướng cả cuộc đời. Hôm đó Phêrô và các bạn đã bỏ tất cả mà đi theo Chúa Giêsu.

Dù gặp Chúa trong hoàn cảnh đặc biệt hay trong cuộc sống bình thường, hễ gặp được Chúa thì cuộc đời chắc chắn sẽ biến đổi.

* 2. Bất xứng và tín nhiệm

Ba bài tường thuật ơn gọi hôm nay đều có những nét giống nhau:

Tất cả những người được gọi đều cảm thấy bất xứng: Isaia thốt lên “Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế”; Phaolô tự nhận “Tôi là người hèn mọn nhất trong số các tông đồ, tôi không đáng được gọi là tông đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa”; Phêrô thì sấp mình xuống dưới chân Chúa Giêsu “Lạy Chúa xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi”.

Nhưng tất cả đều được Thiên Chúa tín nhiệm: Isaia được trao sứ mạng ngôn sứ; Phêrô được chọn làm tông đồ; Phaolô được sai đi làm tông đồ cho lương dân.

Dù biết mình bất xứng mà Thiên Chúa vẫn tín nhiệm, nên các ngài đã nhiệt thành chu toàn sứ mạng được trao phó: Isaia mạnh dạn thưa lại với Chúa “Dạ con đây, xin sai con đi”; Phêrô “đưa thuyền vào bờ rồi bỏ hết mọi sự mà theo Ngài”; Phaolô dám khoe “Tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là Thiên Chúa ở cùng tôi”.

* 3. Thành quả vàng son

Thánh Gioan Vianney, lúc còn là chủng sinh, học rất chậm. Ngày kia, một giáo sư thần học, thừa lệnh Đức Giám Mục đến khảo sát Vianney xem có đủ khả năng học vấn để tới chức linh mục chăng?

Tuy đã dốc hết sức học hành, Vianney vẫn không thể trả lời được câu nào cho trôi chảy.

Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn nói: “Vianney, anh dốt đặc như con lừa! Với một con lừa như anh, Giáo Hội hy vọng làm nên trò trống gì”.

Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: “Thưa cha, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại 3000 quân Philitinh. Vậy với cả một con lừa này, Thiên Chúa không làm được việc gì sao?”

***

Quả thật, con lừa của Thiên Chúa đó, sau này không chỉ trở thành một cha sở, mà còn được tôn phong làm thánh bổn mạng của các cha sở.

Hôm nay, Simon cũng vất vả suốt một đêm chài lưới mà không bắt được một con cá nào, nhưng: “Vì lời Thầy con sẽ thả lưới” (Lc 5,5). Và lạ thay, một mẻ cá lớn bất ngờ, đến nỗi lưới hầu như sắp rách. Trước tình thế này, Simon chỉ còn biết bỏ thuyền, chạy đến sấp mình dưới chân Chúa Giêsu mà nói: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8).

Kẻ nhận mình là tội lỗi yếu hèn đó, sau này đã trở thành Phêrô, người thuyền trưởng của con thuyền Giáo Hội.

Có một điểm gì đó rất giống nhau, rất tương đồng giữa Vianney và Phêrô. Đó chính là nhận mình yếu hèn khuyết điểm và hoàn toàn để Chúa lèo lái điều khiển đời mình. Nhờ đó, Chúa đã ban tặng cho các ngài những đậc ân vô cùng lớn lao. Vì ơn Chúa chỉ ban xuống cho những kẻ khiêm nhượng.

“Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không bắt được gì hết. Nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới” (Lc 5.5). Đây là lời bày tỏ sự bất lực của con người, để chính sự bất lực này sẽ làm nổi bật quyền năng của Thiên Chúa: Chính sự vâng phục của con người trước uy quyền của Thiên Chúa sẽ đem lại hiệu quả vượt sức tự nhiên loài người.

Từ vâng phục dẫn đến phép lạ, từ phép lạ dẫn đến niềm tin: Trước mẻ cá, Simon xưng Chúa Giêsu là Thầy: “Vì lời Thầy, con sẽ thả lưới”, nhưng sau mẻ cá diệu kỳ, người lại tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Qua phép lạ mẻ cá, Simon đã nhận ra quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu và đã tin vào Người. Đây chính là lời tuyên xưng thiên tính nơi Chúa Giêsu.

Chính khi tin vào quyền năng Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu, mà Simon đã ý thức thân phận tội lỗi bất xứng của mình trước sự thánh thiện vô song của Thiên Chúa. Đó cũng là kinh nghiệm của ngôn sứ Isaia trước Thiên Chúa: “Khốn cho tôi, tôi chết mất, vì lưỡi tôi dơ bẩn” (Isaia 6, 5). Nhưng sau khi được than hồng là lửa tình thương Chúa thanh tẩy, ông đã mau mắn xin vâng, ra đi làm ngôn sứ cho Chúa: “Lạy Chúa, xin hãy sai con”. Hôm nay, Chúa cũng trấn an Phêrô: “Đừng sợ hãi, từ đây các con sẽ là kẻ chinh phục người ta” (Lc 5,10). Thành ngữ này thường gặp trong Cựu ước, để trấn an con người hãy tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa. Ở đây Chúa Giêsu muốn trấn an các Tông đồ, đặc biệt ba vị là Phêrô, Giacôbê và Gioan, để các ngài tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa khi đón nhận và thi hành sứ mạng Chúa giao.

Quả thật, ngay sau đó các Tông đồ đã “bỏ mọi sự mà đi theo Người ” (Lc 5, 11). Đó là ơn gọi của Phêrô, con người đã gặp gỡ Chúa và đã được Chúa thu hút chinh phục, để rồi Phêrô lại ra đi chinh phục các tâm hồn về cho Người.

Trước khi gặp Chúa, Simon dù có vất vả suốt đêm cũng không được một con cá nào; sau khi gặp Chúa, Chúa đã hướng dẫn ngài kéo lên một mẻ cá bội thu. Nhưng dù cá có nhiều đến rách lưới ngài cũng không màng, vì từ đây mục đích đời ngài không phải là thành quả vàng son mà chính là Chúa mà thôi.

***

Lạy Chúa, từ bỏ mọi sự là điều kiện để đi theo Người. Xin cho chúng con một đức tin can đảm, dám từ bỏ những gì chúng con đã từng bám víu, cũng chẳng sợ thiệt thòi khi đã hiến dâng.

Xin cho chúng con một đức tin liều lĩnh, sẵn sàng mất đi tất cả, để chỉ xin giữ trọn một mình Chúa mà thôi. Vì Chúa chính là gia nghiệp và là phần phúc cuộc đời chúng con. Amen. (Thiên Phúc)

* 4. Thất bại và thành công

Phêrô và các bạn “đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”. Chán nản, mỏi mệt, các ông không đánh cá nữa và đi giặt lưới.

Cho dù đã làm hết sức mình nhưng con người vẫn có thể gặp thất bại. Người học sinh luyện thi rất chăm chỉ, nhưng rồi thi rớt. Vận động viên thể thao cố gắng chơi hết sức mình, vậy mà lại thua. Cha mẹ đã làm tất cả để giáo dục con nên người tốt, nhưng nó lại làm người xấu. Hầu hết chúng ta đều có khi gặp thất bại như thế.

Khi Phêrô và các bạn bị thất bại, Chúa Giêsu có thể trách các ông “Các anh đã hành nghề bao nhiêu năm trời rồi, thế sao đánh lưới suốt đêm mà không bắt được con cá nào hết vậy?” Nhưng Ngài đã không trách. Tại sao? Vì Ngài thông cảm với các ông. Đã cố gắng hết mình rồi mà vẫn thất bại, điều đó đã làm các ông đau khổ lắm rồi. Không cần trách móc để các ông càng đau khổ thêm. Thất bại đã là một vết thương, không cần sát muối vào cho nó càng xót xa thêm.

Điều người ta cần khi bị thất bại là có ai đó vẫn tin mình, an ủi mình và khuyến khích mình vươn lên. “Thất bại không phải là ngã quỵ, mà là không chịu vươn lên”.

Vả lại, thành công là gì? Thành công không phải là tất cả. Ta có thể thành công cãi thắng một cuộc tranh luận, nhưng rồi bị mất một người bạn. Ta có thể thành công trong cuộc tranh dành một địa vị cao hơn, nhưng sau đó các mối tương quan với đồng nghiệp trở thành lạnh nhạt hơn. Hương vị của ly rượu thành công có thể rất ngọt ngào ngây ngất ngay lúc đó, nhưng về sau hầu hết đều cạn dần và cuối cùng là trống rỗng.

Chúa Giêsu không trách Phêrô và các bạn, nhưng Ngài không cho các ông cứ ở đó mãi để gậm nhấm nỗi chua cay. Ngài kích thích họ làm lại: “Hãy chèo ra chỗ nước sâu và thả lưới bắt cá”.

Emerson nói rằng mỗi người chúng ta đều có một tiềm năng to lớn, giống như một căn phòng, một vòi nước chưa bao giờ được mở ra. Cần có ai đó chỉ cho ta biết tiềm năng đó và khuyến khích chúng ta mở ra: “Hãy chèo ra chỗ nước sâu”.

Chúa Giêsu biết Phêrô yếu đuối tội lỗi, nhưng Ngài cũng biết ông có khả năng làm được những việc to lớn. Ngài không kích thích chỗ yếu đuối tội lỗi của ông, nhưng kích thích đúng vào tiềm năng của ông. Nhờ được kích thích, các ông đã thả lưới bắt được nhiều cá. Sau đó các ông còn hăng hái bỏ mọi sự để theo Ngài thả lưới bắt người.

Con người thường thất bại. Nhưng con người cần có người tin tưởng và khuyến khích để lại vươn lên, vì “Từ thành công đền thất bại chỉ là một bước. Nhưng từ thất bại đến thành công là cả một con đường dài” (Yiddish) (FM)

* 5. “Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới”

Ban đêm là lúc thuận tiện để đánh cá. Nếu một người nào khác nói với Phêrô “Hãy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”, có lẽ ông đã vặn lại “Bộ anh khùng hả? Anh muốn cho tôi thành trò cười cho các bạn chài khác sao? Đã thả lưới suốt đêm mà không bắt được con cá nào thì làm sao mà bắt được nữa khi trời đã sáng”.

Nhưng vì người nói câu đó là Chúa Giêsu nên Phêrô đã không vặn lại như thế. Ông cũng trình bày quan điểm của mình “Thưa Thầy, chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”, nhưng liền sau đó thì vâng lời “Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới”. Đối với Phêrô, lời nói của Chúa Giêsu không như lời của những người khác, vì nó có uy tín mà lời của bất cứ ai khác đều không có. Bởi thế, nếu Chúa Giêsu đã bảo, thì cho dù tình thế có vô vọng bao nhiêu đi nữa, cho dù ông đã mệt mỏi bao nhiêu đi nữa, và cho dù người ta có thể nhạo cười bao nhiêu đi nữa, Phêrô cũng phải vâng theo.

Phêrô đã tin tưởng tuyệt đối vào Chúa Giêsu. Tin vào lời Ngài, ông đã thử làm điều bất khả. Sau này chúng ta lại thấy ông tin vào lời Chúa Giêsu mà bước đi trên mặt biển.

Chúa Giêsu chẳng những bảo ông thả lưới bắt cá, mà còn bảo ông làm môn đệ, chia xẻ sứ mạng của Ngài. Phêrô có đức tính gì mà được Chúa Giêsu mời gọi như thế? Đức tính thứ nhất và quan trọng nhất Chúa Giêsu thấy nơi Phêrô là Tin vào Lời Ngài. Đức tính thứ hai là Khiêm tốn.

Câu chuyện Tin Mừng hôm nay không chỉ là chuyện về đánh cá, mà còn là chuyện về lòng tin tưởng. Vì Phêrô tin tưởng vào lời Chúa Giêsu, nên Ngài chẳng những bảo ông thả lưới lại một lần nữa, mà còn kêu gọi ông lãnh nhận một sứ mạng quan trọng hơn “Từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”.

Mọi kitô hữu chúng ta cũng đều được Chúa gọi như Phêrô. Và điều quan trọng nhất Ngài chờ đợi nơi chúng ta là tuyệt đối tin tưởng vào Ngài. (FM)

* 6. Một bước khởi đầu tốt đẹp

Isaia, Phaolô và Phêrô là những gương mặt trung tâm của các bài đọc hôm nay. Cả ba đều đã làm được những việc trọng đại cho Chúa. Tuy nhiên cả ba, ai cũng mang mặc cảm thấp hèn, coi mình là người yếu kém. Các ngài không tự mình tiến lên phía trước, nhưng được Chúa mời gọi tiến lên. Các ngài đáp lại tiếng Chúa gọi một cách miễn cưỡng vì biết mình không xứng đáng.

Bước đi đầu tiên với nhận thức về thân phận bất xứng của mình, xét theo phương diện đạo đức, đó là một bước khởi đầu rất tốt. Người nào quá tự tin tiến về phía trước thì thường làm hại hơn là làm tốt, vì người đó dựa vào khả năng của mình và tìm kiếm vinh dự cho mình. Kiêu căng và tự phụ chỉ là cát, mà xây nhà trên cát thì sẽ sụp đổ thôi.

Ngược lại, khi ta gặp người nào biết sợ, biết lo thì ta có thể tin tưởng người đó. Thánh Phaolô nói một câu rất nghịch lý: “Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,10). Nghịch lý nhưng rất có lý, bởi vì khi Ngài biết mình yếu thì Ngài tìm về Chúa, và chính sức mạnh của Chúa làm cho Ngài mạnh.

Khi ta biết mình yếu, Chúa sẽ thêm sức cho ta. Khi ta biết mình trống rỗng, Chúa sẽ đong đầy cho ta. Khi ta biết mình nghèo nàn, Chúa sẽ làm giàu cho ta. Khi đó ta sẽ có thể làm được công việc của Ngài, và Ngài sẽ hoàn thành trong ta những điều ta không làm nổi.

Khiêm tốn là một bước khởi đầu tốt. Nhưng không phải vì thế mà ta cứ khăng khăng chối từ. Như thế chỉ là hèn nhát, lười biếng và ích kỷ. Cứ như thế thì ta không thể cứu nổi mình, càng không thể cứu ai khác. Isaia nói rằng môi miệng ông ô uế, nhưng Chúa đã sai thiên thần lấy than hồng thanh tẩy miệng ông. Phêrô xin Chúa lánh xa ông, nhưng Chúa gọi ông chia xẻ sứ mạng của Ngài. Chúa không chê bỏ người tội lỗi, trái lại Ngài đến với những kẻ tội lỗi, để cứu họ, và để mời họ hợp tác cứu những người tội lỗi khác. Chúa giúp những người tội lỗi đi bước đầu.

Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta lòng khiêm tốn để nhận biết sự yếu đuối của mình. Chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta sức mạnh để chúng ta vượt lên sự yếu đuối ấy. Rồi chúng ta hãy mạnh dạn làm theo Lời Ngài dạy bảo. Khi đó chúng ta sẽ vui mừng cảm nhận được như Phaolô là “khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh” (FM)

V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, vì yêu thương mà Chúa đã chọn chúng ta làm người Kitô hữu, làm tông đồ của Chúa. Với tâm tình cảm tạ tri ân, chúng ta cùng dâng lời cầu xin:

1. Hội thánh là Nhiệm Thể của Chúa Giêsu Kitô / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa tuôn đổ ơn Thánh thần xuống trên Hội thánh / để Hội thánh ngày càng được tinh tuyền / vững mạnh / và phát triển không ngừng.

2. Hằng năm / thiên tai vẫn hoành hành ở nhiều nơi trên thế giới / gây ra biết bao tang tóc cho nhân loại / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban cho mưa thuận gió hòa / để mọi người được sống trong cảnh an cư lạc nghiệp.

3. Chúa Giêsu bảo thánh Phêrô: / Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá / Chúng ta hiệp lời cầu xin / cho những anh chị em đã từ bỏ mọi sự mà dấn thân theo Chúa hiểu rằng / nếu vâng theo thánh ý Chúa / họ sẽ thu được những kết quả bất ngờ.

4. Đời sống đức tin của người Kitô hữu / không chỉ giới hạn trong việc đọc kinh / tham dự thánh lễ / lãnh nhận các bí tích ở nhà thờ / mà còn phải thể hiện ngoài xã hội nữa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết thể hiện niềm tin của mình / bằng đời sống bác ái yêu thương đối với hết thảy mọi người.

Chủ tế: Lạy Chúa, Chúa đã mời gọi chúng con từ bỏ mình và vác thập giá mà theo Chúa. Xin cho tất cả chúng con luôn cố gắng thực hiện lời mời gọi quan trọng ngày. Chúng con cầu xin…

VI. Trong Thánh Lễ

– Trước Kinh Lạy Cha: Chúa Cha đã sai Chúa Giêsu mang Tin Mừng cứu độ cho loài người. Chúa Giêsu lại kêu mời chúng ta chia xẻ sứ mạng ấy. Cùng với Chúa Giêsu, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện lên Chúa Cha.

VII. Giải tán

“Hãy ra khơi thả lưới”. Đó là lời Chúa mời gọi chúng ta. Chúng ta hãy mau mắn đáp lại như Phêrô xưa. Chúc anh chị em ra đi bình an.

21.Thiên Chúa kêu gọi con người

(Suy niệm của Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

A. DẪN NHẬP.

Có thể nói chủ đề của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay là “Ơn gọi”. Thiên Chúa muốn con người tham gia vào công cuộc cứu chuộc của Ngài. Vì thế, mỗi người đều có ơn gọi làm tông đồ, hay nói cách khác, mỗi người có ơn gọi làm chứùng nhân.

Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa xa cách mà gần gũi với con người, Ngài muốn cho con người gặp Ngài khi Ngài muốn để cho kẻ ấy có kinh nghiệm đặc biệt về Ngài và chọn kẻ ấy làm chứng nhân. Chuyện đã xẩy ra như thế cho Isaia, cho Phêrô và các bạn, cho Phaolô. Chuyện đã xẩy ra cho họ ngày xưa chính là chuyện đời của mỗi người chúng ta, chuyện ơn gọi của cá nhân chúng ta hôm nay.

Dựa trên phép Rửa tội và Thêm sức, mỗi Kitô hữu có nhiệm vụ phải làm chứng cho Chúa trong đời sống thường ngày. Ngày xưa, các Tông đồ đã lãnh nhận sứ mạng đi truyền giáo, ngày nay Giáo hội và mỗi người chúng ta cũng phải tiếp tục công việc của các ngài. Với tư cách là một Kitô giáo dân, mỗi người có trách nhiệm tham gia vào việc tông đồ giáo dân như công đồng Vatican II đã dạy. Việc tông đồ giáo dân phải được thực hiện trong môi trường sống hằng ngày của mỗi người.

B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

+ Bài đọc 1: Is 6,1-2a.3-8.

Ngày nay Thiên Chúa không còn tỏ mình ra nơi sa mạc hay trên núi nữa. Ngày nay Thiên Chúa ba lần chí thánh tỏ vinh quang của Ngài ra cho tiên tri Isaia trong đền thờ. Trong một thị kiến, Isaia thấy mình đang ở trong đền thờ, qua những cảnh huy hoàng và ngoạn mục ông trông thấy, Thiên Chúa vô cùng thánh thiện, ông cảm thấy mình tội lỗi quá, vô cùng bất xứng nên đã kêu lên:”Khốn thân tôi, chết tôi rồi, vì tôi là một người môi miệng ô uế…” Nhưng khi Thiên Chúa sai thiên thần thanh tẩy miệng lưỡi ông, tha thứ tội cho ông và sau đó gọi ông làm tiên tri, thì ông đầy lòng tin tưởng và mạnh dạn đáp lời:”Có con đây, xin Chúa sai con đi”(Is 6,8). Và Isaia đã trung thành làm chứng về lòng tin của mình.

+ Bài đọc 2: 1Cr 15,1-11.

Tại Corintô, nhiều người chống đối Phaolô, cho rằng ông không đủ tư cách làm Tông đồ. Ngài cũng ý thức về điều đó. Ngài tự coi mình là tông đồ nhỏ nhất như đứa con sinh sau đẻ muộn, nhưng dù sao, ông cũng được Chúa chọn làm tông đồ để đi rao giảng Đấng Phục sinh cho dân ngoại. Ngài đã truyền đạt cho họ những điều chính yếu mà Ngài đã nhận được, đó là mầu nhiệm Phục sinh và lời chứng về Đấng Phục sinh của những người có thẩm quyền.

Ngày nay Giáo hội vẫn rao giảng mầu nhiệm đó, và cũng vẫn trung thành rao giảng vì niềm tin này chính là nền tảng cho đời sống Kitô hữu chúng ta.

+ Bài Tin mừng: Lc 5,1-11.

Không phải vô cớ mà thánh Luca nối kết ơn gọi của Tông đồ với một mẻ cá đặc biệt dồi dào. Theo Ngài, rao giảng Tin mừng là một việc cứu nạn, kéo nhân loại ra khỏi chỗ đắm chìm. Tông đồ là kẻ thu phục người ta. Nói cách khác, một người giải phóng.

Bài Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện về mẻ cá lạ lùng. Phép lạ này gợi lên cho ta mấy ý tưởng:

– Sở dĩ có phép lạ này vì Phêrô không tin vào sự thành công của mình, nhưng vì nể lời Chúa ông mới thả lưới.

– Thuyền đầy cá là hình ảnh báo trước là hình ảnh nhân loại sẽ tin theo Chúa, gia nhập vào Giáo hội và Giáo hội sẽ được lan truyền khắp nơi.

– Mẻ cá lạ lùng khiến các ông nhận ra uy quyền của Đức Giêsu và đồng thời nhận ra sự yếu đuối bất lực và thân phận tội lỗi của mình:”Lạy Thầy, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”.

– Các môn đệ cứ đi rao giảng Tin mừng, còn việc có nhiều người ăn năn trở lại, vâng theo Tin mừng hay không, là việc của Chúa.

– Qua biến cố này, các ông đã bỏ mọi sự mà đi theo Chúa. Các ông đã mau mắn đi theo tiếng Chúa gọi để đi truyền giáo.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

Sống ơn gọi làm Tông đồ.

I. CHÚA KÊU GỌI CON NGƯỜI.

Qua các bài đọc trong Thánh lễ hôm nay, Giáo hội muốn cho chúng tôi nhận ra ý nghĩa của việc tông đồ trong Giáo hội, để nhờ đó, chúng ta đáp lại tiếng Chúa gọi bằng cách quảng đại dâng hiến cuộc đời cho Chúa và sẵn sàng theo Chúa làm việc tông đồ.

Truyện: Tổng thống Abraham Lincoln.

Một ngày nọ, Tổng thống Abraham Lincoln đi đến thành phố Charleston, tiểu bang South Carolina. Khi đi ngang qua trung tâm thành phố, ông trông thấy người ta đang tổ chức một cuộc đấu giá buôn bán nô lệ. Chứùng kiến cảnh buôn bán người, tận đáy linh hồn ông cảm thấy bị khuấy động lên cơn giận dữ của Thiên Chúa, và một nỗ lực phải làm để cứu những người nô lệ. Do đó ông đã làm một điều độc đáo và bất thường nhất. Ôâng bước vào trong đám đông, khi cuộc trả giá bắt đầu, trước tiên là một em gái nô lệ rất nghèo, ông đã bước ra trả giá trước. Cuộc đấu giá càng lúc càng sôi động, ông tham gia rất tích cực, và sau cùng đã trúng giá, đánh hạ tất cả mọi người. Ôâng trao tiền để lấy người nô lệ. Cô bé gái được đem đến cho ông. Con bé sợ hãi hỏi ông sẽ làm gì đối với nó. Abraham Lincoln trả lời:”Tôi sẽ để cho cô được tự do”. “Tự do? Tự do để làm gì”? Cô bé kinh ngạc hỏi. Ôâng trả lời:”Tự do để làm bất cứ cái gì cô muốn”. Cô bé thắc mắc có phải mình được tự do đi đến bất cứ chỗ nào cô muốn, làm bất cứ điều gì cô thích, nói bất cứ điều gì cô nghĩ, và làm bất cứ nghề nào cô ước muốn. Sau cùng cô bé mỉm cười và nói:”Cháu sẽ đi theo ông”.

Abraham Lincoln đã chứng tỏ cho chúng ta thấy, ông là một con người gương mẫu và biết cách “kêu gọi” dân chúng “theo ông”. Ôâng đã gọi họ bằng chính gương sáng của mình. Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu kêu gọi Phêrô, rồi Giacôbê, Gioan và Anrê cũng đi theo Ngài. Đức Giêsu đã cho họ biết Ngài là ai qua việc giảng dạy, chữa lành, và bằng các đức tính tốt lành, nhân từ và tha thứ của Ngài.

1. Ơn gọi của các Tông đồ.

Hồ nước lớn danh tiếng tại Galilê được gọi bằng 3 tên: biển Galilê, biển Tibêriat và hồ Giênêxaret. Hồ này dài 20,8 km, rộng 12,8 km. Hồ ở vào chỗ trũng của mặt đất, nơi sâu nhất là 225 mét dưới mặt biển, vì thế nó có khí hậu giống khí hậu nhiệt đới. Ngày nay cư dân không đông đúc lắm, nhưng vào thời Đức Giêsu, có 9 thị trấn chung quanh bờ hồ, không thị trấn nào dưới 15.000 người.

Đức Giêsu rao giảng Tin mừng ở đây, dân chúng chen nhau lại gần để nghe Ngài giảng. Việc đó diễn tả hiệu quả hấp dẫn do lời giảng dạy của Ngài. Vì dân chúng quá đông nên Đức Giêsu phải xuống thuyền của ông Simon đang đậu gần bờ, ra xa bờ một chút để có thể dễ dàng giảng dạy… Giảng dạy xong, Đức Giêsu bảo ông Simon đưa thuyền ra chỗ nước sâu mà bắt cá. Simon, một ngư dân dày kinh nghiệm trong nghề chài lưới, đã cho Chúa biết kết quả thạm bại: sau một đêm cực nhọc vất vả mà chả bắt được con cá nào. Ôâng nói đúng, nhưng không biết nghĩ ngợi thế nào, ông đã thưa với Chúa:”Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới”. Kết quả thật bất ngờ, cá nhiều vô kể đến nỗi lưới muốn rách.

Đây là một phép lạ? Hồ Giênêsaret có nhiều cá. Nhưng suốt đêm các ông không bắt được gì mà bây giờ bắt được nhiều như thế là một phép lạ. Biết được chỗ có nhiều cá, để bảo Simon thả lưới phải do sự hiểu biết của Thiên Chúa. Thường thì ban ngày ít đánh được cá hơn ban đêm, đây ban đêm không được gì mà ngày thì lại được cá nhiều quá sức tưởng tượng thì phải coi là cái gì khác thường. Chính những người bắt cá xác nhận là phép lạ.

Trước mẻ cá lạ lùng này, ông Simon sụp lạy dưới chân Ngài và thưa:”Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Cả ông Giacôbê và Gioan cũng kinh ngạc như ông. Nhung Đức Giêsu phán bảo ông Simon:”Đừng sợ ! từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Bấy giờ các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Ngài.

Đây là những môn đệ đầu tiên đi theo Ngài. Họ đi theo Ngài từ đây. “Đi theo” theo nghĩa thần học, động từ này ám chỉ sự dâng hiến chính mình, thoát khỏi mọi sự ràng buộc. Vì thế ở đây ta liên tưởng đến ý nghĩa từ bỏ của cải vật chất (Mc 10,21), từ bỏ cha mẹ, bạn bè và tất cả (Lc 5,11).

2. Ơn gọi của tiên tri Isaia.

Tiên tri Isaia, trong bài đọc 1, được chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa và nghe tiếng các Thiên Thần Sốt mến luân phiên tung hô:”Thánh, thánh, thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, trời đất đầy vinh quang Chúa”. Điều đó khiến ông run sợ và cảm thấy mình bất xứng, nên đã thốt lên lời:”Vô phúc cho tôi, tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn”. Trước sự khiêm tốn ấy, Chúa sai sứ thần đến thanh tẩy ông bằng than lửa hồng, ông trở nên thanh sạch và được Chúa tuyển chọn, ông đã can đảm đáp lại:”Này con đây, xin hãy sai con”.

3. Ơn gọi của tông đồ Phaolô.

Thánh Phaolô, trong bài đọc 2, sau khi được Chúa kêu gọi và cải hóa từ tay bắt bớ Đạo Chúa, nay trở nên một vị Tông đồ nhiệt thành truyền bá giáo lý của Chúa, là thầy dạy dân ngoại. Ngài đã khiêm tốn thú nhận mình hèn mọn nhất trong các Tông đồ, nhưng nay được như thế này là nhờ ơn Chúa ban. Bởi ngài đã can đảm đáp lại tiếng Chúa gọi khi thưa với Chúa:”Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì”?

Phaolô là con người đầy nhiệt huyết, đã đi vòng quanh đế quốc La mã 4 lần, đã đưa dân ngoại vào Đạo. Làm sao cắt nghĩa được nội tâm của con người đầy lửa ấy? Thưa vì người đã gặp gỡ Chúa Kitô. Cuộc gặp gỡ đó đã đảo lộn cuộc đời Phaolô, từ một kẻ bắt bớ tín hữu trở nên một Tông đồ nhiệt thành. Tất cả là ơn của Chúa và Ngài vui mừng vì được trả giá rất cao để “Ơn Chúa không ra vô ích”: 5 lần bị đánh đòn 39 trượng, 3 lần bị tra tấn, một lần bị ném đá, 3 lần bị đắm tầu một ngày một đêm chơi vơi trong lòng biển (2Cr 12,24-25).

4. Ơn gọi của chúng ta.

Chúa vẫn còn kêu gọi mọi người chúng ta, và ngày nay nhu cầu ấy càng to lớn. Và vẫn còn có những người đáp lại lời Ngài. Một số người (như các Tông đồ) được kêu gọi để tận hiến mình, đi theo Đức Kitô bằng một phương thế “chuyên nghiệp”. Nhưng không phải mọi Kitô hữu đều được kêu gọi theo Đức Kitô bằng cách ấy.

Bằng phép Rửa tội, chúng ta cũng được kêu gọi đi theo Đức Kitô. Nhưng đối với một người bình thường, đi theo Đức Kitô có nghĩa là gì? Là sống xứng danh một Kitô hữu trong ngành nghề của mình ở bất cứ nơi nào mình có mặt. Còn có nhiều cách phục vụ Đức Kitô và Tin mừng của Ngài hơn nữa.

Một số người Kitô hữu khi ý thức về tội lỗi mình thì tự ý miễn trừ cho mình những việc hoạt tông đồ hay những việc phục vụ dân Chúa. Họ nghĩ rằng Chúa không gọi họ làm việc tông đồ. Họ cho rằng việc tông đồ là thuộc phạm vi linh mục và tu sĩ nam nữ. Đọc lịch sử Giáo hội, ta thấy khi Chúa muốn để lại một ấn tượng sâu xa về quyền năng của Ngài, Chúa không ngừng dùng những phương thế khác thường, nghĩa là dùng quyền năng Chúa biến đổi họ tức thời, như Chúa đã biến đổi Phaolô, người bách hại Đạo trở thành người hăng say rao giảng Tin mừng, như Augustinô, một thanh niên trụy lạc trác táng, thành một giám mục thánh.

II. SỐNG THEO ƠN GỌI.

1. Ơn gọi là hồng ân của Thiên Chúa

Mọi người đều có ơn gọi. Ơn gọi phải phát xuất từ Thiên Chúa, con người chỉ biết đón nhận với lòng thành thực và biết ơn. Con người không chọn Chúa, mà chính Chúa chọn con người: Isaia tin có Chúa đang hiện diện trong Đền thờ, nhưng ông không dám nghĩ tới việc được “thấy” Chúa và được Ngài “gọi” (bài đọc 1). Phaolô đang trên đường lùng bắt các môn đệ Đức Kitô thì được ơn gọi (bài đọc 2). Còn Phêrô và các bạn chài thì đang lo đánh lưới bắt cá nhưng lại được gọi làm những kẻ quăng lưới bắt người (bài Tin mừng). Đúng như lời Đức Giêsu nói:”Không phải các con chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con”.

Chúa có thể gọi ta trong những hoàn cảnh đặc biệt, nhưng ngày nay, Chúa thường gọi con người trong những hoàn cảnh rất thông thường và qua trung gian. Dù được gọi trong hoàn cảnh đặc biệt hoặc trong cuộc sống bình thường thì tất cả là hồng ân Thiên Chúa. Con người phải đáp lại tình thương yêu của Chúa.

2. Con người bất xứng trước ơn gọi.

Thiên Chúa đã kêu gọi mỗi người và mỗi người đều cảm thấy mình bất xứng, tội lỗi. Chúng ta có 3 ví dụ về ơn gọi:

– Isaia thốt lên:”Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế”(bài đọc 1).

– Phaolô tự nhận “Tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông đồ, tôi không đáng được gọi là tông đô, vì đã ngược đãi Hội thánh của Thiên Chúa”.

– Phêrô, sau mẻ cá lạ lùng, sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà thưa:”Lạy Chúa, xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi”.

Tuy thấy mình bất xứng nhưng vẫn được Thiên Chúa tín nhiệm. Đáp lại hồng ân của Chúa, các ông cố gắng chu toàn nhiệm vụ Chúa trao:

– Isaia mạnh dạn thưa lại với Chúa:”Dạ, có con đây, xin sai con đi”.

– Phaolô dám khoe:”Tôi đã làm việc hơn tất cả các vị khác, nhưng không phải tôi, mà là Thiên Chúa ở cùng tôi”.

– Còn Phêrô thì “đưa thuyền vào bờ và đi theo Ngài”

3. Cần có ơn Chúa trợ lực.

Ôâng Simon thưa với Đức Giêsu:”Thưa Thầy, chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”. Đúng vậy, ông đã mất công toi cả một đêm với kinh nghiệm đánh cá. Nhưng Đức Giêsu thuyết phục ông thử thêm một lần nữa mà ông đã thành công rực rỡ giữa thất bại. Câu chuyện này nhắc cho các ông và cho chúng ta một bài học: Khi Đức Giêsu bắt đầu tham dự vào sự việc, thì lập tức sự việc ấy sẽ đổi thay. Những lần buông lưới trước đó – có lẽ từ 20 đến 30 lần suốt đêm ấy – các môn đệ làm một mình. Nhưng lần cuối cùng, Đức Giêsu bắt đầu can dự vào, thì sự tình quay hẳn 180 độ. Việc diệu kỳ xẩy ra đã vượt quá ước mơ của họ.

Trên mảnh đất chuyên môn của mình, Simon tưởng mình có khả năng, nhưng Đức Giêsu đã đánh trúng ông, đã chỉ cho ông thấy những giới hạn của mình: ông không là gì cả nếu không có Ngài. Chúng ta cũng thế, trong chiếc thuyền của chúng ta, chúng ta thường phải nhường chỗ cho một Đấng Khác, để thả lưới ở nơi mà chúng ta không tự mình làm được.

“Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấéc bổng trái đất lên”. Nếu Archimède dám khẳng định như vậy thì tại sao ta lại không dám xác tín rằng: Dựa vào Đức Giêsu, Đấng đã hiến mạng vì tình yêu, tôi có thể chinh phục mọi tâm hồn? Như Simon đã dựa vào Lời Chúa mà thả lưới và bắt được mẻ cá lớn, thì chúng ta cũng có thể trở thành người chinh phục các tâm hồn cho Chúa một khi chúng ta biết dựa vào quyền năng của Chúa hơn là vào sức riêng mình.

Truyện: Thánh Gioan Vianney.

Thánh Gioan Vianney, lúc còn là chủng sinh, học rất chậm. Ngày kia, một giáo sư thần học, thừa lệnh Đức Giám mục đến khảo sát Vianney xem có đủ khả năng học vấn để tiến tới chức linh mục chăng?

Tuy đã cố hết sức học hành, Vianney vẫn không thể trả lời được câu nào cho trôi chảy.

Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn nói:”Vianney, anh dốt đặc như con lừa ! Với một con lừa như anh, Giáo hội hy vọng làm nên trò trống gì “?

Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời:”Thưa cha, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại 3000 quân Philitinh. Vậy với cả con lừa này, Thiên Chúa không làm được việc gì sao”?

4. Thực hành ơn gọi tông đồ.

a) Về phần các Tông đồ.

Sau khi Đức Giêsu về trời, các Tông đồ chia nhau ra đi truyền giáo. Các ông đã hăng say hoạt động, hy sinh rất nhiều vì danh Chúa và sau cùng đã nhận lấy cái chết để tỏ lòng trung thành với Chúa..

Trong bài đọc 2, chúng ta được nghe thánh Phaolô bộc bạch tâm tư của mình. Phaolô là một con người đầy nhiệt huyết, đã vòng quanh đế quốc La mã 4 lần, đã đưa dân ngoại vào Đạo. Làm sao cắt nghĩa được nội tâm của con người đầy lửa ấy? Thưa vì ngài đã gặp gỡ Chúa:”Rồi sau cùng Ngài đã hiện ra với tôi như một đứa con sinh non”(1Cr 15,8). Phải, cuộc gặp gỡ đã đảo lộn cuộc đời Phaolô, từ một kẻ bắt bớ tín hữu trở nên một Tông đồ nhiệt thành. Tất cả là ơn của Chúa và ngài được vui mừng trả giá rất cao để “Ơn Chúa không ra vô ích”: 5 lần bị đánh đòn 39 trượng, 3 lần bị tra tấn, 1 lần bị ném đá, 3 lần bị đắm tầu, 1 ngày 1 đêm chơi vơi trong lòng biển (2Cr 12,24-25).

b) Về phía Giáo hội.

Trước khi về trời, Đức Giêsu trao sứ mạng truyền giáo cho các Tông đồ:”Các con hãy đi khắp nơi giảng dạy cho muôn dân”. Các ngài đã ra đi rao giảng và cũng đã chu toàn sứ mạng Chúa trao phó. Nối tiếp các Tông đồ, Giáo hội tiếp tục sứ mạng đó như Công đồng Vatican II đã dạy:

“Vốn phát sinh từ ơn gọi làm Kitô hữu, việc tông đồ giáo dân không bao giờ có thể khiếm khuyết trong Giáo hội. Trong những buổi đầu Giáo hội, việc tông đồ này thật là hăng say và kết quả biết bao ! Chính Thánh kinh chứng minh cách phong phú điều đó (Cv 11,19-21; 18,26; Rm 16,1-16). Càng ngày dân số càng gia tăng, khoa học và kỹ thuật càng tiến triển, những mối tương quan mật thiết hơn giữa con người không những mở rộng môi trường hoạt động tông đồ giáo dân đến bao la, môi trường mà phần lớn chỉ dành riêng cho họ, và còn tạo nên nhiều vấn đề mới đòi hỏi họ phải đặc biệt lưu tâm học hỏi” (Apostolicam Actuositatem, đoạn 1).

Theo giáo huấn của công đồng, ta thấy người giáo dân thực hành việc tông đô có hiệu quả hơn các linh mục và tu sĩ. Bởi vì các Linh mục đâu có đến các gia đình hay gặp gỡ được những người không có đạo, và họ cũng đâu có đến nhà thờ để nghe các linh mục giảng. Chính các giáo dân là những Tông đồ cụ thể, trực tiếp và hữu hiệu nhất.

Lời Chúa hôm nay, cùng với lời kêu gọi của công đồng Vatican II đối với mỗi Kitô hữu trong việc phục vụ Giáo hội, nhắc nhở cho chúng ta về sứ vụ truyền giáo. Sự thường chúng ta hay tìm đủ mọi lý do để từ chối hay không tích cực đáp lại lời mời gọi này. Chúng ta thường viện lý do cho rằng mình không đủ phẩm chất để theo Chúa, thiếu kiến thức, thiếu lòng đạo đức, không xứng đáng được mời gọi đến phục vụ. Tuy nhiên, Thiên Chúa không mời gọi chúng ta theo sự xứng đáng, phẩm chất hay kiến thức. Ngài gọi chúng ta theo ân sủng và tình yêu của Ngài. Khi Thiên Chúa mời gọi, nếu chúng ta đón nhận ơn gọi của Ngài, Ngài sẽ biến đổi cuộc đời chúng ta, làm cho chúng ta trở nên giống như Ngài, và ban cho ta những ơn cần thiết để thi hành điều Ngài muốn chúng ta làm (Lc 1,38).

Thiên Chúa không bao giờ khước từ thiện chí của chúng ta. Bất kể chúng ta là ai, có khả năng gì, yếu đuối thế nào, Ngài luôn cần chúng ta trong công việc phục vụ Giáo hội của Ngài. Ngài luôn mời gọi chúng ta đi theo Ngài và trở thành những Tông đồ đồng hành với Ngài trong công cuộc cứu rỗi nhân loại.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho mọi người chúng ta biết tin theo Chúa, tham gia vào công việc tông đồ giáo dân một cách tích cực, quảng đại để đem về cho Chúa nhều linh hồn, theo kinh của thánh Inhaxiôâ Loyola:

“Lạy Chúa, xin dạy con biết sống quảng đại,

Biết phụng sự Chúa cho xứng đáng,

Biết cho đi mà không cần tính toán,

Biết chiến đấu mà không sợ thương tích,

Biết làm việc mà không tìm an nghỉ,

Biết xả thân mà không tìm một phần thưởng nào khác

Ngoài việc biết mình đang thi hành thánh ý Chúa.

22.Vì vâng lời

(Suy niệm của Trầm Thiên Thu)

Kinh Thánh xác định: “Vâng lời trọng hơn của lễ” (1 Sm 15:22; Tv 50:8-9). Điều đó chứng tỏ rằng nhân đức vâng lời rất quan trọng. Thật vậy, khi Chúa Giêsu mặc xác phàm làm người, và theo nhân tính, Ngài cũng đã run sợ trước “chén đời” quá đắng, nhưng Ngài vẫn bỏ ý riêng mình mà hoàn toàn xin vâng theo ý Chúa Cha (Mt 26:39 và 42; Mc 14:23 và 36; Lc 22:42).

Vâng lời liên quan sức mạnh. Vâng lời KHÓ đối với người yếu, vâng lời DỄ đối với người mạnh. Ở đây là sức mạnh tinh thần chứ không là sức mạnh thể lý, bởi vì có người yếu đuối thể lý nhưng mạnh mẽ tinh thần, có người mạnh mẽ thể lý nhưng yếu đuối tinh thần. Vâng lời là tuân phục, tạo nên sức mạnh. Thánh Giacôbê khuyên: “Anh em hãy phục tùng Thiên Chúa. Hãy chống lại ma quỷ; chúng sẽ chạy xa anh em” (Gc 4:7). Tuyệt chiêu!

Với ít nhiều kinh nghiệm, ai cũng biết rằng Yếu và Mạnh là hai thái cực đối nghịch nhau. Yếu – Mạnh có thể về thể lý, tâm sinh lý, tinh thần, năng lực,… Theo khái niệm đó, mỗi người đều có sở trường (yếu điểm, điểm mạnh) và sở đoản (nhược điểm, điểm yếu). Con người có vẻ mạnh mẽ nhưng lại yếu đuối, con kiến có vẻ yếu đuối nhưng lại mạnh mẽ. Thật vậy, con kiến có thể kéo một vật nặng hơn thể trọng của nó gấp nhiều lần, còn con người thì không thể làm như vậy!

Như một chân lý đời thường, người ta thường nói: “Lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”. Vật chất và đồng tiền có thể đổi trắng thay đen. Nhưng Thánh Phaolô minh định: “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12:10). Đó là dạng nghịch lý mà người đời không thể hiểu nổi, nếu không cảm nghiệm được chính “sự yếu đuối” của Đức Kitô, nhất là khi Ngài ở trong Vườn Dầu và trên Thập Giá.

Cái yếu có thể hóa cái mạnh – và ngược lại, cái không có thể thành cái có – và ngược lại. Có những cái không thực sự không đáng sợ, nhưng có những cái không lại rất đáng sợ. Những cái-không-rất-đáng-sợ đó là gì? Đây là vài “cái không rất đáng quan ngại” mà các thánh tiết lộ:

1. “KHÔNG có đức tin thì KHÔNG thể vui trong Thiên Chúa, KHÔNG có lòng lương thiện thì cũng KHÔNG vui với người, càng KHÔNG thể chăm sóc người” (Thánh Bênađô).

2. “KHÔNG có đức ái mà đi truyền giáo thì giống như mình hái quả trên cây rồi tự mình đốn ngã cây vậy” (Thánh Inhaxiô Loyola).

3. “Nếu KHÔNG có đức ái thì KHÔNG có bất kỳ đức hạnh nào, giống như nếu KHÔNG có mặt trời thì cũng KHÔNG có một tinh tú nào cả” (Thánh Tôma Aquinô).

4. “Nếu ai KHÔNG có đức ái thì dù có đức tin chính xác thì đều KHÔNG thể có hạnh phúc vĩnh viễn; bởi vì trong tất cả các nhân đức thì đức ái chiếm hàng thứ nhất” (Thánh Hiêrônimô).

5. “Hơi thở hôi là bằng chứng bao tử bị hư hoại, dễ nói lời châm biếm người khác là bằng chứng tâm hồn băng hoại, người KHÔNG có đức ái thì miệng chỉ nói lời làm tổn thương người khác” (Thánh Ambrôsiô).

Thật tuyệt vời với lời ngôn sứ Isaia cho biết: “Năm vua Út-di-gia-hu băng hà, tôi thấy Chúa Thượng ngự trên ngai rất cao; tà áo của Người bao phủ Đền Thờ. Phía bên trên Người, có các thần Xê-ra-phim đứng chầu. Mỗi vị có sáu cánh: hai cánh để che mặt, hai cánh để che chân và hai cánh để bay” (Is 6:1-2). Các vị ấy đối đáp tung hô: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!” (Is 6:3). Trong các Thánh Lễ, hằng ngày Giáo Hội chúc tụng và tôn vinh Thiên Chúa bằng lời kinh này.

Các vị đó là các thần Xêraphim (seraphim), nghĩa là “lửa cháy”, được mô tả có 6 cánh, luôn bay quanh ngai tòa Thiên Chúa và ca tụng: “Thánh, thánh, thánh”. (Seraphim là số nhiều – đọc là ˈsɛr.ə.fɪm, tiếng Do Thái là שְׂרָפִים – đọc là śərāfîm; số ít là seraph, tiếng Do Thái là שָׂרָףśārāf; tiếng Latin là seraphi[m], seraph[us]; tiếng Hy Lạp là σεραφείμ.

Và vô cùng lạ lùng, tiếng tung hô đó làm cho các trụ cửa rung chuyển, và khói toả mịt mù khắp Đền Thờ. Lúc đó, ngôn sứ Isaia vừa ngạc nhiên vừa hoảng sợ nên đã phải thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh!” (Is 6:5). Ông cảm thấy mình quá yếu đuối và nhỏ bé. Khi được diện kiến Tôn Nhan Chúa, người ta mới biết rõ mình bất xứng tới mức nào, phàm ngôn không thể đủ từ ngữ để diễn tả. Thiết tưởng có một cách tương đối để chúng ta khả dĩ cảm nhận: Khi bình thường, chúng ta ra bờ biển và thấy vẫn bình thường, nhưng khi trời chuyển mưa hoặc giông tố, chúng ta sẽ cảm thấy mình quá bé nhỏ trước sự hùng vĩ của biển. Và thật đáng sợ!

Được chứng kiến tỏ tường, ngôn sứ Isaia kể: “Một trong các thần Xêraphim bay về phía tôi, tay cầm một hòn than hồng người đã dùng cặp mà gắp từ trên bàn thờ. Người đưa hòn than ấy chạm vào miệng tôi và nói: ‘Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, ngươi đã được tha lỗi và xá tội’. Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán: ‘Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?’. Tôi thưa: ‘Dạ, con đây, xin sai con đi” (Is 6:6-8). Ông cảm thấy lo sợ, nhưng ông vẫn cảm thấy vui thích, vì thế ông đã phấn khởi nhận lời Chúa sai đi. Ông thấy mình yếu đuối nhưng rồi ông đã hóa nên mạnh mẽ!

Chúng ta may mắn là Kitô hữu vì được thông phần ba chức vụ ngay khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy: Tư tế, ngôn sứ, và vương đế. Trở thành Kitô hữu nghĩa là chúng ta được sai đi trên những “nẻo đường” khác nhau, với các sứ vụ khác nhau, thậm chí cả mức độ cũng khác nhau. Vì thế, chúng ta phải ý thức trách nhiệm mà cảm tạ Thiên Chúa: “Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ, Ngài đã nghe lời miệng con xin. Giữa chư vị thiên thần, xin đàn ca kính Chúa, hướng về đền thánh, con phủ phục tôn thờ. Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài vẫn thành tín yêu thương, đã đề cao danh thánh và lời hứa của Ngài trên tất cả mọi sự. Ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại, đã gia tăng nghị lực cho tâm hồn” (Tv 138:1-3). Ngài trao trọng trách cho chúng ta, nhưng Ngài không phó mặc chúng ta, mà Ngài luôn che chở và độ trì mọi nơi, mọi lúc.

Mọi loài đều phải khâm phục Thiên Chúa vì Ngài là Đấng Toàn Năng duy nhất: “Lạy Chúa, mọi đế vương dưới trần đều cảm tạ khi nghe những lời miệng Ngài phán ra. Họ sẽ ca ngợi đường lối Chúa: Vinh quang Chúa vĩ đại dường bao! Cho dù con gặp bước ngặt nghèo, Chúa vẫn bảo toàn mạng sống con. Địch thù đang hằm hằm giận dữ, Ngài ra tay chận đứng, lấy tay uy quyền giải thoát con” (Tv 138:4-5). Do đó, mỗi chúng ta cũng phải không ngừng chân nhận, tôn vinh và cầu xin Ngài: “Việc Chúa làm cho con, Ngài sẽ hoàn tất; lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang” (Tv 138:8).

Một trong ba chức vụ mà chúng ta dễ nhận thấy là nhiệm vụ ngôn sứ, không hẳn là phải loan báo Tin Mừng bằng lời nói, mà là hành động, cách sống, sáng tác (thơ, văn, nhạc, họa,…) hoặc viết lách. Thánh Phaolô nói: “Thưa anh em, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững. Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích” (1 Cr 15:1-2). Tin thì phải chứng minh đức tin đó ra, như Thánh Giacôbê nói: “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2:17 và 26). Đó là sống đức tin một cách cụ thể và tích cực.

Có gì thì chia sẻ cái đó, không thể giữ riêng cho mình. Thánh Phaolô xác định và chứng minh: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non” (1 Cr 15:3-8).

Tiếp theo, thánh nhân khiêm nhường cho biết: “Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa. Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi. Tóm lại, dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì chúng tôi đều rao giảng như thế, và anh em đã tin như vậy” (1 Cr 15:9-11). Những lời chân thành như rót vào tai, như được uống những giọt mật ngọt ngào vậy. Cũng giống như ngôn sứ Isaia, Thánh Phaolô thấy mình yếu đuối nhưng rồi ông lại hóa nên mạnh mẽ!

Như một đoạn phim phóng sự qua trình thuật Lc 5:1-11 (≈ Mt 4:18-22; Mc 1:16-20), Thánh sử Luca tường thuật sự việc: Một hôm, Đức Giêsu đang đứng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Ngài để nghe lời Thiên Chúa. Ngài thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simôn, và Ngài xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Ngài ngồi xuống, và từ trên thuyền Ngài giảng dạy đám đông.

Giảng xong, Ngài bảo ông Simôn: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Ông Simôn vừa gãi đầu vừa đáp: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng VÂNG LỜI Thầy, tôi sẽ thả lưới” (Lc 5:5). Ông Phêrô ngần ngại lắm, vì ông là ngư dân nên ông biết con nước này không có cá. Tuy nhiên, ông vẫn thực hiện vì vâng lời Sư Phụ. Tốt lắm! Lạ lùng thay, họ đã bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm. Một phép lạ nhãn tiền, và chỉ có Thiên Chúa mới làm được đại sự kỳ diệu như vậy, chứ chẳng một thần linh nào có thể làm được.

Rất rõ ràng, thế nên ông Simôn Phêrô run sợ vì cảm thấy mình quá nhỏ bé và yếu đuối, ông liền sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”. Một câu thú nhận trên cả sự tuyệt vời! Chúa chỉ mong chúng ta như vậy thôi. Ngài muốn thấy chúng ta tự nhận mình là tội nhân, luôn cảm thấy yếu đuối. Đó là khiêm nhường, và rồi hồng ân và lòng thương xót của Ngài sẽ tác động mà biến đổi người yếu thành người mạnh, nhỏ thành to, không thành có.

Nhìn mẻ cá vừa bắt được, ông Simôn và mọi người có mặt ở đó đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simôn, cũng kinh ngạc như vậy. Họ cứ nhìn nhau, mắt chữ O và miệng chữ A mà chẳng nói được lời nào. Bình thường thì con nước này làm gì có cá, thế mà… Ôi chao, vô cùng lạ lùng!

Đúng là kỳ diệu quá chừng. Thấy vậy, Chúa Giêsu trấn an ông Simôn: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Mọi người thở phào nhẹ nhõm. Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Đại Sư Giêsu. Ông Phêrô đã biến đổi từ một người yếu để trở thành người mạnh, nhờ Đức Giêsu Kitô, và được làm Giáo hoàng tiên khởi của Giáo hội chiến đấu – tức là Giáo hội trần gian. Chúng ta cũng phải bỏ tất cả để theo Ngài: Thói hư, tật xấu, tội lỗi, kiêu căng, ích kỷ, lười biếng, thù hận, lọc lừa, đểu cáng, khoe khoang, xu nịnh, phe cánh, tham lam, ghen ghét,…

Lạy Thiên Chúa duy nhất và toàn năng, xin tha thứ và nâng đỡ chúng con, xin biến đổi chúng con từ những con người yếu đuối trở thành những con người mạnh mẽ, để chúng con loan truyền Thánh Danh Ngài và Lòng Xót Thương của Ngài. Xin Đức Mẹ dạy chúng con luôn biết xin vâng như Mẹ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên-Chúa-Làm-Người và Đấng Cứu Độ của chúng con. Amen.

23.Hãy chèo ra chỗ nước sâu

(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)

Tại sao Chúa Giêsu chọn bốn môn đệ đầu tiên trong hàng ngũ những người đánh cá? Ngài có dụng ý gì chăng? Phải chăng tiêu chí đầu tiên cần cứu xét để tuyển chọn tông đồ là phải dạn dày sương gió, phải sẵn sàng xông xáo giữa biển đời đầy bão tố cuồng phong?

Có lẽ chính vì đã quen chịu nhọc nhằn trên biển cả, nhiều phen đối đầu với bão táp, thách thức với cuồng phong mà Simon và các bạn chài của anh đã “lọt vào mắt xanh” của Chúa Giêsu.

Nhưng trước khi kêu gọi Phêrô và các bạn chài của anh dấn bước vào công cuộc loan báo Tin Mừng đầy gian khổ, Chúa Giêsu muốn dạy cho các anh bài học vỡ lòng. Ngài truyền cho các anh chèo ra chỗ nước sâu…

Dù mệt mỏi và chán nản vì phải lao nhọc suốt đêm mà chẳng được tích sự gì, các anh vẫn vâng lời Chúa Giêsu để ra khơi, để chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới. Nhờ đó, các anh đã trúng một mẻ cá rất tuyệt vời. Qua đó, các anh học được bài học đầu tiên: Muốn bắt được nhiều ‘tôm cá’, thì hãy vâng lệnh Chúa chèo thuyền ra ‘chỗ nước sâu’.

Cuộc ra khơi của Chúa Giêsu

Ngự trên ngai trời mà cứu thế, mà phán dạy loài người, hay ít ra, dùng các tiên tri mà phán dạy, thì ‘đỡ khổ’ hơn nhiều. Nhưng Ngôi Hai Thiên Chúa đã không làm như thế.

Ngài đã rời bỏ bờ bến an toàn và đầy đủ tiện nghi, đã bỏ hết mọi sự lại đằng sau để ra khơi. “Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân”. (Philíp 2, 6-7)

Ngài phải mạo hiểm đến chỗ nước sâu nhất: sinh ra trong máng cỏ thấp hèn, đến ngụ nhờ nhà người tội lỗi, hoà mình với những người tội lỗi để xin nhận phép rửa bên bờ sông Gio-đan, chịu chết đau thương tủi nhục giữa những tên gian phi, chịu mai táng trong mồ…

Rồi, thay vì yên vị trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem mà giảng dạy hoặc ít ra ngồi giảng trong các hội đường vào các ngày sa bát như các ráp-bi Do Thái, Chúa Giêsu đã xông xáo vào khắp hang cùng ngõ hẽm để loan Tin Mừng: trên triền núi, giữa đồng hoang, bên bờ giếng, bên bãi biển, bờ hồ…

Cuộc ra khơi của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II

Noi gương Chúa Giêsu, vị đại diện của Ngài là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã liên tục ra khơi, chèo ra chỗ nước vừa sâu vừa nguy hiểm. Qua 26 năm trong triều đại giáo hoàng, Ngài đã thực hiện 104 chuyến công du ngoài nước Ý và 146 chuyến công du trong nước Ý (không tính Rô-ma), thăm viếng hơn 130 quốc gia trên thế giới. Tưởng cũng cần thêm rằng trong số đó, ngài đã tám lần đến thăm viếng các nước Hồi Giáo, đặc biệt Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên bước vào một ngôi Đền Thờ Hồi Giáo cổ kính tại Syria vào năm 2001.

Tính ra, Ngài đã đi công du 1,400,607 km, tương đương 28 lần vòng quanh trái đất. Ngoài ra mỗi ngày Ngài làm việc đến 18 tiếng đồng hồ.

Ngài đã ‘chèo’ đến những vùng biển nhiều sóng gió: đến thăm những miền đất thù nghịch với Hội Thánh, vào những ‘miền đất thánh’ của Phật giáo, Án giáo, Hồi giáo hay Chính Thống giáo… vào cả những nơi mà một số đông dân chúng sở tại không muốn cho ngài đến, lại đòi ngài phải xin lỗi họ (như trong chuyến tông du tại Hy Lạp vào tháng 5 năm 2001), đến cả những nơi mà tính mạng ngài đang bị hăm doạ… Ngài là vị giáo hoàng can đảm nhất trong lịch sử, sẵn sàng dấn thân vào những ‘chỗ nước sâu’, những vũng xoáy, những nơi sóng gió… mà không hề biết sợ là gì, miễn là Tin Mừng được loan báo.

Nối gót Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phalô II, vị Giáo Hoàng đương kim Bênêđictô, cuối tháng 11 năm 2006 vừa qua đã thực hiện chuyến viếng thăm Thổ-nhĩ-kỳ đang lúc tại đây đang nổi lên làn sóng chống đối ngài mãnh liệt và nhiều người quá khích hăm doạ sẽ giết ngài bằng mọi giá khiến cho nhiều người hết sức quan ngại.

Hội Thánh đang mời gọi chúng ta ra khơi

Trong tông thư Novo Millennio Ineute được công bố vào ngày kết thúc đại năm thánh 2000, Đức Giáo Hoàng Phaolô II khẩn thiết kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa trên khắp thế giới hãy ‘Chèo ra chỗ sâu’ (Lc 5, 4) để thả lưới, vì ‘một thiên niên kỷ mới đang mở ra trước mặt Hội Thánh như là một biển cả mà chúng ta sẽ mạo hiểm trong đó, cậy dựa vào Đức Kitô, Con Thiên Chúa’ (số 58)

Trong dịp Hội Đồng Giám Mục Việt Nam triều yết Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhân chuyến đi viếng mộ hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô vào ngày 22-1-2002, vị Cha chung của Hội Thánh cũng mời gọi Giáo Hội Việt Nam hãy ra khơi. Ngài ngỏ lời với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam: ‘Giáo Hội Việt Nam được mời gọi ra khơi: Tôi muốn khích lệ anh em hãy hết sức quan tâm rao giảng Tin Mừng và truyền giáo…’

Thủ lãnh của chúng ta là Chúa Giêsu đã dấn thân vào chỗ nước sâu như thế, vị lãnh đạo của Hội Thánh là Đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng như Bênêđictô đã anh dũng ra khơi như thế… thì với tư cách là thân mình của Đức Kitô, chúng ta không còn chọn lựa nào khác là cùng chèo ra chỗ nước sâu với Chúa Kitô, cùng ra khơi với Hội Thánh.

Lạy Chúa, con xin thú lỗi với Chúa là con chỉ muốn bám chặt đất bằng cho yên ổn và chẳng hề muốn ra khơi, vì ra khơi thì nhọc nhằn quá, phải hy sinh nhiều thứ quá mà đời sống lại rất đỗi bấp bênh và dẫy đầy nguy hiểm.

Ước gì cuộc ‘ra khơi’ vĩ đại của Chúa sẽ là một nhắc nhở không ngừng để con noi theo mà dấn bước.

Ước gì tấm gương chèo ra chỗ nước sâu đầy hiểm nguy sóng gió của Đức Thánh Cha là một thôi thúc liên tục thúc giục con lên đường đến với anh em con.

24.Hãy chèo ra chỗ nước sâu

(Suy niệm của Gioan Phạm Duy Anh, SJ.)

Các bạn thân mến!

Có thể nói Bài Tin Mừng Chúa Nhật V Thường Niên hôm nay là Bài Tin Mừng nói về ơn gọi. Bài Tin Mừng khắc hoạ khuân mẫu về ơn gọi của người môn đệ. Người môn đệ là người lắng nghe lời mời, bước vào chiều sâu hiện hữu với Chúa và với chính mình, đồng thời là người vâng phục Thầy để chèo thuyền ra chỗ nước sâu mà thả lưới.

1. Chèo thuyền ra chỗ nước sâu là bước vào chiều sâu của sự thánh thiện

Ơn gọi của Isaiah xuất hiện trong một bối cảnh vua Út-di-gia-hu băng hà. Ông là một vi vua đạo đức và có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của Israel. Trong khi đó, đế quốc Assyria đang đe doạ Israel ở Phía Bắc, toàn dân hoang mang. Trong sự hoang mang lo sợ ấy, Thiên Chúa sai sứ giả của Người nói với dân chúng về một Đấng giải phóng và thiết lập trật tự mới. Ơn gọi của Isaiah xuất hiện trong bối cảnh ấy. Ông có một thị kiến kỳ lạ về Thiên Chúa uy nghi cao cả. Tôi thấy Chúa Thượng ngự trên ngai rất cao ; tà áo của Người bao phủ Đền Thờ. 2a Phía bên trên Người, có các thần Xê-ra-phim đứng chầu. 3 Các vị ấy đối đáp tung hô: “Thánh ! Thánh ! Chí Thánh ! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa !” (Is 6, 1-3) Đấng uy linh cao cả đó xuất hiện trước mắt Isaiah và ông bước vào tương quan với Ngài.

Cũng thế, đang khi đánh cá, Chúa Giê-su chọn chiếc thuyền của Phê-rô và các bạn mà ghé thăm. Đấng uy linh cao cả giờ hiện diện giữa các ông. Chúa Giê-su chọn lựa gắn bó với một ngư phủ và trao cho ông sứ mạng chăm sóc Giáo Hội. Điều tiên quyết khi các ông muốn đảm nhân sứ mạng của Thầy trao cho là các ông phải bước vào tương quan sâu xa với Chúa, là mang lấy trái tim và sứ mạng của Chúa. Chúa Giê-su chọn lựa bước vào trái tim và cuộc đời ông, để rồi ông trở thành kẻ lưới người. Khi ông chấp nhận để cho Chúa bước vào con thuyền cuộc đời mình, một chân trời và dự định mới mở ra trước mắt ông. Hãy ra chỗ nước sâu thực chất là chấp nhận thả mình vào trong chiều sâu của Thiên Chúa. Chiều sâu của tình yêu hiến thân và trao ban sự sống của Đức Giê-su Ki-tô. Chỉ khi được thả mình vào trong tương quan chiều sâu với Chúa, nơi mà vì nó Chúa đã sống và chết cho bạn, bạn mới ý thức khoảng cách sâu xa giữa bạn và Chúa, cũng như ý thức được rằng bạn phải trở về chiều sâu với chính mình và làm một cuộc hoán cải.

2. Chèo thuyền ra chỗ nước sâu là ý thức về hoảng cách sâu xa giữ con người và Thiên Chúa

Khi bước vào chiều sâu và sự thánh thiện trong tương quan với Chúa, bạn và tôi ý thức được những giới hạn và tội lỗi của chính mình. Đây chính là khoảng cách vô biên giữa sự thánh thiện của Thiên Chúa và sự tội lỗi của con người. “ 5 Bấy giờ tôi thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh !” (Is 6, 5) Cũng thế, Phê-sô sau khi đụng chạm được mầu nhiềm của Thiên Chúa ẩn mình, ông liền kêu lên “‘Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi !‘” (Lc 5,8) Tội lỗi làm con người xa cách Chúa và xa cách nhau. Đức Ki-tô nối kết sự xa cách đó bằng tình yêu và cái chết của Ngài trên Thánh Giá. Ơn cứu độ giúp chúng ta nối kết với Thiên Chúa và lấp đầy khoảng cách sâu xa giữa con người và Thiên Chúa.

Khoảng cách sâu xa giữa con người và Thiên Chúa được lấp đầy bằng tình yêu, lòng thường xót được thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô. Ngang qua Đức Giê-su nhất là qua cái chết của Người, Ngài đã nối kết khoảng cách giữa con người với Thiên Chúa. Thiên Chúa không còn xa cách con người nhưng Thiên Chúa đang ở giữa, ở trong và ở với con người. “3 Đức Giê-su xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Si-môn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút.” Đức Giê-su bước vào cuộc đời bạn và tôi mời gọi bạn và tôi bước ra xa một chút. Ngài mời gọi bạn bước tới Ngài, Ngài mời gọi bạn bước tới anh anh chị em và Ngài mời gọi bạn bước ra khỏi chính mình.

Kinh nghiệm của các vị thánh khi bước vào trong tương quan sâu xa với Chúa cũng chỉ ra rằng có một khoảng tối trong đời sống con người và Thiên Chúa mà con người không thể vượt qua bởi sức tự nhiên nhưng bằng ân sủng của Chúa. Điều mà Thánh Gioan Thánh Giá gọi là đêm tối thiêng liêng và đêm tối linh hồn.

Vả lại, người môn đệ khi bước vào trong tương quan sâu xa với Chúa và bước ra khỏi chính mình cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, sóng gió và nguy hiểm. Nguy hiểm đó được trả giá bằng niềm tin và sự sống. Tuy nhiên những hiểm nguy mà bạn đối diện sẽ vơi đi khi có Chúa ở cùng. Điều này làm cho người môn đệ sẵn sàng lên đường.

3. Chèo thuyền ra chỗ nước sâu là xác tín cách sâu xa vào Thiên Chúa để dấn thân cho Tin Mừng

Để có thể lên đường với Chúa, trước hết bạn phải là người được Thiên Chúa đụng chạm. Kinh nghiệm này biến đối sâu xa con người bạn để rồi bạn không còn sống cho chính mình nhưng sống cho Đấng đã kêu gọi bạn từ chốn tối tăm, tới nơi đầy sáng láng diệu kỳ. Isaiah là người được Thiên Chúa thánh hiến bằng than hồng. Chúa đặt Lời Chúa và Tin Mừng vào miệng ông. “ 7 Người đưa hòn than ấy chạm vào miệng tôi và nói: ‘Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, ngươi đã được tha lỗi và xá tội.’ 8 Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán: ‘Ta sẽ sai ai đây ? Ai sẽ đi cho chúng ta ?’ Tôi thưa: ‘Dạ, con đây, xin sai con đi.’” Như thế, Chúa đã thánh hiến Isaiah bằng Lời Chúa , Lời có sức sáng tạo, biến đổi, và chữa lành để ông ra đi loan báo sứ điệp của Chúa.

Tương tự như thế, Phao-lô cũng là người được Thiên Chúa đụng chạm bằng một cú ngã ngựa trên đường Đa-mát. Sau cú té ngựa ông chạm được Áng Sáng Phục Sinh, đứng dậy và trở nên chứng nhân cho Tin Mừng. Sứ mạng của người môn đệ, của bạn và tôi là làm chứng cho Tin Mừng. “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, 4 rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh.” (1 Cr, 15, 3-4)

Đây cũng là sứ điệp căn bản mà giáo hội, cũng như bạn và tôi đang dấn thân. Để dấn thân cho sứ mạng này, Chúa mời gọi bạn và tôi phải “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” (Lc 5, 4). Chỗ nước sâu ấy là chỗ sâu của địa lý và chỗ sâu của tâm linh và lòng người. Giáo hội trong sứ mạng thu phục lòng người luôn đối diện với những nguy hiểm và sự sợ hãi. Nhất là chỗ sâu ấy đụng chạm đến quyền lợi kinh tế, chính trị, xã hội, giá trị sống, lợi ích quốc gia, cơ cấu bất công, và nền tảng hôn nhân gia đình. Nơi mà tự do cá nhân và quyền lực xã hội chi phối đến việc thiết lập chính sách và thẩm quyền tôn giáo thì sự nguy hiểm càng gia tăng. Tuy nhiên Chúa Giê-su nói với các tông đồ “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” (Lc 5, 10) Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II trong bài giảng khai mạc triều đại giáo hoàng của ngài có nói: “Đừng Sợ.” ‘Anh em đừng sợ đón lấy Chúa Ki-tô và nhận lấy quyền năng của Ngài.”, “Anh chị em đừng sợ! Hãy mở ra, mở toang mọi cánh cửa đón lấy Chúa Kitô! Hãy mở mọi biên giới các quốc gia, các hệ thống chính trị, những lãnh vực bao la của nền văn hóa, văn minh, phát triển cho quyền năng cứu độ của Chúa bước vào”.[1]

Bạn và tôi sợ bởi vì bạn và tôi yêu quá cuộc đời này. Chúng ta sợ vì chúng ra không có chỗ bám víu hay những bám víu của chúng ta không bảo đảm. Chúng ta sợ bởi vì chúng ta nghi ngờ. Chúng ta sợ đón lấy Chúa Ki-tô bởi vì khi Ngài bước vào cuộc đời của bạn, cuộc đời bạn sẽ bị xáo trộn. Cái đáng sợ nhất của người công chính là sợ xa cách vĩnh viễn với Thiên Chúa.

Như thế đời sống người môn đệ là người bước vào chiều sâu của Thiên Chúa, chiều sâu của lòng mình và tương quan với tha nhân. Việc bước vào trong tương quan với Chúa cũng là lời mời gọi bước ra khỏi chính mình để bước đến với thế giới. Thế giới nội tâm và thực tại xã hội luôn tra vấn bạn và tôi về nguồn gốc, căn tính và sứ mạng của mình. Chỉ khi bước vào thật sâu trong tương quan với Chúa, bạn và tôi mới bước vào chiều sâu trong tương quan nội tâm và trong lòng nhân thế.

———————————-

[1] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Bài Giảng Trong Ngày Nhậm Chức Giáo Hoàng, Chúa nhật, 22 tháng Mười 1978

25.Vâng lời vì yêu

(Suy niệm của Lm. Phạm Quốc Hưng)

Trong Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật tuần trước, chúng ta nhận thấy Chúa Giêsu đã đồng hóa ơn gọi và số phận của Người với các ngôn sứ, vì Người chính là Ngôi Lời của Thiên Chúa, Đấng luôn hiện diện trong mọi sứ điệp của tất cả các ngôn sứ để chuyển thông thánh ý Thiên Chúa cho con người, để mời gọi con người hướng lòng lên Thiên Chúa và sống theo các đòi hỏi của Thiên Chúa. Hơn nữa, Chúa Giêsu còn chính là “con đường hoàn hảo nhất” (1Cor. 12:31), là mẫu gương của đức yêu thương tuyệt hảo như Thánh Phaolô nói đến trong “bài ca đức ái” trong Thư thứ nhất gửi Tín Hữu Corintô. Điều này có thể khiến chúng ta tưởng rằng Lời Chúa là những gì tuy thật cao siêu linh thánh nhưng lại xa rời thực tại đời sống, hay có thể gây trở ngại hoặc phiền toái cho đời sống thực tế của chúng ta. Đây là một sự lầm tưởng lớn lao vẫn xảy ra trong mọi thời đại. Đây cũng là lý do khiến các ngôn sứ thường bị khước từ và bách hại. Đây cũng là lý do Lời Chúa và giáo huấn của Hội Thánh không được đón nhận và thực hành!

Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta cho thấy rằng Lời Chúa Giêsu không phải chỉ là thuần thiêng, nghĩa là chỉ giới hạn trong lãnh vực siêu nhiên, nhưng còn mang tính cách thực tế, nghĩa là gần gũi và gắn liền với đời sống tự nhiên con người, khi thuật về thuật về việc Thánh Phêrô, sau khi “đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết” (Lc 5:5) nhưng nhờ vâng theo lời Chúa Giêsu để “đẩy thuyền ra chỗ nước sâu và thả lưới bắt cá”(Lc 5:4), nên đã “bắt được rất nhiều cá; lưới các ông hầu như bị rách” (Lc 5:6). Chúa Giêsu yêu mến và cứu độ con người chúng ta cách toàn diện, cả hồn lẫn xác. Nhưng có một điều Người đòi hỏi nơi chúng ta để Người ban phúc cho chúng ta: đó là lòng tin yêu của ta dành cho Người, để đón nhận và thực hành các lời dạy của Người, như được ghi nhận trong Thánh Kinh và giáo huấn của Hội Thánh.

Thật vậy, với những người làm nghề đánh cá như Phêrô, mức độ đời sống vật chất của họ gắn liền với thành quả của công việc chài lưới, với số cá họ bắt được. Cá là tiền, là bạc, là cơm no áo ấm, là tất cả những gì mà tiền bạc có thể mua được! Ngoài việc cầu cho trời êm biển lặng, họ dựa vào sức lực, tài năng, kinh nghiệm và sự chịu khó của bản thân mình để chài lưới đánh cá. Đối với một người đánh cá chuyên nghiệp như Phêrô, sau một đêm cực nhọc mà chẳng đánh bắt được gì, quả là một thất bại ê chề, một nỗi buồn lo tê tái! Ở đây, Phêrô đã học được sự bất lực của mình trước sự nghiệt ngã của thực tế của biển đời! Chính trong giây phút này, giây phút Phêrô nhận ra sự bất lực của mình, lại là giây phút ông nhận biết quyền năng của Chúa Giêsu và mãnh lực của Lời Người!

Phêrô có thực sự tin rằng Chúa Giêsu, tuy là một bậc thầy đáng kính đáng mến với đời sống khiêm nhu khả ái và những lời giảng dạy cao siêu, nhưng vốn chỉ là một người thợ mộc thành Nazareth và chưa hề có kinh nghiệm với biển khơi, biết cách giúp ông bắt được nhiều cá không? Có lẽ Phêrô không xác tín điều này đâu! Nhưng Phêrô vẫn vâng theo lời Chúa Giêsu để thả lưới, vì ông mến Chúa, nể Chúa và không muốn làm mất lòng Chúa. Ông thà chấp nhận cực nhọc thêm một chuyến ra khơi nữa mà chưa hẳn sẽ kiếm được gì, hơn là làm mất lòng Chúa.

Rồi mẻ cá lạ đã làm Phêrô và mọi người bỡ ngỡ! Phêrô cảm nghĩ gì khi ông “sụp lạy dưới chân Chúa Giêsu và thưa Người rằng: Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi” (Lc 5:8). Các nhà chú giải Thánh Kinh thường cho rằng lời thú tội của Phêrô ở đây là hệ quả của việc ông cảm nghiệm sự hiện diện đầy uy nghi thánh thiện của Thiên Chúa nơi Đức Kitô qua mẻ cá lạ. Đây cũng là cảm nghiệm của tất cả những ai được Chúa tỏ mình, như cảm nghiệm của ngôn sứ Isaia trong bài đọc một hôm nay khi ông thưa cùng Chúa: “Vô phúc cho tôi! Tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn, tôi ở giữa một dân tộc mà lưỡi họ đều nhơ nhớp, mắt tôi đã trông thấy Đức Vua, Người là Chúa các đạo binh” (Is 6:5). Trước sự hiện diện của Thiên Chúa toàn thánh, không ai cảm thấy mình thanh sạch cả!

Nhưng chắc hẳn còn một lý do nữa khiến Phêrô nói thế; đó là sự ngờ vực hay yếu tin của ông trước lời Chúa Giêsu truyền dạy ông ra khơi thả lưới. Chính lòng mến phục của ông dành cho Chúa Giêsu đã giúp vượt thắng sự ngờ vực và yếu tin để thực hành lời Chúa truyền dạy và được chứng kiến mẻ cá lạ. Một khi đức tin được củng cố, ông không quyến luyến với lợi nhuận mà mẻ cá lạ sẽ mang lại, nhưng “đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Người” (Lc 5:11), để trở thành “kẻ chinh phục người ta” (Lc 6:10). Ở đây, Phêrô và các môn đệ đã có một chọn lựa và quyết định khôn ngoan và sáng suốt khi chọn Chúa Giêsu trên tất cả mọi sự!

Vâng theo lời Chúa với lòng tin yêu và từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa mãi mãi là sự chọn lựa, là quyết định, và là chương trình hành động của tất cả các thánh trong lịch sử Hội Thánh. Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII, Đấng Kế Vị Thánh Phêrô và có công khai mở Công Đồng Vaticanô II, chắc hẳn đã từng chiêm ngắm gương vâng lời vì yêu của Thánh Phêrô, nên đã chọn câu “vâng lời và bình an” làm tôn chỉ cho đời mục tử của ngài. Và ngài đã nên thánh như lòng mong ước.

Sự hiện diện của Hội Thánh Công Giáo trên khắp thế giới hôm nay với bao nhiêu ngôi thánh đường, bao nhiêu tu viện, bao nhiêu công trình nghệ thuật, bao nhiêu công cuộc từ thiện bác ái, bao nhiêu gương hy sinh xả kỷ tuyệt vời của các thánh đều là kết quả của những sự chọn lựa và quyết định vâng theo Lời Chúa với lòng tin yêu, từ bỏ mọi sự để theo Chúa, để chọn Chúa, để được Chúa biến đổi thành những kẻ chinh phục con người bằng tình yêu cứu thế nơi các tín hữu đích thực của Chúa Kitô!

Với trình thuật Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn chúng ta nhận biết rằng: Như Người đã bước xuống chiếc thuyền của Phêrô, Người cũng muốn bước vào con thuyền của đời sống chúng ta; và như Phêrô đã nhờ vâng theo lời Chúa nên đã được chứng kiến mẻ cá lạ và từ bỏ mọi sự để theo Người và trở thành tông đồ của Người, chúng ta cũng sẽ chứng kiến biết bao điều huyền diệu trong cuộc đời chúng ta nhờ tin yêu và vâng theo lời Chúa và trở thành những môn đệ chân thành của Người.

Trái lại, nếu vắng bóng Chúa Giêsu trong con thuyền cuộc đời hay từ khước vâng theo lời Chúa để bước theo Chúa trong tin yêu, chúng ta sẽ mãi mãi ở lại trong sự mệt mỏi chán ngán trước sự hạn hẹp của sức mình, những sự nghiệt ngã của biển đời đen bạc, những sự phù phiếm của trần gian, những sự gian dối của tình đời! Bao vấn nạn trong đời sống cá nhân, gia đình, cộng đoàn, xã hội và Giáo Hội trên thế giới hôm nay chẳng qua chỉ là kết quả tất nhiên của việc đánh mất hay suy giảm lòng kính sợ tin yêu đối với Thiên Chúa, việc khước từ sự hiện diện của Chúa Giêsu, việc bất phục Lời Chúa và giáo huấn tốt lành chân thực của Hội Thánh.

Ave Maria, xin Mẹ giúp con luôn biết đón tiếp Chúa Giêsu Con Mẹ vào con thuyền của đời con, biết hết lòng tin yêu và vâng theo lời Chúa, biết mau mắn từ bỏ mọi sự để theo Người, để được trở nên những môn đệ của Người, những kẻ chinh phục tha nhân bằng tình yêu của Tin Mừng cứu độ. Amen.

26.Chúa Nhật 5 Thường Niên

(Suy niệm của Lm. Anphong Nguyễn Công Minh)

Một chiếc thuyền đánh cá, trở thành toà giảng dạy và rồi biến thành biểu tượng của Giáo hội truyền giáo.

(Lc. 5,1-11)

1. Một chiếc thuyền đánh cá…

Chúng ta sẽ được thấy Luca vẽ bức tranh này một cách rất tài tình, khi đặt việc Đức Giêsu kêu gọi những môn đệ đầu tiên trong bối cảnh một mẻ lưới lạ lùng, quanh chiếc thuyền đánh cá

– Theo Phúc Âm Máccô và Mátthêu, hành động đầu tiên của Đức Giêsu khi thi hành sứ vụ là kêu gọi các môn đệ. Còn trong Phúc Âm Luca, đầu tiên Đức Giêsu lại được giới thiệu xuất hiện một mình đứng trước đám đông, rồi chỉ sau đó Người mới kêu gọi các môn đệ.

+ Trước tiên là “Simon”, chủ chiếc thuyền mà lát nữa Đức Giêsu sẽ ngồi vào vị trí của ông. Chỉ trong có ít dòng mà tên ông được nói tới năm lần, trong đó có một lần và là lần đầu tiên ông được gọi là Simon-Phêrô

+ Rồi đến “hai con ông Zêbêđê là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simon”

+ Cả ba ông, Phêrô, Giacôbê, Gioan, được kêu gọi trước tiên, sẽ là những chứng nhân đặc tuyển được chứng kiến việc hồi sinh cho con gái ông Giairô, việc Chúa biến hình sáng láng trên núi Taborê (Lc.9,28) và vào riêng vườn Giệt Mt 26,37.

– Khung cảnh là “ven bờ Biển hồ Ghennêxarét”: Đức Giêsu giảng dạy bên bờ hồ, bao quanh Người là đông đảo dân chúng chen lấn nhau “để nghe lời Thiên Chúa “. Luca kể: Có hai chiếc thuyền đậu gần đó. Còn “những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới”, sau khi đã đi đánh cá suốt đêm trở về mà chẳng được con cá nào.

R. Meynet nhận xét: “Đức Giêsu ở bên bờ hồ, bao quanh Người là đông đảo dân chúng chen lấn nhau. Trong khi đó, những người dân chài đang lo toan công việc thường ngày của họ: họ đang giặt lưới. Đám đông có đó, nhưng dân chài (cả 3 môn đệ đầu tiên Phêrô, Giacôbê, Gioan) họ lại không tham dự cùng với đám đông. Đám đông đang lắng nghe lời Chúa, còn họ đang giặt lưới” (“L’Évangile selon saint Luc. Phân tích tu từ”, tập 2, trg 70).

2. Trở thành tòa giảng …

Bỗng dưng mọi sự bắt đầu đảo lộn. Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, “thuyền đó của ông Simon và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút”.

Thế là từ đây hai người, Đức Giêsu và ông Simon, là những kẻ “đồng hội đồng thuyền” dấn thân vào cùng một cuộc phiêu lưu: Simon, người dân chài của Biển hồ sát cánh liền kề với Đức Giêsu, người đang “ngồi” trong tư thế của một vị tôn sư dạy dỗ các môn sinh của mình, để ngỏ lời với đám đông. “Con thuyền của Phêrô đã trở thành tòa để giảng dạy” (Sđd).

Ngày nay, trong các đám đông vận động hoặc biểu tình, ta cũng thường thấy cảnh diễn giả, người vận động đứng trên mui xe, nóc nhà để cho mọi người dễ thấy và nhất là để nói cho mọi người dễ nghe. Họ biến mui xe, nóc nhà thành diễn đàn; còn Đức Giêsu biến con thuyền thành toà thuyết giáo di động. (Nhà thờ di động)

3. và cũng là biểu tượng Giáo hội truyền giáo.

Giảng xong, Chúa Giêsu nói ” Hãy chèo ra chỗ nước sâu, (ra khơi: duc in alto) mà thả lưới bắt cá”, giờ đây Đức Giêsu lệnh cho ông Phêrô như vậy. “Bắt cá”, chuyện đó các ông đã vất vả “suốt cả đêm rồi mà không bắt được gì cả” dù rằng đêm tối vẫn là thời điểm thích hợp nhất cho việc đánh cá. Vậy mà, đang lúc các bạn chài người Nadarét của ông từ chối đề nghị kia của Đức Giêsu, thì Simon lại đầu hàng trước lệnh của người dân quê miền đồi núi Nazaret ấy, tức là Giêsu, thợ mộc vốn chẳng biết gì về chuyện chài lưới cả, ông đáp: “Thưa Thầy, dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”.

– Lời của Đức Giêsu tỏ ra rất hữu hiệu, vì mẻ lưới bắt được rất nhiều cá, đến nỗi lưới hầu như bị rách; họ phải “làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp”, dẫu sao hai thuyền đều đầy cá đến gần chìm.

Thế là ông liền quỳ gối sấp mặt dưới chân người khách trên thuyền của mình như sấp mặt trước “Đức Chúa” vậy:”Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”.

– Câu trả lời mà Simon nhận được từ Đức Giêsu sẽ đánh dấu một khúc quanh quyết định cho cuộc đời của ông:”Đừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá” (=lưới người).

+ “Anh sẽ bắt người”: sát nghĩa là: anh sẽ bắt những con người sống, có nghĩa là anh sẽ giựt lên những con người đang sống, anh sẽ kéo họ ra khỏi thế lực của sự ác để bảo đảm cho họ được sống an lành. Là “ngư dân, dân chài”, Simon-Phêrô vẫn sẽ giữ nghề đánh cá, nhưng cái nghề đi tìm cá ban đêm của ông, một khi thay đổi đối tượng: cá “người,” thì cũng sẽ thay đổi ý nghĩa.

“Từ nay”, sứ mệnh của ông sẽ là lôi kéo người ta ra khỏi vòng kiềm tỏa của sự ác và cái chết, mà thời đó người ta vốn dùng hình ảnh biểu tượng là chỗ nước sâu, để đưa họ đến cõi sống.

– Thế rồi, sau khi đã đưa thuyền vào bờ, Simon-Phêrô, Giacôbê và Gioan “bỏ hết mọi sự mà theo Đức Giêsu ” “để dấn thân vào con đường mà theo kiểu nói của Ph. Bossuet và J. Radermakers, sẽ là một cuộc thả lưới lâu dài nhất và phi thường nhất trong cả cuộc đời của các ông” (“Đức Giêsu, Lời ban Ân sủng theo thánh Luca”, tr.183).

Nếu Chúa Giêsu biến thuyền Phêrô thành toà giảng và thành biểu tượng của giáo hội truyền giáo (ra sâu bắt người sống), thì ta cũng có thể biến nhiều thứ thành toà giảng để bắt người sống. Ta có thể thấy khó mà sánh kịp với một Phanxicô Xavie, biến thuyền thành toà, biến đất thành đế, (nâng niu bàn chân Việt) biến biển thành nước thánh tẩy, để đưa 100 ngàn, và ngài còn dự định xa nữa, nhưng Chúa đã gọi ngài về lúc 46 tuổi (1506-1552), khi tại đảo Thượng Xuyên ngay cửa khẩu Quảng Châu, mắt hướng về Trung Quốc cánh đồng sẽ bội thu. Nếu ta khó có thể sánh kịp một góc nhỏ của Phanxicô Xavie, thì ta không nên thua một vị khác, biến bốn bức tường thành toà giảng, và thành nơi câu các linh hồn sống.

Trong “Truyện Một tâm hồn” thánh nữ Terexa Hài đồng Giêsu có thuật lại một hy sinh rất đẹp của thánh nữ: “Một lần tại nhà giặt, con ngồi đàng trước một chị. Chị này giặt khăn tay, chốc chốc lại làm bắn nước bẩn vào con. Thoạt đầu, con muốn là ngay ra lau mặt cho chị ấy biết để đừng làm bắn nước bẩn vào con nữa. Nhưng nghi lại như thế là dại, vì bỏ mất những hạt ngọc người ta tặng cho mình một cách rất đại lượng, và con đã thôi không tỏ vẻ khó chịu gì hết. Hơn nữa, con lại cố nén mình để ước ao nước bẩn ấy bắn lên con rất nhiều. Qua nửa giờ, con đã cảm thấy sự vui thú được vấy nước bẩn. Con định bụng hễ sau này có dịp lại đến chốn đất lành ấy để được làm giầu (hạt ngọc) không mấy khó khăn”.

Chỗ khác, chị thánh còn nói: “Với lòng kính mến Chúa, thì dù cúi xuống đất nhặt một cây kim nhỏ, ta cũng cứu được một linh hồn.

Một lần nọ, chị coi nhà liệt khuyên Chị thánh mỗi ngày nên đi bách bộ ngoài vườn 15 phút. Chị thánh coi lời khuyên đó như một mệnh lệnh. Bữa kia vào lúc quá trưa, một chị trông thấy Chị thánh bước đi khó khăn quá, mới thương hại bảo rằng:

– Chị về nằm nghỉ có lẽ lợi hơn đi bách bộ, đi như thế chỉ thêm mệt.

Chị thánh thưa lại:

– Vâng chính thế: nhưng chị có biết em lấy sức gì để đi được không ? Em đi để làm ích cho một vị truyền giáo, với ý nghĩ: ở cõi xa xăm kia, có vị truyền giáo dường như đã kiệt sức vì mải miết theo đuổi công cuộc mở mang nước Chúa: em muốn dâng lên Chúa những bước đi mệt nhọc này để vị tông đồ kia đỡ nhọc mệt.

Hãy biến bàn học, bàn giấy, quày hàng, cỗ máy… thành những toà giảng, để câu, chài, bắt nhiều người sống về cho Chúa, ít ra là như cách bắt của chịTêrêxa trên. Amen.

27.Chúa Nhật 5 Thường Niên

(Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành)

Những ngày cuối năm, thông thường các Sr. các Thầy đã khấn trọn đời trong năm qua được về quê nghỉ tết và dâng lễ tạ ơn.

Năm nay, Giáo xứ chúng ta vinh dự có 5 thánh lễ tạ ơn cho 3 Sr. và 2 Thầy. Đây là niềm vui cho Giáo xứ, gia đình và đặc biệt là niềm vui cho bản thân các tân vĩnh khấn. Trong lời cám ơn sau lễ, hầu hết các tân khấn sinh đều bày tỏ tâm tình của mình về tình thương cao cả của Thiên Chúa trước sự bất xứng của thân phận con người.

1. Ơn gọi là một huyền nhiệm

Thật vậy, ơn gọi nói chung và nhất là ơn gọi đi tu là một huyền nhiệm. Ơn gọi phát xuất từ Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã từng nói: “Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con”(x. Ga 15,16). Thiên Chúa luôn đi bước trước để tuyển chọn con người. Cụm từ “hãy theo Ta” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Kinh Thánh. Thiên Chúa chọn Isaia làm tiên tri. Thiên Chúa chọn Phaolô làm Tông đồ dân ngoại. Thiên Chúa chọn Phêrô làm kẻ chài lưới người. Thiên Chúa chọn tôi, chọn anh chị em làm việc nọ việc kia. Mỗi người đều được Thiên Chúa kêu gọi để giao trách nhiệm tuỳ hoàn cảnh và địa vị của mình.

2. Trước Thiên Chúa, con người luôn cảm thấy bất xứng

Nhưng, đứng trước lời mời gọi của Thiên Chúa, con người luôn cảm thấy bất xứng.

Bài đọc thứ nhất cho chúng ta biết, trước nhan Thiên Chúa ba lần Thánh, tiên tri Isaia đã tự nhận mình là kẻ bất xứng, ông thốt lên rằng: “Vô phúc cho tôi! Tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn, tôi ở giữa một dân tộc mà lưỡi họ đều nhơ nhớp, mắt tôi đã trông thấy Ðức Vua, Người là Chúa các đạo binh”(Is 6,5).

Bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô cũng đã nhận mình là kẻ hèn mọn nhất trong các Tông đồ. Ngài cho mình là kẻ bất xứng không đáng làm Tông đồ, Ngài nói: “Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các Tông đồ, và không xứng đáng được gọi là Tông đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa”(1Cr 15,9).

Bài Tin mừng Thánh Luca kể lại, sau khi thấy mẻ cá lạ lùng, Phêrô cảm thấy mình tội lỗi, không xứng đáng đứng gần Chúa. Ngài đã thốt lên với Chúa Giêsu rằng: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi”(Lc 5,8).

Đối với chúng ta, chắc chắn ai cũng cảm thấy bất xứng, vì không ai hoàn hảo.

3. Thiên Chúa biến sự bất xứng thành khí cụ của Ngài

Thiên Chúa đã làm cho Isaia trở thành một tiên tri, Thần Sốt Mến đã nói với Isaia rằng: “Hãy nhìn xem, than lửa này đã chạm đến lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ, và tội của ngươi được thứ tha”(Is 6,7). Và khi nghe tiếng Chúa phán: “Ta sẽ sai ai đi? Và ai sẽ đi cho chúng ta?”(Is 6,8). Isaia đã mạnh dạn thưa với Chúa rằng: “Này con đây, xin hãy sai con”(Is 6,8). Isaia đã trở thành một tiên tri lớn, một tiên tri vĩ đại trong thời Cựu Ước.

Thiên Chúa cũng đã biến Phaolô từ một người bắt bớ Giáo Hội trở thành vị Tông đồ dân ngoại. Chính thánh Phaolô đã nói: “Nhưng nay tôi là người thế nào, là nhờ ơn của Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các Ðấng: song không phải tôi, nhưng là ơn của Thiên Chúa ở với tôi”(1Cr 15,10).

Còn Phêrô, từ một người làm nghề đánh cá, Chúa đã biến ông thành một Tông đồ đánh bắt các linh hồn. Từ một người đã từng phạm tội chối Thầy ba lần, trở thành người làm đầu Hội Thánh, vị Giáo Hoàng đầu tiên. Thật là kỳ diệu. Thiên Chúa biến sự bất xứng của con người thành khí cụ của Ngài. Đối với Ngài, “Không có gì mà Ngài không làm được”(Lc 1,37).

4. Thiên Chúa cần sự cộng tác của con người

Thánh Augustinô nói một câu rất nổi tiếng: “Chúa dựng nên con không cần có con nhưng để cứu chuộc con, Chúa cần sự cộng tác của con”. Mặc dầu, Thiên Chúa ban ơn để biến đổi con người từ bất xứng trở thành khí cụ hữu hiệu của Chúa. Nhưng Thiên Chúa luôn luôn cần sự cộng tác của con người. Khi nghe Thiên Chúa mời gọi, Isaia đã sẵn sàng đáp trả và dấn thân trong sứ mạng tiên tri.

Cũng vậy, sau cú ngã ngựa trên đường Đamát, Phaolô đã hỏi Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, con phải làm gì?”(Cv 22,10). Sau đó, Phaolô đã làm theo sự hướng dẫn của Chúa: Lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy bởi ông Anania. Cố gắng hoà nhập với các Tông đồ và các Kitô hữu tiên khởi. Đặc biệt, Phaolô đã dùng khả năng và cống hiến sức lực của mình để loan báo Tin Mừng cho dân ngoại. Có thể tóm tắt sự cộng tác của Ngài với ơn Chúa qua chính lời Ngài kể trong thư 2 Côrintô sau đây: “… Bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh!”(x. 2Cr 11, 23-28).

Với Thánh Phêrô, mặc dầu đang yên bề gia thất, nghề nghiệp ổn định…Nhưng Ngài đã đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu. Ngài đi theo Chúa trong suốt thời gian ba năm, được Chúa huấn luyện, uốn nắn. Mặc dầu Phêrô đã chối Chúa ba lần, nhưng sau đó đã ăn năn khóc lóc, hối hận về hành động của mình. Trước khi đặt làm đầu Giáo Hội, Chúa Giêsu đã hỏi Phêrô ba lần, con có yêu mến Thầy không? Phêrô đã không ngần ngại thưa lên rằng: “Lạy Thầy, con yêu mến Thầy”(x. Ga 21, 15-19). Phêrô đã thực sự yêu mến Chúa hết lòng hết sức, Ngài cống hiến hết mình vì sự tồn tại và phát triển của Giáo Hội thuở ban đầu.

5. Với chúng ta hôm nay

Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta cũng là những người bất xứng, tội lỗi. Nhưng Thiên Chúa thương mời gọi chúng ta gia nhập Giáo hội. Dầu là linh mục, tu sỹ hay giáo dân, chúng ta phải biết cộng tác với ơn Chúa để chu toàn bổn phận của mình. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, Chúa giao cho chúng ta sứ mạng tư tế, vương đế và ngôn sứ. Chúa mời gọi chúng ta đóng góp phần mình trong công cuộc xây dựng và phát triển Giáo Hội. Mỗi chúng ta có trách nhiệm Phúc Âm đời sống chính mình, Phúc Âm hoá đời sống gia đình, Phúc Âm hoá đời sống xã hội, để qua chúng ta mọi người sẽ biết và tin yêu Chúa. Đặc biệt, đối với mỗi người giáo dân, sống giữa lòng xã hội và thế giới, Công Đồng Vaticanô II đã dạy rằng: “ …Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động trong những nơi và hoàn cảnh mà nếu không có họ, Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian” (LG, số 33)

Lạy Chúa, con có thể thưa với Chúa như tiên tri Isaia, như Phaolô hay như Phêrô. Vì con cảm thấy mình yếu kém hơn nhiều so với các Ngài. Nhưng tin tưởng vào Chúa, con mạnh dạn dùng khả năng và những gì Chúa ban cho con để phục vụ Chúa và Giáo hội. Xin Chúa luôn đồng hành và giúp đỡ con. Amen.

28.Lợi ích của vâng lời

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Người ta vẫn thường nói: “sau đêm dài là ánh bình minh”. Cuộc đời không phải lúc nào cũng tối tăm. Có những lúc tưởng như vô vọng nhưng dịp may lại đến với chúng ta. Có những lúc tưởng như không còn lối thoát nhưng bàn tay kỳ diệu của Đấng Tạo hoá đã kịp thời mở lối cho chúng ta.

Lời Chúa hôm nay kể về một câu chuyện rất đời thường của những người dân nghèo thuyền chài miền Galilêa. Họ vật vã với sóng gió biển cả suốt đêm. Họ luôn phải đối mặt với biết bao hiểm nguy. Thế nhưng lưới vẫn nhẹ, thuyền vẫn rỗng vì chẳng bắt được con cá nào. Ánh bình minh hôm nay không đem lại cho họ niềm vui. Niềm hân hoan của ngày mới không đến với họ. Họ thất vọng nhiều hơn vui. Một đêm vất vả chẳng được gì là dấu chỉ cho một ngày cơm bữa no bữa đói. Lòng buồn vời vợi. Họ ngồi giặt lưới trong tâm trạng nặng trĩu những âu lo. Thuyền lứơi của họ xem ra đã vô dụng. Bỗng dưng Thầy Giêsu lại muốn sử dụng chiếc thuyền của họ. Chúa mượn thuyền của Phêrô. Con thuyền mà Phêrô tưởng chừng như chẳng giúp ích gì cho ông. Thuyền đánh cá nhưng có được con cá nào đâu? Chúa mượn thuyền Phêrô không phải để đánh cá mà dùng làm phương tiện rao giảng tin mừng. Cuối đoạn tin mừng Chúa lại mượn luôn con người Phêrô làm kẻ chuyên lo chài lưới người.

Xem ra những thất bại trong cuộc đời luôn là cơ hội để chúng ta thay đổi cuộc sống. Vì Thất bại là mẹ thành công. Thất bại để hiểu rõ sự thật, để hiểu rõ con người và lượng giá sức người cho phù hợp với khả năng để tiến tới thành công. Phêrô đã thay đổi phận số đời mình từ ngày ông cho Chúa mượn chiếc thuyền làm phượng tiện rao giảng Tin mừng. Từ ngày Phêrô vâng lời Thầy Giêsu chèo ra chỗ sâu mà thả lưới bắt cá xem ra đã thay đổi mọi suy nghĩ của Phêrô. Phêrô từ đó đã đi theo Chúa. Phêrô từ đó càng hiểu hơn về giá trị của vâng lời. Vâng lời Thầy là tin tưởng hoàn toàn vào Thầy. Vâng lời là nhìn nhận sự yếu kém bất toàn của mình để làm theo lời Thầy chí thánh mà có lần ông đã tuyên xưng: “Thầy là Con Thiên Chúa”. Vâng lời Thầy là làm tất cả những gì Thầy muốn Phêrô làm. Phêrô đã thành công khi vâng lời thầy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới. Ông đã được một mẻ cá quá lớn, lớn đến nỗi một mình Phêrô không mang về hết phải nhờ đến các bạn đồng nghiệp. Mẻ cá này là hình ảnh tiên báo cho lời giảng thuyết đầu tiên của Phêrô sau ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống. Phêrô đã mang về cho Giáo hội hơn 3000 người tin theo Chúa.

Vâng, những thất bại trong cuộc đời. Những cay đắng trong cuộc sống đôi khi thật cần thiết để hoàn thiện con người chúng ta. Có những người suốt đời gặp toàn điều may lành có lẽ họ không cảm thấy sự bất toàn của mình để khiêm tốn sống đúng với con người thật của mình. Vì “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”. Không biết rõ mình nên khó có thể đứng vững trước nguy nan, trước sóng gió cuộc đời. Khi con người biết rõ giới hạn của mình là lúc con người sống khiêm tốn để cần sự trợ giúp của tha nhân, nhất là của Thiên Chúa.

Nhà bác học Archimède đã từng nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất này lên”. Kinh nghiệm cho thấy: cho dù phiến đá đồ sộ to lớn mấy chăng nữa! nếu đòn bẩy có điểm tựa sẽ dễ dàng lăn tảng đá rời khỏi vị vị. Archimède đã dựa vào kinh nghiệm rất đời thường để xác tín điều đó. Ở đời cũng vậy, có nhiều việc tưởng chừng như sẽ bỏ dở dang, thế nhưng nhờ ơn trời và sự trợ giúp của nhiều người công việc đã tiếp diễn thật tốt đẹp, ngoài sức tưởng tượng. Và đôi khi cũng có nhiều ngừơi xem ra bất tài vô dụng nhưng họ vẫn thành công khiến chúng ta sững sờ ngạc nhiên. Sự thành công đến với họ không do tài trí của họ mà do sự trợ giúp của những người thân, của đồng nghiệp. Và trên hết đó chính là ơn ban của Chúa dành cho những ai biết tin tưởng cậy trông vào Chúa. Simon Phêrô đã dựa vào Lời Chúa mà ông đã bắt được một mẻ cá thật kỳ diệu. Các tông đồ đã dựa vào sức mạnh của Chúa để ra đi loan báo tin mừng. Các ngài đa phần là dân chài nghèo hèn thế mà đã thay đổi cả thế giới. Văn hoá kytô giáo đã phủ khắp năm châu bốn biển không do tài trí của con người, mà do quyền năng Chúa thực hiện trên những con người yếu hèn như khí cụ của Chúa.

Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết cậy dựa vào Chúa để can đảm ra đi loan báo tin mừng. Ước gì mỗi người chúng ta dầu trong hoàn cảnh nào, cũng không bỏ cuộc nhưng luôn tin tưởng vào ơn trợ giúp của Chúa sẽ dẫn chúng ta đi qua những thăng trầm của cuộc đời. Cuộc đời luôn có những khó khăn. Dòng đời luôn có những bấp bênh nhưng chúng ta hãy tin tưởng, Chúa sẽ luôn kịp thời nâng đỡ và giải cứu chúng ta khỏi những nguy nan, bất trắc và hiểm nguy. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết chạy đến với Chúa và kêu cầu Chúa trong những lúc nguy nan. Amen.

29.Đại Lãn thời @ thèm VRLH

(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

Người xưa dạy con cháu rằng: “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”. Nhưng nhìn vào xã hội ngày nay ta thấy rất nhiều người chẳng muốn làm, chỉ chực chờ ăn. Những loại người này có thể gọi là Đại Lãn thời @.

Chuyện xưa kể rằng: Một ngày nọ, Đại Lãn đến bên một cây sung to. Chao ôi, bao nhiêu là quả chín! Lại nữa, thỉnh thoảng một quả rơi xuống bên gốc cây. Hắn nghĩ ngay ra một diệu kế. Cần phải nằm ngửa, há to miệng, thế nào cũng có quả rơi đúng miệng. Lúc đó, hắn sẽ nhai ngon lành, mà chẳng cần phải hoài công leo trèo, hái lượm gì… Nhiều quả sung lần lượt rơi chung quanh mình, nhưng chẳng có một quả nào rơi vào miệng hắn. Vừa đói, vừa mệt, hắn đành nuốt nước bọt thất vọng đứng dậy. Thành ngữ ”Há miệng chờ sung” hay “Đại Lãn chờ sung” từ đó đã gán cho những kẻ lười biếng mà lại đòi có cái ăn, cái để…

Chuyện ngày nay kể rằng: cứ đất nào đẹp, địa thế thuận lợi thì lãnh đạo sẽ quy hoạch để cướp đất, phân lô và bán đất. Các quan chức này chỉ thấy đất là thấy vàng mà không nhìn thấy biết bao mồ hôi người dân đã đổ ra trên mặt đất này từ bao đời nay. Họ giống như Đại Lãn cứ tưởng há miệng là sung rơi trúng cho mà ăn, nhưng họ đã lầm! Chân lý luôn thắng. Những người không làm mà đòi ăn đều thất bại đắng cay. Điển hình là TP Đã Nẵng với cái tên Vũ Nhôm làm bình phong cho các quan chức để thâu tóm đất giá rẻ mạt mà bán với giá trên trời nay cũng đang bóc lịch 17 năm và trả lại cho đất nước cả hàng ngàn tỉ. Và đắng lòng hơn là chẳng cần quy hoạch theo chương trình phát triển đất nước, nhưng vẫn to tiếng đuổi dân chiếm đất như Thủ Thiêm để bây giờ chín rõ mươi mươi không có quy hoạch, và tuyên bố trả lại cho dân, cho giáo xứ, cho Dòng Thủ Thiêm… Gần đây nhất là VRLH, những Đại Lãn thời @ cũng ngang nhiên giải toả để làm gì thì không có văn bản rõ ràng. Họ chỉ thấy đất vàng và muốn chiếm mà đâu nghĩ đất đã có chủ từ rất xa xưa , giáo hội Công giáo đã khai phá , và cho dân trồng cấy. Người dân bao đời đã gìn giữ cho con cháu chứ đâu nghĩ rằng một đất nước dường như không còn luật pháp, không đối thoại, không ra toà xét xử mà tự dưng bị mất nhà, mất đất trước những ngày xuân đoàn tụ gia đình. Chúng ta tin rằng chân lý sẽ thắng vì “Có làm thì mới có ăn – Không dưng ai dễ mang phần cho ta”.

Bài phúc âm hôm nay nhiều người nghĩ đơn giản là chỉ cần vâng nghe lời Chúa là có mẻ cá kỳ diệu. Chúa chẳng bao giờ ban cho kẻ lười biếng dư thừa. Chúa chỉ chúc phúc cho những ai đã vất vả cực nhọc được nhìn thấy công lao của mình bỏ ra thật xứng đáng.

Phúc âm kể rằng anh em nhà ngư phủ Simon và Anre đã vất vả đánh cá cả đêm mà chẳng được con nào. Họ vật vã với sóng gió biển cả suốt đêm. Họ luôn phải đối mặt với biết bao hiểm nguy. Thế nhưng lưới vẫn nhẹ, thuyền vẫn rỗng vì chẳng bắt được con cá nào. Ánh bình minh hôm nay không đem lại cho họ niềm vui. Niềm hân hoan của ngày mới không đến với họ. Họ thất vọng nhiều hơn vui. Một đêm vất vả chẳng được gì là dấu chỉ cho một ngày cơm bữa no bữa đói. Lòng buồn vời vợi. Họ ngồi giặt lưới trong tâm trạng nặng trĩu những âu lo. Thuyền lứơi của họ xem ra đã vô dụng. Bỗng dưng Thầy Giêsu lạichỉ cho họ cách bắt cá. Hãy thả lưới bên mạn thuyền sẽ có cá. Họ đã làm và đã thấy điều kỳ diện.

Quả đúng là “Trời không bao giờ phụ ta”. Trời luôn chúc phúc cho những ai thành tâm thiện chí sẽ không đói khổ bao giờ. Chúng ta hãy tin tưởng vào chân lý luôn thằng, sự cần cù của chúng ta luôn được chúc phúc từ Thiên Chúa.

Năm mới Nhâm Dần đang bắt đầu, chúng ta hãy xin Chúa chúc lành cho công việc chúng ta một năm thuận buồm xuôi gió. Một năm luôn được nhìn thấy thành quả của mình sau những ngày tháng vất vả vun trồng.

Ước gì mỗi người chúng ta dầu trong hoàn cảnh nào, cũng không bỏ cuộc nhưng luôn tin tưởng vào ơn trợ giúp của Chúa sẽ trợ giúp những ai tin tưởng cầu xin Ngài. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết chạy đến với Chúa và kêu cầu Chúa trong những lúc khó khăn. Amen.

30.Muôn sự nhờ Trời

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Ngày đầu năm chúng ta hay thăm hỏi nhau bạn làm ăn thế nào? Cuộc sống của bạn có bình an không? Dường như ai cũng khiêm tốn trả lời: nhờ ơn Trời mà năm nay làm ăn tốt hơn. Nhờ ơn Chúa mà được bình an mọi sự.

Nhà thơ Nguyễn Du năm xưa cũng từng tin vào Trời. Ông Trời định đoạt mọi sự cho nhân gian.

Trời còn để có hôm nay

Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời

Hoa tàn mà lại thêm tươi

Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa

Quả thực, “Trời còn để có hôm nay” để sống, để nhìn thấy nhau, là ân ban bởi Trời. Mỗi ngày là một tặng phẩm của đất trời. Dầu không biết ngày mai sẽ ra sao nhưng vẫn phải trân quý giây phút hiện tại để cám tạ ơn Trời đã ban cho chúng ta được đoàn viên hôm nay. Dẫu rằng có những lúc “Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời”, thế nhưngsau những rủi ro, cùng cực, khổ đau, thao thức, ba đào… Trời vẫn cho chúng ta có ngày hôm nay để có thề sum vầy bên nhau.

Ngày xưa có người hỏi Socrates: “Ông là người có học vấn uyên thâm, ông có biết khoảng cách giữa trời và đất là bao nhiêu không?”

Socrates trả lời: “Khoảng 1 mét”.

Người đó không tin nói:“Thưa ông, ngoài trẻ sơ sinh ra, chúng ta ai cũng cao hơn 1m, nếu độ cao giữa trời và đất chỉ có 1m, thì chẳng phải chúng ta đã đâm vào bầu trời rồi hay sao?”

Socrates tiếp tục nói: “Đúng, ai mà chả cao hơn 1m, nếu muốn nổi bật giữa trời đất, thì phải biết cách cúi đầu”.

Hóa ra con người cần phải học cúi đầu. Cúi đầu để thấy mình không bằng ai. Cúi đầu để thấy con người mình thật hạn hẹp cần đến sự trợ giúp của Trời cao. Cúi đầu để thấy rằng mình cần sự trợ giúp của anh em. Cúi đầu để thấy mọi sự đều là ân ban của Trời mà biết sống cảm mến tri ân.

Phê-rô và các bạn chài năm xưa đã thấy quyền năng Chúa nhờ biết cúi đầu. Cúi đầu để vâng lời Thầy mà chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới. Họ đã được một mẻ cá quá lớn, lớn đến nỗi một thuyền không mang về hết mà phải nhờ đến các bạn đồng nghiệp.

Mẻ cá này cũng là hình ảnh tiên báo cho lời giảng thuyết đầu tiên của Phêrô sau ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống. Phêrô đã nhờ ơn Chúa thánh Thần mà mang về cho Giáo hội hơn 3000 người tin theo Chúa.

Các tông đồ cũng dựa vào sức mạnh của Chúa để ra đi loan báo tin mừng. Các ngài đa phần là dân chài nghèo hèn thế mà đã thay đổi cả thế giới. Văn hoá kytô giáo đã phủ khắp năm châu bốn biển không do tài trí của con người, mà do quyền năng Chúa thực hiện trên những con người vốn dĩ bất toàn vẫn làm nên những chuyện phi thường.

Cuộc đời luôn đưa đến biết bao khó khăn thử thách. Hãy tin tưởng phó thác vào Chúa. Hãy bước đi trong niềm tín thác nơi Chúa. Chính Chúa sẽ trợ giúp chúng ta. Chính Chúa sẽ dẫn chúng ta đến chỗ thành toàn. Nơi Thiên Chúa không gì mà Ngài không làm được. Ngài có đủ quyền năng để hoàn tất chương trình của chúng ta.

Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết cậy dựa vào Chúa để can đảm ra đi loan báo tin mừng. Ước gì mỗi người chúng ta dầu trong hoàn cảnh nào, cũng không bỏ cuộc, nhưng luôn tin tưởng vào ơn trợ giúp của Chúa sẽ dẫn chúng ta đi qua những thăng trầm của cuộc đời. Cuộc đời luôn có những khó khăn. Dòng đời luôn có những bấp bênh nhưng chúng ta hãy tin tưởng, Chúa sẽ luôn kịp thời nâng đỡ và giải cứu chúng ta khỏi những nguy nan, bất trắc và hiểm nguy. Xin Chúa giúp chúng ta luôn biết chạy đến với Chúa và kêu cầu Chúa trong những lúc nguy nan. Amen.

31.Chúa gọi – Ta đáp trả

(Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển)

Tin mừng Lc 5: 1-11: Nếu mỗi một Chúa Nhật đều có một chủ đề để làm nổi bật lên ý nghĩa của Phụng Vụ được cử hành, thì Chúa Nhật hôm nay, chủ đề chính đó là nói về ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin Mừng.

Tuy nhiên, để trở thành một ơn gọi, cần phải có tương quan hai chiều, đó là: Chúa gọi và lời đáp trả của mỗi người. Nhưng để một ơn gọi có giá trị trước mặt Chúa, con người cần phải có một sự cảm nghiệm sâu sắc về tình yêu giữa Thiên Chúa và bản thân.

Đây chính là mẫu số chung cho các ơn gọi mà Phụng Vụ hôm nay đề cấp đến.

1. Ơn gọi của Isaia và các Tông đồ

Trong bài đọc I, chúng ta thấy việc Chúa chọn và gọi tiên tri Isaia qua việc Người tỏ cho ông thấy vinh quang chói lòa trong đền thờ.

Trước cảnh huy hoàng và tráng lệ đó, ông nhận ra Thiên Chúa là Đấng vô cùng Thánh Thiện, toàn năng, trong khi ấy, Isaia là một người tội lỗi, bất xứng! Nhưng khi được Thiên Chúa thanh tẩy, khiến ông trở nên trong sạch…, rồi người gọi ông trở nên tiên tri cho Người, ông đã mau mắn đáp lại trong sự tin tưởng và đầy quyết tâm: “Có con đây, xin Chúa sai con đi” (Is 6,8).

Sang bài đọc II, thánh Phaolô trình thuật hành trình rao giảng của ngài bị nhiều người chống đối, chê bai đủ điều và cho rằng ngài không xứng đáng để trở thành Tông đồ. Phaolô không chối cãi, không đôi co hay tìm cách kháng chế, nhưng ngược lại, ngài đã luôn nhận mình là con người thấp hèn vì đã bắt bớ, hành hạ Giáo Hội một thời, hơn nữa lại được chọn và gọi sau hết so với các Tông đồ, nên bản thân chỉ như là đứa trẻ sinh non…

Nhưng nhờ ân sủng và tình thương của Thiên Chúa, nên ngài đã trở nên vị Tông đồ lừng danh về mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh.

Sang bài Tin Mừng, thánh sử Luca trình thuật việc Đức Giêsu gọi và chọn các môn đệ đầu tiên trong bối cảnh mẻ cá lạ nơi bờ biển.

Khởi đi từ việc Đức Giêsu mượn chiếc thuyền của Simon để làm chỗ đứng giảng dạy, rồi tiếp theo là lệnh truyền thả lưới bên phải mạn thuyền, và cuối cùng là một mẻ cá lạ!

Đứng trước những sự trùng khớp và nhiệm mầu như vậy, Simon đã sụp lạy dưới chân Đức Giêsu và thưa: “Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Cả ông Giacôbê và Gioan cũng kinh ngạc như ông. Thấy vậy, Đức Giêsu đã phán bảo các ông: “Đừng sợ! từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Bấy giờ các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Ngài.

2. Sứ điệp Lời Chúa

Qua các bài đọc hôm nay, chúng ta thấy sứ điệp Lời Chúa toát lên một điểm chung, đó là: Chúa gọi và chọn những người Chúa muốn. Mọi ơn gọi đều phát xuất từ Chúa do tình thương của Người. Điều quan trọng, con người phải ý thức rằng: mình chẳng là gì trước mặt Chúa, nhưng lại được Chúa yêu thương và tuyển chọn. Phần còn lại, đó là đương sự cảm nghiệm được tình thương của Chúa và mau mắn đáp lại là thôi.

Chúa không chọn ai khi người đó còn đang trong tình trạng kiêu ngạo, vì thế, Người chỉ gọi và chọn những ai có một tấm lòng khiêm nhường thẳm sâu và cảm nghiệm được tình yêu của Chúa trên cuộc đời mình.

Mặt khác, qua phép lạ mẻ cá lạ, Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta thấy:

Trước quyền năng của Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được! Mẻ cá lạ đã minh chứng cho chúng ta thấy điều đó, đồng thời cũng cho thấy sự bất lực, giới hạn của con người, vì thế, con người có làm được việc gì là hoàn toàn dựa vào ơn Chúa.

Cá đầy thuyền là hình ảnh tiên báo về một Giáo Hội rộng khắp nơi nơi và sứ mạng loan báo Tin Mừng đến tận cùng trái đất của người môn đệ.

Sự dứt khoát từ bỏ mọi sự để đi theo Chúa của các môn đệ cho ta thấy: người môn đệ của Chúa, muốn theo Chúa thì phải dứt khoát từ bỏ những ràng buộc như tiền bạc, danh vọng, chức nghiệp và ý riêng để đi theo và thi hành ý muốn của Thiên Chúa.

Như vậy, Chúa chọn và gọi ai thì Người sẽ cho họ cảm nghiệm được Ngài là Đấng quyền năng, yêu thương và con người là bất xứng, để những người được gọi sẽ đi từ ngỡ ngàng đến vâng phục; từ vâng phục đến niềm tin và rồi ý thức mình chẳng là gì vì bất xứng, nên chỉ là dụng cụ Chúa dùng để ra đi thi hành sứ vụ của Người mà thôi!

3. Ơn gọi của chúng ta và lời đáp trả

Từ ơn gọi của các tiên tri, đến ơn gọi của các Tông đồ và cuối cùng là ơn gọi của mỗi người chúng ta.

Câu chuyện ơn gọi của ngôn sứ Isaia, Phaolô, Phêrô và các bạn trong các bài đọc hôm nay, cũng là mẫu số chung cho ơn gọi của mỗi người.

Ngày chúng ta được lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta được Chúa chọn để trở thành Kitô hữu, thành môn đệ của Ngài và nhất là trở nên chứng nhân của lòng thương xót mà chính mình đã cảm nghiệm.

Ơn gọi đó là ơn gọi phổ quát cho hết mọi người, vì thế, sứ mạng loan báo Tin mừng không chỉ dành riêng cho các linh mục hay tu sĩ, mà là cho hết thảy những ai đã trở thành Kitô hữu.

Nhiều khi chúng ta nghĩ rằng mình không xứng đáng để trở thành sứ giả của Chúa, hay nhiều khi đùn đẩy và coi như một gánh nặng, lại có khi thi hành nhưng kiêu ngạo và tự phụ…!

Tất cả những thái độ đó đều không phù hợp với chúng ta là những người tin và đi theo Chúa cũng như chung chia sứ mạng với Ngài.

Thái độ cần có đối với mỗi người, đó là: khiêm nhường, ý thức mình bất xứng nhưng được Chúa thương, sẵn sàng để Người biến đổi như tiên tri Isaia, Phaolô, Phêrô…

Thiết nghĩ, với ơn Chúa, chúng ta sẽ làm được tất cả. Archimède đã khẳng định: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất lên”.

Điểm tựa của chúng ta là chính Đức Giêsu, nếu chúng ta tựa vào Ngài, chúng ta sẽ làm được mọi chuyện. Chúng ta mặc lấy Ngài, chúng ta sẽ có sức hút lạ thường, chẳng khác gì các môn đệ bắt được một mẻ cá lạ!

Mong sao mỗi người chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, đều ý thức được trách nhiệm, bổn phận cao quý của mình là trở nên sứ giả cho Thiên Chúa trong lòng xã hội hôm nay!

Ước gì mỗi người biết chu toàn trách vụ trong lòng mến, để nhờ sự quảng đại dấn thân của mỗi người, chúng ta sẽ làm cho nhiều người nhận biết Chúa và tin theo Ngài để được sự sống đời đời.

Lạy Chúa Giêsu, ngày nay vẫn còn quá nhiều người chưa tin hay không biết đến Chúa. Xin Chúa ban cho sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội được nhiều người quan tâm, quảng đại và dấn thân để ra đi loan báo Tin Mừng cứu rỗi cho anh chị em chưa biết đến Chúa. Amen.

32.Chúa Nhật 5 Thường Niên

(Suy niệm chú giải của Lm. Inhaxiô Hồ Thông)

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay tập trung vào một chủ đề duy nhất: “Ơn Gọi”, hay đúng hơn: “Ơn Thiên Triệu”.

Is 6: 1-2a, 3-8

Trong Bài Đọc I, ngôn sứ I-sai-a thuật lại ơn gọi ngôn sứ của mình từ một thị kiến uy nghi hùng vĩ xảy ra trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, vào năm 740 trước Công Nguyên.

1Cr 15: 1-11

Trong đoạn trích thư thứ hai của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nhắc lại ơn gọi đặc biệt mà thánh nhân đã lãnh nhận từ chính Chúa Ki-tô Phục Sinh. Ngài đã biến đổi thánh nhân từ một kẻ bách đạo cuồng tín trở thành một Tông Đồ nhiệt thành loan báo Tin Mừng.

Lc 5: 1-11

Thánh Lu-ca thuật lại câu chuyện về ơn gọi của các môn đệ tiên khởi: ngay liền sau Mẻ cá kỳ diệu, thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan đáp trả lời mời gọi của Chúa Giê-su, họ từ bỏ mọi sự mà cất bước đi theo Ngài.

BÀI ĐỌC I (Is 6: 1-2a, 3-8)

Chúa Nhật vừa qua chúng ta đã đọc bài tường thuật về ơn gọi của ngôn sứ Giê-rê-mi-a; Chúa Nhật này, chúng ta đọc ơn gọi của ngôn sứ I-sai-a. Hai bài tường thuật được viết theo văn phong rất khác nhau và hai phản ứng của hai vị ngôn sứ này cũng đối lập với nhau. Nét đặc trưng của ơn gọi ngôn sứ Giê-rê-mi-a là bầu khí thân tình lòng bên lòng với Thiên Chúa, trong khi ơn gọi của ngôn sứ I-sai-a được định vị vào một thị kiến uy nghiêm hùng vĩ trong một cuộc thần hiển. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a không hề run sợ trước Thiên Chúa, nhưng lại sợ hãi khi phải đối đầu với con người. Trái lại, ngôn sứ I-sai-a run sợ trước vẻ uy nghi cao cả của Thiên Chúa và tự nguyện xin Chúa sai mình đi thi hành sứ vụ của Ngài cho con người.

Xem ra ngôn sứ I-sai-a xuất thân từ một gia đình thế giá ở Giê-ru-sa-lem và có mối quan hệ gần gũi với giai cấp lãnh đạo. Những người mà ông có sứ mạng chuyển giao sứ điệp là vua và các triều thần ở chốn cung đình. Ơn gọi của ngôn sứ I-xai-a được định vị vào “năm vua Út-di-gia-hu băng hà”. Vua Út-di-gia-hu là vị vua bất hạnh của vương quốc Giu-đa. Vào cuối triều đại hạnh phúc và thịnh vượng, vua bị bệnh cùi và qua đời năm 740 trước Công Nguyên.

1. Thị kiến khai mạc:

I-sai-a sinh vào năm 765 trước Công Nguyên. Vào khoảng 25 tuổi, ông đón nhận thị kiến ở Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, trong những giờ phút xuất thần hay trong một buổi phụng vụ. Dù thế nào, ông đón nhận một mặc khải về tính siêu việt và sự thánh thiện của Thiên Chúa đến nổi làm xáo động tâm trí của ông. Ngay liền sau đó, ông trở thành vị ngôn sứ của Thiên Chúa ngàn trùng chí thánh.

Cuộc thần hiển được diễn tả theo hình tượng truyền thống: đất rung chuyển, khói tỏa mù mịt, như ở trên núi Xi-nai trong Cựu Ước hay như ở Nhà Tiệc Ly vào ngày lễ Ngũ Tuần trong Tân Ước. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem đã là nơi Thiên Chúa ngự giữa cõi thế. Đức Chúa tỏ mình ra cho ông I-sai-a như một vị vua quyền năng mà sự uy nghi cao cả của Ngài bao phủ đền thánh, có các thần Xê-ra-phim hộ giá. Các thần này tung hô: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!”. Đây là lời tung hô “ba lần thánh”, nghĩa là, cực thánh hay ngàn trùng chí thánh, xem ra được dùng trong phụng vụ rồi. I-sai-a hiểu lời tung hô này và sẽ đặt nó vào trọng tâm sứ điệp của mình. Ông sẽ gọi Đức Chúa là “Đấng Thánh của Ít-ra-en”.

2. Sự khiêm hạ của con người và lòng xót thương của Thiên Chúa:

I-sai-a nhận ra ngay sự bất xứng của mình nên thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh!”. Với lời thú nhận đầy khiêm hạ này, Đức Chúa đáp trả bằng lòng xót thương; Ngài sai một trong các thần Xê-ra-phim, tay cầm một hòn than hồng trên bàn Hương Án và thanh tẩy môi miệng ô uế của vị ngôn sứ tương lai: “Đây, cái này đã chạm vào đến môi ngươi, ngươi đã được tha tội và xá tội”, để ông có thể xứng đáng là sứ giả của Ngài, người được Chúa sai đi truyền đạt Lời Chúa cho con người.

3. Ơn gọi:

Đức Chúa đã bày tỏ sự siêu việt của Ngài nhưng cũng sự hào hiệp của Ngài. Trước tiếng gọi của Thiên Chúa: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?”, I-sai-a vào lúc đó mới 25 tuổi đời mau mắn đáp trả không một chút đắn đo suy nghĩ: “Dạ, con đây, xin sai con đi”. Cảm thấy mình có liên đới với dân này, “một dân môi miệng ô uế”, I-xai-a sẽ là sứ giả của Thiên Chúa cho họ. Trong Tân Ước, thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan sau Mẻ cá kỳ diệu, sau này thánh Phao-lô sau thị kiến về Đấng Phục Sinh trên đường đi Đa-mát, đã không thể nào cưỡng kháng lại trước tiếng gọi của Chúa Ki tô.

BÀI ĐỌC II (1Cr 15: 1-11)

Chúng ta tiếp đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô.

1. Hai điều lợi ích:

Đoạn trích hôm nay cho chúng ta hai điều lợi ích. Điều lợi ích thứ nhất đó là thánh Phao-lô biện minh phẩm chất Tông Đồ của mình, vì thánh nhân đã lãnh nhận ơn gọi của mình từ chính Chúa Ki-tô. Điều lợi ích thứ hai rất nổi tiếng: bản văn này là lời tuyên xưng đức tin về giá trị cứu độ của cái chết Đức Ki tô và một lời khẳng định quý báu về cuộc Phục Sinh, kèm theo danh sách của tất cả những chứng nhân đã thấy Đấng Phục Sinh, danh sách mà chỉ một mình thánh Phao-lô cho đầy đủ nhất. Các tác giả Tin Mừng không nói đến việc Chúa Ki tô hiện ra cho năm trăm người, cũng không nói đến việc Ngài hiện ra cho ông Gia-cô-bê, người anh em họ của Chúa Giê-su, người đảm nhận trách nhiệm của Cộng Đoàn Giê-ru-sa-lem. Trong danh sách này, thánh Phao-lô cũng kể ra việc Chúa Giê-su hiện ra cho tất cả các Tông Đồ. Thuật ngữ “Tông Đồ” ở đây rõ ràng phải được hiểu theo nghĩa rất rộng, bởi vì Nhóm Mười Hai được trích dẫn trước đó.

Chúng ta ghi nhận rằng thánh Phao-lô đặt cuộc xuất hiện của Chúa Ki-tô mà thánh nhân đã được thụ hưởng trên đường đi Đa-mát trên cùng một bình diện với những lần xuất hiện của Chúa Ki-tô giữa biến cố Phục Sinh và biến cố Thăng Thiên. Ở đây chúng ta chỉ dừng lại ở nơi ơn gọi của thánh Phao-lô mà chủ đề phụng vụ Lời Chúa hôm nay muốn hướng đến.

2. Ơn gọi của thánh Phao-lô:

Như ngôn sứ I-sai-a, thánh Phao-lô đã bị Thiên Chúa bắt lấy. Thánh nhân đã có một thị kiến về Đức Ki-tô Phục Sinh, Ngài tỏ mình ra trong một luồng ánh sáng rực rỡ khiến thánh nhân ngã xuống đất. Kẻ trước đây đã cuồng tín ra tay bắt hại các người Ki-tô hữu, bây giờ thú nhận là mình bất xứng: “Tôi là kẻ hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa”. Nhưng giống như I-sai-a, thánh Phao-lô đã được tha thứ và được gọi đích thân: “Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu”. Chúng ta nhận ra tâm hồn của vị Tông Đồ này: một sự trộn lẫn thường hằng giữa sự khiêm tốn và sự tự hào hãnh diện.

3. Thánh Phao-lô biện minh ơn gọi Tông Đồ của mình:

Thánh Phao-lô có nhiều lý do để mà biện minh ơn gọi của mình. Trong số những tín hữu Cô-rin-tô, vài người bác bỏ tước hiệu Tông Đồ của thánh nhân và buộc tội thánh nhân là huênh hoang tự đắc.

Ở đầu thư, thánh Phao-lô tự giới thiệu mình: “Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Giê-su Ki tô” (1Cr 1: 1). Như vậy, ngay từ đầu thư, các tín hữu Cô-rin-tô được báo trước rằng vị rao giảng của họ đòi hỏi tính chính danh ơn gọi Tông Đồ của mình. Sự đòi hỏi này được lập lại xa hơn một chút: “Tôi không phải là tông đồ ư? Tôi đã không thấy Đức Giê-su, Chúa chúng ta sao? Anh em không phải là công trình của tôi trong Chúa sao? Nếu đối với những người khác tôi không phải là tông đồ, thì ít ra đối với anh em tôi là tông đồ, vì ấn tín chứng thực chức vụ tông đồ của tôi trong Chúa chính là anh em” (9: 1-2).

Đoạn văn mà chúng ta đọc hôm nay được định vị vào cuối thư, vì thế, đây là lời thánh Phao-lô nhắc lại lần thứ ba về tính chất đặc thù của ơn gọi mình: chính Đức Ki-tô đã đích thân ủy thác sứ vụ tông đồ cho thánh nhân, chứ không có bất kỳ trung gian phàm nhân nào.

TIN MỪNG (Lc 5: 1-11)

Xem ra khi viết đoạn Tin Mừng này, thánh Lu-ca vận dụng cùng một phương pháp văn chương mà thánh ký đã sử dụng rồi trong bài tường thuật “Chúa Giê-su viếng thăm Na-da-rét”: tập hợp lại những sự kiện nối tiếp nhau thành một bài trình thuật duy nhất trong cùng một khung cảnh, để tránh những lập lại và để câu chuyện trở nên sống động hơn, thậm chí kịch tính hơn. Bài trình thuật này là “một bức tranh có ba cảnh” nối tiếp nhau:

– Chúa Giê-su rao giảng trên bờ hồ Ghen-nê-xa-rét (5: 1-3).

– Mẻ cá kỳ diệu (5: 4-7).

– Ơn gọi của các môn đệ đầu tiên (5: 8-11).

1. Chúa Giê-su rao giảng bên bờ hồ (5: 1-3):

Theo Tin Mừng Lu-ca, trước đây Đức Giê-su chọn các hội đường để truyền đạt đạo lý của Ngài cho dân chúng, giờ đây Ngài chọn bờ hồ Ghen-nê-xa-rét làm khung cảnh cho lời rao giảng của Ngài. Trong cùng câu chuyện này của thánh Mác-cô (Mc 1: 16-20), Chúa Giê-su chưa ban cho ông Si-mon một tên mới là Phê-rô; chỉ sau này Ngài sẽ cho ông tên mới này vào lúc Ngài chọn Nhóm Mười Hai (Mc 6: 14). Nhưng ngay trong câu chuyện của thánh Lu-ca, Chúa Giê-su chỉ định trước người ngư phủ miền Ga-li-lê này sẽ là thủ lãnh của Giáo Hội Ngài qua tên kép “ông Si-mon Phê-rô”. Như vậy, câu chuyện của thánh Lu-ca mang đậm nét viễn cảnh Giáo Hội hơn câu chuyện của thánh Mác-cô.

Trong hai con chuyền neo đậu ở đó, Chúa Giê-su chọn thuyền của ông Si-mon, “từ trên thuyền này Người giảng dạy đám đông”. Đây không phải là một sự tình cờ. Hình ảnh con thuyền Giáo Hội được thánh Phê-rô lèo lái đã trở thành kinh điển kể từ Giáo Phụ Tết-tu-li-a-nô và thánh Giáo Phụ Âu-gút-ti-nô; hình ảnh này xem ra tiềm ẩn ở nơi đoạn Tin Mừng này rồi. Đối với các Giáo Phụ, hình ảnh này là một biểu tượng kinh điển về Giáo Hội lữ hành trên trần thế, như lời giải thích của thánh Am-rô-si-ô: “Đây là con thuyền mà theo thánh Mát-thêu đang có nguy cơ bị chìm và theo thánh Lu-ca thì đầy cá. Ở đây chúng ta có thể thấy những bước khởi đầu đầy khó khăn của Giáo Hội và những thành quả sau này của nó” (St Ambrose, Expositio evangelii sec. Lucam, in loc.). Đức Ki-tô bước vào thuyền của thánh Phê-rô để giảng dạy đám đông dân chúng – và từ con thuyền của thánh Phê-rô, tức Giáo Hội, Ngài vẫn tiếp tục giảng dạy toàn thể thế giới.

2. Mẻ cá kỳ diệu (5: 4-7).

Mẻ cá kỳ diệu được thánh Lu-ca thuật lại ở đây, một tình tiết mà thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu không biết. Chúng ta cũng gặp thấy Mẻ cá kỳ diệu này ở trong phần phụ chương của Tin Mừng Gioan (ch. 21), nhưng được đinh vị sau biến cố Phục Sinh. Có thể chỉ có một biến cố duy nhất, nhưng chúng ta không còn biết rõ biến cố này được định vị vào lúc nào. Điều này cho thấy mỗi tác giả Tin Mừng có quan điểm thần học khác nhau về cùng một biến cố.

Sau khi rao giảng cho đám đông dân chúng, Chúa Giê-su đòi hỏi thánh Phê-rô một hành vi đức tin. Đối với một ngư phủ chuyên nghề đánh cá trên biển Hồ, đêm là thời gian thuận tiện để ra khơi thả lưới bắt cá, chứ không phải ban ngày. Ấy vậy, Chúa Giê-su lại bảo ông Si-mon: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệp của mình, ông Si-mon nhấn mạnh sự phi lý của sự đòi hỏi này: “Thưa Thầy, chúng tôi vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”; tuy nhiên, đức tin của ông mách bảo ông chấp nhận sự thách đố này: “Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. Đối với đức tin, điều không thể lại có thể. Một mẽ lưới đầy cá đến nổi họ phải ra hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền khác, là Gia-cô-bê và Gioan, đến giúp.

Chúng ta ghi nhận rằng ông An-rê, anh của ông Si-mon, không được kể ra. Tuy nhiên thánh Lu-ca dùng số nhiều: “Họ đã làm như vậy, và bắt được nhiều cá”, khi nói về những người bạn đồng nghiệp cùng ở với ông Si-mon. Sở dĩ không nêu tên thánh An-rê ở đây, thánh Luca nghĩ đến bộ ba: thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan, bộ ba này sẽ được liên kết với Chúa Giê-su một cách đặc biệt hơn các Tông Đồ khác: chỉ ba người môn đệ này sẽ được diễm phúc chứng kiến việc Chúa phục sinh con gái của ông trưởng hội đường (Lc 8: 51), biến cố Chúa Giê-su biến hình trên núi (Lc 9: 28), và cơn hấp hối của Ngài trong vườn Ô-liu (Mc 14: 33). Thật đáng ghi nhận rằng Chúa Giê-su vẫn tôn trọng tình bạn đồng nghiệp của họ trong suốt cuộc đời thi hành sứ vụ của Ngài; tuy nhiên, ba người môn đệ này sẽ là cột trụ của Giáo Hội tiên khởi. Sự cộng tác của tất cả họ vào Mẻ cá kỳ diệu này phác họa sứ vụ của Giáo Hội tương lai rồi.

3. Ơn gọi của các môn đệ đầu tiên (5: 8-11).

Cả ba Tin Mừng Nhất Lãm đều trình thuật “ơn gọi của các môn đệ tiên khởi” trong cùng một khung cảnh bên bờ hồ. Trong khi họ đang làm công việc hằng ngày của những ngư phủ: thánh Phê-rô và thánh An-rê đang quăng lưới đánh cá, còn thánh Gioan và thánh Gia-cô-bê thì đang vá lưới ở trong thuyền, Chúa Giê-su gọi họ: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”. Trước tiếng gọi của Chúa Giê-su, không một chút đắn đo suy tính hơn thiệt, họ mau mắn đáp trả bằng thái độ dứt khoát: lập tức họ bỏ tất cả mà đi theo Ngài. Hoạt cảnh thật giản dị nhưng thật cảm động.

Nét độc đáo của thánh Lu-ca là liên kết câu chuyện về ơn gọi của các môn đệ tiên khởi với Mẻ cá kỳ diệu. Khi làm như thế, thánh Lu-ca làm cho câu chuyện nầy thêm phần kịch tính hơn. Các môn đệ tương lai xem ra không thể cưỡng lại trước Đức Giê-su, một nhà phép thuật thần thông hơn là một nhà giảng thuyết lưu động, cho dù họ không tách biệt quá rõ nét hai khía cạnh hấp dẫn này ở nơi con người Đức Giê-su. Thánh Phê-rô phản ứng như ngôn sứ I-sai-a khi thánh nhân bày tỏ một khoảng cách tách biệt giữa phàm nhân tội lỗi và Thiên Chúa thánh thiện: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”. Như trong câu chuyện ơn gọi của vị ngôn sứ I-sai-a, lòng xót thương của Thiên Chúa đáp trả sự khiêm tốn của vị ngôn sứ, Chúa Giê-su cũng trấn an thánh Phê-rô: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Chính con người mà thánh nhân có sứ mạng thu phục. Trong viễn cảnh của sứ mạng này, bờ hồ Ghen-nê-xa-rét mờ nhạt trước một thế giới bao la đang chờ đợi Tin Mừng thu phục.

Một bức tranh ba cảnh của thánh Lu-ca có một sự duy nhất thật thấm thía: trên phong nền của toàn cảnh nổi bật một viễn cảnh về Giáo Hội phổ quát.

33.Được gọi cộng tác với Thiên Chúa

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm)

Các bài đọc trong thánh lễ Chúa Nhật hôm nay đều đề cập đến ơn gọi. Tiên tri Isaia đã được thấy Thiên Chúa và cảm nhận thân phận nhơ uế của mình. Thiên Chúa đã xá tội bằng thanh tẩy đôi môi nhơ uế của Ysaya với than hồng nơi bàn thờ. Thiên Chúa phán: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Isaia đã lên tiếng đáp lời: “Dạ, con đây, xin hãy sai con”. Thiên Chúa cần con người, và Isaia đã sẵn sàng đáp trả.

Đức Giêsu đã mời gọi Phêrô trở nên thợ lưới người sau khi Phêrô nhận ra mình tội lỗi bất xứng ở bên Đức Giêsu: “Lạy thầy, xin xa tôi ra vì tôi là kẻ tội lỗi”: “Đừng sợ, từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới người”. Chèo thuyền vào bờ, Phêrô và các bạn đã bỏ mọi sự mà đi theo Đức Giêsu. Phêrô và các bạn đã quảng đại bỏ tất cả để theo Đức Giêsu.

Phaolô đã từng giữ áo cho những người Do Thái ném đá Stephen (Cv.7, 58); ông cũng tán thành việc giết Stephen (Cv.8, 1). Tuy nhiên, trên đường đi Đamas để bắt các Kitô hữu đem về Giêrusalem trị tội, Phaolô đã được ơn trở lại. Từ đó, Phaolô là khí cụ đặc biệt Thiên Chúa dùng để rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô: “Thưa anh em, trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta… Người đã trỗi dậy và đã hiện ra với Kêpha và với nhóm mười hai” (1Cr. 15, 3-5).

Cả ba người được gọi trong các bài đọc Kinh Thánh hôm nay đều đã là tội nhân hoặc đã ý thức mình là tội nhân. Chính Thiên Chúa đã tha thứ tội cho họ, và gọi họ cộng tác với Ngài. Được Thiên Chúa mời gọi cộng tác, là vinh dự đặc biệt cho những ai đã từng phạm tội chống cưỡng Ngài. Và rồi ngay cả khi đã đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa mà vẫn còn vấp ngã, thì Thiên Chúa vẫn tiếp tục trung thành mời gọi con người vươn lên. Điều này cũng đúng đối với các người theo Chúa, đặc biệt như các tông đồ. Dù đã là môn đệ, Phêrô cũng có lúc chối Thầy (Mc.14, 71), và có lúc chưa can đảm sống như mình phải sống (Gl.2, 11-14). Thiên Chúa vẫn tiếp tục mời gọi những người Ngài mời gọi, cho du họ giới hạn khiếm khuyết. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài vẫn yêu thương và liên lỉ mời gọi con người cho dù họ bất trung.

Kitô hữu cũng là những người đã được Thiên Chúa mời gọi. Ngài mời gọi con người hãy sống như con cái Thiên Chúa, trở thành tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa cho con người hôm nay. Thiên Chúa mời gọi mỗi người hãy yêu thương mọi người, để mỗi người cảm được Thiên Chúa yêu thương qua những người sống xung quanh mình.

Người đời thường tìm tiền tài, danh vọng, địa vị. Thiên Chúa mời gọi con người trở thành tình yêu của Thiên Chúa cho con người hôm nay. Bao nhiêu người nghèo cần sự giúp đỡ của người khác. Ngày nay Thiên Chúa không làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, nhưng Ngài mong những người nghèo hôm nay nhận được tấm bánh từ tay anh chị em mình. Những ân nhân của người nghèo thực sự là đại diện của Thiên Chúa. Thiên Chúa cho họ ăn và giúp họ những gì họ cần thiết qua trung gian những ân nhân này. Thiên Chúa hiện diện với tôi qua anh chị em. Phần tôi, tôi được mời gọi để trở thành tình yêu của Thiên Chúa cho người khác.

Nhiều người tưởng rằng tiền của, địa vị, danh vọng chức quyền, sự thỏa mãn về thể xác làm cho người ta hạnh phúc, nên họ đã đi tìm những điều đó. Nhưng nếu biết quan sát và nhận định, họ sẽ thấy tiền bạc, danh vọng chức quyền địa vị, thỏa mãn vật chất, không làm con người được hạnh phúc đích thực. Chính khi giúp đỡ tha nhân, khi yêu thương vượt qua chính mình, khi hy sinh để giúp đỡ người khác, con người tìm được hạnh phúc thực. Kitô hữu được mời gọi để làm chứng về điều này. Phục vụ làm con người hạnh phúc.

Kitô hữu được mời gọi để làm vua. Không nô lệ vật chất, làm chủ, tự do với tất cả để chỉ có Thiên Chúa là nhất đối với mình; đó là nét vua mà Thiên Chúa muốn chia sẻ với con người. Ai thua thì bị làm nô lệ. Thiên Chúa không muốn con người nô lệ cho xác thịt, cho vật chất; Ngài mời gọi con người vượt lên, chiến thắng, làm chủ làm vua. Thiên Chúa mời gọi con người trở nên người tự do thật sự.

Kitô hữu được mời gọi để trở thành tiên tri. Tiên tri là người của Thiên Chúa, người nói nhân danh Thiên Chúa cho con người hôm nay. Nói cho người khác biết Đức Giêsu đã phục sinh, Ngài là người của Thiên Chúa, Ngài thuộc về Thiên Chúa đến độ có thể nói Ngài là Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Một khi con người nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, con người biết Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng. Rao giảng tin mừng Đức Giêsu Phục Sinh, không phải chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng và chính yếu bắng chính cuộc sống của mình. Kitô hữu được mời gọi để làm chứng cho Đức Giêsu Phục Sinh bằng niềm tin và cách sống thấm nhuần đức tin của mình. Kitô hữu không phải là người không cảm thấy những khó khăn trong cuộc sống, cũng không phải là người không bị cám dỗ; Kitô hữu là người chia sẻ thân phận con người như bất cứ ai khác, nhưng vẫn có thái độ và cách hành xử khác với những người có lối sống không theo Tin Mừng. Kitô hữu được mời gọi sống vui và phó thác trong mọi hoàn cảnh vì họ biết Thiên Chúa yêu thương họ, và thế gian này không có giá trị tuyệt đối.

Kitô hữu được mời gọi để trở thành tư tế của Thiên Chúa, người đại diện con người tôn thờ Thiên Chúa. Cầu nguyện, dâng chính con người mình lên Thiên Chúa, là thái độ tôn thờ Thiên Chúa đích thực. Cầu nguyện phải là chính sức sống và hạnh phúc của con người. Được đại diện con người dâng lên Thiên Chúa lễ tế là chính con người mình, là một hạnh phúc của Kitô hữu. Chính khi kết hiệp với Thiên Chúa, con người được hạnh phúc đích thực.

Thiên Chúa mời gọi con người, đặc biệt là Kitô hữu, làm cho thế giới này vui hơn tươi hơn đẹp hơn, làm cho con người ngày hôm nay tin tưởng vào nhau hơn, sống vui và hạnh phúc với nhau hơn. Đó là ơn gọi của Kitô hữu. Xin cho Kitô hữu ý thức sứ mạng của mình, và cảm nghiệm hạnh phúc khi thực hiện sứ mạng này.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Theo bạn, nơi con người Đức Giêsu có gì đặc biệt không? Ơn gọi của Đức Giêsu là gì? Sứ mạng của Đức Giêsu là gì?

2. Thiên Chúa có mời gọi bạn đặc biệt điều gì không? Thiên Chúa muốn bạn sống như thế nào? Thiên Chúa mời gọi bạn làm gì cho Thiên Chúa và con người ngày nay?

34.Yếu đuối và sức mạnh

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An – Viết theo “Bài giảng Tĩnh Tâm Linh Mục GP Phan Thiết năm 2010”, ĐGM. Giuse Võ Đức Minh).

Đọc lại trình thuật ơn gọi các Ngôn sứ lớn trong Cựu ước, ta sẽ thấy các ngài luôn ý thức sự thấp hèn bất xứng của mình.

– Môisen: người chăn cừu cho nhạc phụ Yethrô. Có một lần ông lùa đàn cừu tận núi Khoreb, bỗng nhiên ông nhìn thấy một quang cảnh hùng vĩ: Bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi. Bị cuốn hút trong khung cảnh hùng vĩ ấy, ông chạy đến để nhìn xem. Khi ông tới gần, một tiếng nói uy nghiêm từ bụi gai tuyên phán: Chớ lại gần, cởi dép ra vì đất ngươi đang đứng là Đất Thánh. Rồi Chúa gọi Môisen nhưng ông ngại ngùng thoái thác: “Lạy Chúa, tôi là ai mà dám đối đầu với Pharaon …Từ xưa tới giờ, tôi đâu có lợi khẩu, tôi chỉ là một đứa nói cà lăm… Vì thế, lạy Chúa, Chúa muốn chọn ai thì chọn, sai ai thì sai, nhưng xin tha cho tôi” (Xh 3,11;4,13). Chúa thuyết phục Môisen “cứ yên tâm! Ta sẽ ở với ngươi, cho ngươi làm phép lạ, tài ăn nói và cho cả Aaron nói thay ngươi”. Môisen đã nhận lời nhưng vẫn run sợ sứ vụ cao cả Chúa trao.

– Isaia đã kể lại ơn gọi của mình: Trong một thị kiến đã nhìn thấy Đức Chúa trong một khung cảnh huy hoàng của Đền thờ. Các Thiên Thần tung hô “Thánh! Thánh! Thánh! ĐỨC CHÚA đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!”.Tôi thốt lên với tất cả nổi kinh sợ: “Khốn cho tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là ĐỨC CHÚA các đạo binh!”. Một trong các thần Xê-ra-phim bay về phía tôi, tay cầm một hòn than hồng người đã dùng cặp mà gắp từ trên bàn thờ. Người đưa hòn than vào ấy chạm vào miệng tôi và nói: “Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, ngươi đã được tha lỗi và xá tội”. Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán; “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Tôi thưa: “dạ con đây, xin sai con đi” (Is 6,1-8).

– Giêrêmia cũng kể về việc Chúa gọi ông: Có lời ĐỨC CHÚA phán với tôi rằng: “ Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho dân”. Nhưng tôi thưa: “Ôi! Lạy ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói!”. ĐỨC CHÚA phán với tôi: “Đừng nói ngươi còn trẻ! Ta sai ngươi đi đâu ngươi cứ đi; Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói. Đừng sợ chúng, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi”. Rồi ĐỨC CHÚA giơ tay chạm vào miệng tôi và phán: “Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi. Coi, hôm nay Ta đặt ngươi đứng đầu các dân các nước, để nhổ, để lật, để huỷ, để phá, để xây, để trồng.” (Gr 1,4-10).

Các Ngôn sứ luôn có tâm trạng kinh hãi đến run sợ trước sứ vụ Thiên Chúa trao. Tại sao phải kinh khiếp và run sợ như vậy? Nổi run sợ phát xuất từ cảm nhận cùng một lúc sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa và thân phận tội lỗi của mình. Cảm nhận khoảng cách tuyệt đối giữa Thiên Chúa Chí Thánh và con người yếu đuối; giữa sứ vụ trọng đại và thân phận hèn mọn bé bỏng của mình.Ý thức khoảng cách ấy làm cho con người ta run sợ.

Và trang Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng thuật lại, ngư phủ Simon run sợ, cảm nhận sự thấp hèn trước Thiên Chúa chí thánh. Thấy mẻ cá lạ lùng, Simon Phêrô đã sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi! ” (Lc 5,8). Chúa đã chọn Phêrô: Đừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá. Thế rồi: Họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.

Từ ngày theo Chúa, cuộc đời của Phêrô có nhiều sôi nổi, có nhiều lỗi lầm, nhiều va vấp và nhiều yếu đuối. Cho đến khi xác tín ba lần: “Thưa Thầy, thầy biết là con yêu mến Thầy” thì bình minh đã rửa tội quá khứ để rồi Phêrô viết nên một thiên anh hùng ca cho Giáo hội sơ khai, rao giảng, làm chứng và chết cho Chúa Giêsu.

Thánh Phêrô làm nghề chài lưới (x. Mt 4,18), tên là Simon, con ông Gioan và là anh em với Anrê (x. Ga 1,40.42). Sinh tại Bétxaiđa (x. Ga 1,44), nhưng thường trú tại Caphácnaum (x. Mc 1,29). Ong đã có gia đình riêng và Tin Mừng nói đến mẹ vợ của ông (x. Lc 4,38). Simon được Đức Giêsu đổi tên thành Phêrô (x. Mt 16,18), và được đặt làm đầu của Nhóm 12 Tông Đồ (x. Mt 10,2). Ong thường đại diện các tông đồ lên tiếng trả lời các câu hỏi của Đức Giêsu (x. Lc 5,3-10; Ga 6,68). Phêrô đã sai lỗi chối Thầy ba lần (x. Mc 14,30) và nhiều lần khác bị Đức Giêsu quở trách vì đã có quan điểm lệch lạc về chương trình cứu thế của Đức Giêsu (x. Mt 16,23; Ga 13,8-10). Nhưng ông đã khiêm tốn hồi tâm sám hối (x. Mt 26,69-75), và đã tuyên xưng lòng yêu mến Thầy, nên đã được tha tội và còn được trao nhiệm vụ lãnh đạo đoàn chiên (x. Ga 21,15-17). Tại thành Xêdarê Philipphê, Simon đã tuyên xưng đức tin và đã được Đức Giêsu đổi tên thành Phêrô và còn được trao tối thượng quyền (x. Mt 16,18-19). Ông cũng được Đức Giêsu hứa sẽ cầu nguyện để ông luôn kiên vững đức tin để chu toàn nhiệm vụ củng cố đức tin cho các anh em (x. Lc 22,32). Ong là một trong ba môn đệ thân tín được xem Người biến hình (x. Mt 17,1), chứng kiến phép lạ một bé gái mới chết được sống lại (x. Mc 5,37) và có mặt khi Đức Giêsu hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-ni (x. Mt 26,37). Trong ngày Chúa Phục Sinh, Phêrô và Gioan đã cùng nhau chạy ra mồ khi nghe Maria Mácđala báo tin xác Thầy bị đánh cắp (x. Ga 20,1-9). Phêrô cũng được Chúa Phục Sinh hiện ra cách riêng (x. Lc 24,34). Sau khi Chúa về trời, Phêrô có mặt trong nhà tiệc ly để xin Chúa Thánh Thần hiện xuống (x. Cv 1,14). Trong những ngày ấy, Phêrô tổ chức cuộc tuyển chọn Mátthia bổ xung vào Nhóm Mười Hai thay chỗ của Giuđa phản bội (x. Cv 1,26).Vào lễ Ngũ Tuần, sau khi được ơn Thánh Thần, Phêrô đã bắt đầu rao giảng Tin Mừng (x. Cv 2,14-36). Nhờ Thánh Thần tác động mà người nghe dù thuộc nhiều dân tộc và ngôn ngữ khác nhau, vẫn hiểu được bài giảng của Phêrô giống như được nghe bằng tiếng mẹ đẻ của mình (Cv 2,5-8). Ngày hôm ấy đã có tới 3.000 người xin theo đạo. Họ được chịu phép Rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để được ơn tha tội và nhận ân huệ là Thánh Thần (x. Cv 2,37-38.41). từ đây, Phêrô lãnh đạo cộng đoàn Giêrusalem mới thành hình. Ông rảo khắp nơi để đi thăm các giáo đoàn như tại Lốt (x. Cv 9,32), làm nhiều phép lạ (x. Cv 9,33-35.40-41). Ong là người đầu tiên đã làm phép Rửa cho gia đình Conêliô ngoại giáo mà không bắt họ phải chịu phép Cắt Bì trước (x. Cv 10,47-48). Trong Công Đồng Giêrusalem vào năm 49, Phêrô ủng hộ Phaolô và Banaba và cùng quyết định chung là: Không buộc dân ngoại phải chịu phép Cắt Bì trước khi chịu phép Rửa để gia nhập đạo Công Giáo, mà chỉ cần họ kiêng ăn đồ cúng thần, kiêng ăn tiết, kiêng thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian dâm (x. Cv 15,28-28). Sau đó Phêrô đến Rôma và đã bị án tử hình thập giá vào năm 64 trong cuộc bắt đạo dưới thời hoàng đế Nêrông.

Ân sủng của Chúa thật kỳ diệu trong cuộc đời Thánh Phêrô và cả chúng ta nữa. Chiêm ngắm cuộc đời thánh nhân qua các đặc điểm.

Người môn đệ đi theo Chúa.

Yếu tố đầu tiên mà thánh Phêrô có thể nói với chúng ta đó là sự từ bỏ. Không thể đi theo Chúa nếu không có sự từ bỏ. Luôn có cái gì đó để từ bỏ với mỗi thời gian với mỗi tuổi đời.

Vậy thánh Phêrô đã có cái gì để từ bỏ? Điều lạ lùng hết sức mà sau này khoa khảo cổ bên thánh địa đã khai quật lên cơ ngơi của thánh Phêrô. Ngôi nhà của thánh Phêrô kế bên hồ Tiberia, một cơ ngơi rất lớn đến nỗi nhìn vào chúng ta phải giật mình. Theo những chuyên viên về khảo cổ thì thánh Phêrô là người rất giàu có, có những đội thuyền, có gia sản, sự nghiệp và ngay cả có người để yêu, đó là người vợ của ngài. Theo Chúa là từ bỏ. Từ bỏ những gì mà đối với thế gian là gắn bó hết sức. Từ bỏ gia sản, của cải, danh vọng, từ bỏ ngay cả tình yêu chính đáng của mình để đi theo Chúa Giêsu. Sự từ bỏ này đưa Phêrô tới một hồng phúc rất lớn lao đó là yêu mến Chúa Giêsu. Từ bỏ để yêu mến. Nếu chúng ta nhìn lại tư cách môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta có thể nói hai đặc điểm nổi bật đó. Phêrô luôn luôn phải từ bỏ. Nếu được phép nhìn lại môi trường hoạt động của Chúa Giêsu ở vùng Galilê, loanh quanh ở vùng Caphanaum, vậy Chúa ăn ở chỗ nào? Rất có thể là Chúa ở nhà Phêrô, nơi tiếp đón Chúa Giêsu và các môn đệ thời bấy giờ. Rồi giả như Phêrô chỉ một lần rời bỏ cơ ngơi của mình để theo Chúa thì lúc đầu chắc cũng xao xuyến, đau đớn nhưng sau đó thì yên thân. Còn đàng này đi xong lại trở về lại nhà của mình. Có thêm sự nghiệp rồi Chúa lại ra đi và Phêrô lại theo Chúa ra đi. Cho nên nhìn vào cuộc đời của Phêrô, tôi nghĩ rằng, cái sâu xa nhất của Phêrô trong tư cách là môn đệ là liên lỉ từ bỏ nếu không dám nói là từng ngày. Phêrô có rất nhiều điều để từ bỏ hầu có thể theo Chúa Giêsu và khi đã yêu mến Chúa Giêsu Phêrô bộc lộ sự gắn bó của mình lạ lùng hết sức. Có khi chúng ta có cảm tưởng Phêrô giống như một em bé bên cạnh bà mẹ yêu dấu của mình, bất cứ phản ứng gì Phêrô cũng bộc lộ và nói chuyện với Chúa, tâm sự với Chúa và ngay cả những điều thô thiển Phêrô không ngần ngại nói ra với Chúa ở giữa đám đông.

Nếu không vì lòng yêu mến, nếu không có một tâm hồn trẻ thơ mà còn giữ kẽ với Thầy của mình thì không bao giờ dám nói. Ngay cả câu chuyện này tôi thấy thương Phêrô hết sức. Tại Xêdarê Philipphê, Chúa Giêsu hỏi: Người ta bảo Con Người là ai? Người thì nói Thầy là Êlia, người thì nói là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó. Còn chúng con, chúng con nói Thầy là ai? Phêrô thay mặt anh em mình: “Thưa Thầy, Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”. Và Chúa Giêsu nói ngay: Này Phêrô không phải tự sức con có thể nói được điều đó, bởi nếu tự sức con, con chỉ có thể nói như tất cả những người bình thường khác. Nhưng nếu con có thể nói Thầy là Đấng Kitô, con hãy nhớ rằng Cha trên trời đã ban cho con ơn đó. Cha trên trời đã đổ đầy Thánh Thần cho con, vì không ai có thể gọi Thầy là Kitô nếu không có ơn của Chúa Thánh Thần. Con hãy nhớ điều đó.

Tất cả những ai tin Đức Giêsu là Đấng Kitô thì mới có thể trung thành đi theo Đức Kitô, còn ai chỉ nghĩ Ngài là một tiên tri, nghĩ Ngài là một vị anh hùng thì chỉ theo Ngài được một thời gian thôi. Hai môn đệ Emmau cũng như thế. Khi buồn bã rời Giêrusalem về Emmau. Người lữ khách hỏi họ: “Tại sao buồn vậy?” Tại ông Giêsu Nazaret mà chúng tôi tin là Đấng tiên tri, nhưng đã bị người ta giết chết. Đức Giêsu mới nói “Sao lại chậm tin?”. Rồi Ngài dùng Thánh kinh để giải thích cho họ biết Đức Giêsu Nazaret là Đấng Kitô, Đấng Thiên Chúa xức dầu, đã đến thế gian để thi hành sứ mạng. Nếu không tin Đức Giêsu là Đấng Kitô thì rõ ràng không thể trung thành đi theo Chúa. Phêrô đã tuyên xưng điều đó. Rồi Chúa Giêsu đã bộc lộ sứ mạng của Đấng Kitô là phải lên Giêrusalem, chịu nạn, chịu chết, ngày thứ ba sống lại. Phêrô yêu mến Chúa, gắn bó với Chúa, thủ thỉ với Chúa và can ngăn Người, bởi nếu Chúa chết là hết. Vậy mà Chúa Giêsu quay lại trước mặt anh em và mắng Phêrô: Xéo đi Satan! Chúa nói công khai. Trong đời có vị tông đồ nào bị mắng như thế, kể cả Giuđa bị mang tiếng là Satan. Phêrô hiểu được rằng đã là môn đệ đi theo Chúa thì không được đi trước mặt Chúa. Đây là cốt lõi của vấn đề cuộc hành trình người môn đệ. Phêrô cản Chúa nghĩa là muốn đi trước Chúa. Phêrô không thể mở đường vào ơn cứu độ. Phêrô phải đi sau lưng để Chúa đi trước. Người môn đệ đi sau Thầy của mình, người môn đệ đặt vết chân của mình vào dấu chân của Thầy, người môn đệ không lớn hơn Thầy của mình. Bài học này Phêrô hiểu hết sức là thấm thía. Từ bỏ để yêu mến, yêu mến để đi theo. Và chính vì thế những gì Chúa Giêsu làm Phêrô học lấy và rao truyền lại cho mọi người. Phêrô trong tư cách là môn đệ cho chúng ta thấy rằng đi vào trường phái của Chúa Giêsu sẽ mãi mãi là người môn đệ chứ không bao giờ ra trường đâu. Ở học viện này học viện kia khi ra trường có khi người học trò còn hơn Thầy của mình. Còn trong mái trường của Chúa Giêsu người môn đệ sẽ mãi là người môn đệ. Kinh nghiệm của Phêrô soi sáng cho chúng ta để rồi trong cuộc sống của chính mình, dù có thành đạt đến mức nào đi nữa, dù có nổi tiếng đến mức nào đi nữa, thì mình vẫn đi sau lưng Chúa Giêsu. Chúa đi trước mình theo sau.

Người môn đệ yếu đuối và vấp ngã.

Kinh nghiệm của Phêrô soi sáng cho chúng ta hình ảnh người môn đệ yếu đuối và vấp ngã. Thường tình khi nói về một vị thánh, người ta thường nói những điểm tốt nhất, tích cực nhất, anh hùng nhất để ca ngợi. Còn về Phêrô, nếu đọc kỹ Thánh kinh sẽ thấy lạ lùng. Phêrô có nhiều giới hạn, nhiều khuyết điểm và thậm chí rất nhiều vấp ngã.

Suy nghĩ về điều này, nếu chúng ta hỏi thánh Phêrô: Thầy là Đấng điều khiển Hội Thánh sơ khai, biết bao nhiêu áng văn chương Tân ước hình thành, thể hiện lòng kính trọng của các tông đồ trong Hội Thánh sơ khai đối với Thầy, sao lại ghi chép những chi tiết cho đời sau có thể hiểu những yếu đuối những vấp ngã như vậy? Chắc chắn thánh Phêrô sẽ nói rằng: điều đó để cho Chúa được lớn lên. Nếu Thầy có công trạng gì thì người ta sẽ khen Thầy, còn đàng này Thầy không là gì, con người của Thầy là như thế. Chúa đã chọn Thầy ở giữa những con người tầm thường hết sức. Chúa không thay đổi sự tầm thường của Thầy, nhưng xuyên qua sự tầm thường của Thầy Chúa trao ban kho tàng vô giá. Thấm thía điều đó nên sau này một người bạn của Thầy là Phaolô đã nói: “Tôi chỉ là chiếc bình sành dễ vỡ trong khi tôi được chứa đựng kho tàng vô giá là Đức Giêsu Kitô”.

Vậy những yếu đuối và vấp ngã của thánh Phêrô cho chúng ta thấy nền tảng, một nền tảng bị vấp váp rất nhiều vì Phêrô không vựơt qua lập tức được con người tự nhiên của mình là háo danh và tự phụ. Vì Phêrô là con người thành đạt, là con người nổi tiếng nên Chúa đã uốn nắn con người của Phêrô. Nếu như dựa trên sức lực, tiền bạc, uy tín thì Phêrô có thể thành đạt trong một thời gian nhất định, với những con người nhất định mà thôi. Nhưng nếu qua thời gian, vượt không gian mà danh tiếng của Phêrô vẫn trường tồn mãi mãi như chúng ta thấy ngày hôm nay. Điều này để thấy rằng, xuyên qua yếu đuối và vấp ngã, Chúa nâng đỡ Phêrô, tha thứ cho Phêrô. Một con người cần người khác nâng đỡ thì họ không bao giờ quá tự tin. Một con người cần lãnh nhận ơn tha thứ thì sẽ dễ dàng nói lời tha thứ với những người xung quanh, dễ cảm thông với người thất bại.

Cùng học nơi thánh Phêrô để chúng ta trở nên sứ giả đem lại ơn giao hòa, lòng thương xót, ơn tha thứ, sự cảm thông với biết bao nhiêu người quanh mình. Không yếu đuối không cảm thông. Không phạm tội thì không thể nào hiểu được niềm hạnh phúc của con người được tha thứ. Nói như thế không có nghĩa là nên phạm tội. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm đó. Thánh Phaolô nói rằng: “Điều phải làm tôi lại không làm, điều phải tránh tôi lại làm”. Nếu không suy niệm kinh nghiệm yếu đuối và vấp ngã của Phêrô có lẽ chúng ta đều trở nên những quan tòa.

Khi tin rằng mình vững vàng mà quên ơn Chúa thì có thể vấp ngã. Đêm tiệc ly, Chúa Giêsu nói “Đêm nay chúng con sẽ bỏ Thầy mà đi hết”. Mọi môn đệ khác im lặng lắng nghe run sợ, còn Phêrô gần như vỗ ngực để thưa với Chúa rằng: “Thà chết không bỏ Thầy, con sẵn sàng liều chết với Thầy”. Chúa nói: “Đêm nay trước khi gà gáy, con sẽ chối Thầy ba lần”. Phêrô tự phụ: “Người khác chối chứ làm sao con chối Thầy được”. Câu nói của Chúa lạ lùng lắm, đêm nay gà phải gáy và nó sẽ câm đi nếu con không chối, chối rồi nó mới gáy, nếu con không chối thì nó phải câm. Cho nên đứng về khía cạnh đó của Phêrô, nếu tự phụ thì bảo đảm sẽ phải chối giống như con gà phải gáy. Nếu không tựa vào ơn của Chúa, chúng ta sẽ vấp ngã. Lúc còn nhỏ chúng ta thấy ơn Chúa vừa vừa, càng lớn chúng ta thấy tất cả là hồng ân. Càng có những chức vụ, những gánh nặng chúng ta sẽ thấy rằng nếu không có ơn Chúa, sức mình không thể nào làm được. Từ đó Phêrô để lại cho chúng ta bài học rất quý giá mà ngay từ đầu Chúa Giêsu đã nói với ông mà ông không chú ý. Khi ông tuyên xưng Thầy là Đấng Kitô thì Chúa Giêsu nói tự sức con không thể làm được điều đó, Cha trên trời soi sáng cho con. Nếu con là nền của Hội Thánh thì con hãy nhớ rằng mọi việc hướng về Cha, hãy có hiếu với Cha. Cha trên trời đã chọn con, đã thương ban hồng ân cho con, đã luôn giữ gìn con, ngày nào con lơi đi mối tương quan với Cha trên trời bấy giờ con sẽ vấp ngã. Nhưng Thầy bảo đảm cho con, vấp ngã Thầy cũng kéo con trỗi dậy dù khi đó con sẽ ê chề.

Kinh nghiệm vấp ngã của Phêrô còn là, coi thường anh em mình. Mấy người kia có chối thì chối còn Phêrô thì sao chối Thầy được. Lời nói có vẻ tự phụ, xúc phạm tới anh em. Mỗi người đều là bình sành dễ vỡ. Làm sao để bảo tồn được cái bình sành trở thành của quý. Khi các bình sành để gần nhau, gió có lùa vào cũng không làm đổ. Để gần nhau là chia sẻ nâng đỡ nhau.

Người môn đệ yêu mến Chúa.

“Tôi đi đánh cá đây, anh em hãy đi với tôi” (Ga 21,. Lao nhọc vất vả suốt đêm mà không được gì cả. Đang lúc chán nản thì có tiếng bảo: Hãy thả lưới bên hữu thuyền. Phêrô buông lưới và cá quá nhiều, họ kéo cá lên, thuyền gần như chìm. Khi đó, có tiếng nói của Gioan: Chúa đó. Lời ấy như nhắc bảo Phêrô, tự sức mình không đưa tới kết quả đâu. Phải có Chúa, bao lâu hình ảnh của Chúa rọi soi nơi lời nói, việc làm, đời sống của Phêrô thì bấy giờ mới có thành quả. Còn nếu Phêrô chỉ dựa trên tài sức của mình, dù lao nhọc suốt đêm không bắt được một con cá nào.

Đâu phải dễ để đưa một người đến với đạo thánh Chúa. Dễ gì làm cho một người tin theo Chúa là tình yêu. Hãy có Chúa trong đời sống. Chúa đã thu phục nhân tâm bằng yêu thương. Chúa gọi Phêrô ra một bên và hỏi: Con có mến Thầy không? Lần thứ nhất Phêrô trả lời: Lạy Chúa, có. Lần thứ hai ông nói: Lạy Chúa, có. Lần thứ ba Chúa hỏi thì Phêrô buồn vì Chúa hỏi cùng một câu hỏi đến ba lần.

Trong tiếng Hy Lạp có bốn từ ngữ nói về tình yêu.

– Eros: yêu thương là chiếm đoạt, đưa tới nhục dục.

– Storghê: là tình âu yếm chỉ dành cho những người cùng một tương quan huyết thống với nhau, ai không có tương quan huyết thống, không có được tình âu yếm đó.

– Philia: tình bằng hữu, tình đồng nghiệp, tình cùng sở thích và đặc điểm là sự trung thành; yêu thương là đồng cảm với nhau, trung thành với nhau, chia vui sẻ buồn với nhau.

– Agapê: yêu thương là từ bỏ cho người mình yêu thương. Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người trao ban, từ bỏ mạng sống mình vì người mình yêu thương, Agapê.

Vậy khi Chúa Giêsu hỏi thánh Phêrô (trong bản văn tiếng Hy Lạp): Phêrô, con có Agapê đối với Thầy không? Phêrô đáp: Con có Philia đối với Thầy. Và Chúa nói: Hãy chăm sóc đoàn chiên. Lần thứ hai Chúa nói: Con có Agapê đối với Thầy không? Phêrô đáp: Con có Philia đối với Thầy. Lần thứ ba Chúa hỏi: Con có Philia đối với Thầy không? Phêrô buồn vì Chúa hỏi ông có Philia đối với Thầy không. Bấy giờ Phêrô nói: Lạy Thầy, Thầy thông hay mọi sự, Thầy biết con chỉ có thể có Philia đối với Thầy mà thôi. Con quá tự phụ, không đủ sức để trao ban sự sống của con cho Thầy, không có ơn của Thầy, con chỉ có thể đối xử với Thầy như người môn đệ, như người bạn, như người ngưỡng mộ trong trường phái nhưng mà trao ban sự sống như Thầy trao ban sự sống của Thầy cho con, tự sức con con chỉ có Philia thôi. Philia và Agapê: hai điều đó rất khác nhau.

Phêrô lúc bấy giờ nói lên con người của mình để cho Chúa biết: Lạy Chúa, con chỉ là con người tầm thường. Đó là lần thứ nhất trong đời Phêrô bộc lộ chân tướng của mình; khác nào như Đức Maria: Này tôi là tôi tớ Chúa. Phêrô nói: Con chỉ là vật mọn phàm hèn trước mặt Chúa. Chính khi đó, Chúa Giêsu mới trao cả Hội Thánh cho Phêrô. Con biết con là ai thì con có thể chăm sóc Hội Thánh; bởi vì con đang làm công việc Thiên Chúa ủy thác và tin tưởng con. Con đang làm việc của Chúa!

Nhìn cuộc đời Thánh Phêrô ta thấy một điều rất rõ là trong trái tim ông lúc nào cũng yêu Chúa. Ngay cả khi Chúa bảo ông là Satan, ông cũng không giận Chúa. Ngay khi vì sợ hãi mà chối Chúa thì ông vẫn yêu mến Chúa. Không phải vì Phêrô yếu đuối hay tội lỗi mà Chúa bỏ ông. Tình yêu chân thành trong tâm hồn ông làm Chúa giữ ông lại và đặt làm lãnh đạo đoàn chiên của Chúa.

Vị Giáo Hoàng đầu tiên của Hội Thánh có một dung mạo là người môn đệ đi theo Chúa, người môn đệ yếu đuối và vấp ngã, nhưng đã đứng dậy, không chán nản, không để mất phương hướng, không đầu hàng, không bỏ cuộc; người môn đệ sống bởi ơn Chúa, chan hòa ân sủng, bình an, niềm vui của Chúa.

Hội Thánh được xây dựng trên Tảng Đá là tông đồ Phêrô, hay đúng hơn là trên đức Tin vào Chúa Giêsu là “Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16; 1 Cr 3,10). Mỗi tín hữu chúng ta phải làm gì để trở thành viên đá sống động xây nên tòa nhà Hội Thánh (x. 1 Cr 3,16-17), hay nên Đền Thờ của Thiên Chúa, có nền móng là các Tông Đồ và Ngôn Sứ, và Đá tảng góc tường là chính Đức Kitô Giêsu” (Ep 2,20)?

Lạy Chúa Giêsu, Chúa tin tưởng và trao trách nhiệm cho người hiểu biết Chúa, yêu mến Chúa và đặt trọn niềm tin nơi Chúa. Chúng con sẽ được Chúa tin tưởng và trao sứ mệnh xây dựng Hội Thánh, nếu chúng con có lòng tin, lòng cậy và lòng mến Chúa. Vậy xin Chúa cho chúng con có một đức tin vững chắc, một lòng cậy trông tín thác và một lòng mến chân thành như Thánh Phêrô để chúng con có thể trở thành một viên đá sống động, góp phần xây nên tòa nhà Hội Thánh. Amen.

(Lm Giuse Nguyễn Hữu An – Viết theo “bài giảng tĩnh tâm linh mục GP Phan thiết năm 2010”, ĐGM Giuse Võ Đức Minh).

35.Gặp gỡ Chúa trong cuộc đời

(Suy niệm của Cố Lm Hồng Phúc)

Giữa công trường Thánh Phêrô ở La-mã, một công trường rộng mênh mông, có hai pho tượng khổng lồ đứng oai vệ như những chứng nhân của lịch sử. Đó là tượng Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, hai vị Tông đồ Cả.

Phêrô và Phaolô là hai người khác biệt nhau về tính tình, về văn hóa và nghề nghiệp. Nhưng cả hai đã gặp gỡ Chúa Kitô và được Chúa biến hóa trở nên những chứng nhân, những tông đồ “đi bắt người”.

Bài Phúc Âm hôm nay kể lại việc Chúa Giêsu kêu gọi Phêrô.

Thật ra, Chúa đã gặp Phêrô rồi, khi em ông là Anrê đem anh đến giới thiệu với Chúa, như Gioan kể lại (Gio. 1, 49). Lòng nhiệt huyết của Anrê cũng như lòng trinh bạch của Gioan không làm cho Chúa cảm động, nhưng khi nhìn thấy Simon, con Gioan, Chúa nhìn ông và nói: “Hỡi Simon, con Giona, từ nay con sẽ gọi là Kêpha nghĩa là Đá”. Đây là nền tảng của Giáo hội mà Ngài sắp thiết lập. Tuy nhiên, đây chỉ là cuộc sơ vấn gặp gỡ đầu tiên. Rồi ai về nhà nấy. Phêrô và các bạn vẫn còn nặng tình với vợ con, với sông sâu biển cả. Thì hôm nay, Chúa muốn kêu gọi ông cách dứt khoát, bằng một phương pháp mạnh, một phép lạ để cho ông nhìn thấy và “sờ đụng” quyền năng của Thiên Chúa.

Sau một đêm lao lực, thức trắng đêm – cá vẫn ăn về đêm – mà không bắt được con cá nào, Phêrô gặp Chúa. Chúa bảo: “Hãy ra khơi thả lưới”. Ông vừa từ ngoài khơi trở về, nhưng vâng lời Chúa, Ông lại ra khơi… Từng đàn cá ùn ùn chun vào lưới, khiến cho lưới gần rách, phải gọi các bạn thuyền đến trợ lực.

Cũng như ngày xưa, tiên tri Isaia, trong bài đọc I, đã nhìn thấy vinh quang của Chúa và kêu lên: “Chết tôi rồi, lưỡi tôi dơ bẩn”, thì ngày nay, Phêrô cũng cảm thấy mình bất xứng và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Nhưng Chúa trả lời: “Con đừng sỡ hãi. Từ đây, con sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Con sẽ bỏ nghề bắt cá, để đi “bắt” các linh hồn. Và Phúc Âm nói: “Ông chèo thuyền vào bờ, bỏ hết mọi sự và đi theo Người”. Đó là ơn kêu gọi của Phêrô, con người đã gặp gỡ Chúa và được Chúa thu hút chinh phục.

Người thứ hai đã gặp gỡ Chúa là Thánh Phaolô, như bài đọc II kể lại. Phaolô là một con người đầy nhiệt huyết, đã đi vòng quanh Đế quốc La-mã 4 lần, đã đưa dân ngoại vào Đạo. Làm sao cắt nghĩa được nội tâm của con người đầy lửa ấy? Thưa vì người đã gặp gỡ Chúa. Đức Kitô… đã sống lại theo lời Thánh Kinh. Ngài đã hiện ra với Phêrô và mười một Tông đồ. Rồi cuối cùng Ngài đã hiện ra với tôi như đứa con sinh non” (1Cor. 15, 8).

Phải, cuộc gặp gỡ đó đã đảo lộn cuộc đời Phaolô, từ một kẻ bắt bớ tín hữu trở nên một Tông đồ nhiệt thành. Tất cả là ơn của Chúa và Người vui mừng được trả giá rất cao để “Ơn Chúa không ra vô ích”: 5 lần bị đánh đòn 39 trượng, 3 lần bị tra tấn, 1 lần bị ném đá, 3 lần bị đắm tàu 1 ngày 1 đêm chơi vơi trong lòng biển (2Cor 12, 24-25).

Trong cuộc đời, chúng ta cũng đã gặp gỡ Chúa trong nhiều hoàn cảnh. Nhưng phải chăng chỉ gặp Ngài như gặp một khách bàng quang…

Lạy Chúa, Xin Chúa hãy đến với con, đừng xa lánh con là kẻ tội lỗi.

36.Ân huệ được gọi

(Suy niệm của Dã Quỳ)

Trong xã hội hiện nay, dường như ai cũng có kinh nghiệm đi tìm việc làm. Để tìm được một công việc hay một chỗ trong công ty, xí nghiệp tốt…quả là không dễ! Thường người ta phải chứng minh được là có khả năng, có kinh nghiệm lâu năm trong nghề và như thế mới có thể mở được những cánh cửa đang đóng kia, mới được tuyển nhận.

Với Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay ta nghe thì không như thế. Người đã chọn môn đệ mà không cần chứng nhận khả năng của họ. Chúa đã gọi Phêrô khi ông đang làm công việc chài lưới hằng ngày. Còn Tông đồ Phaolô được Chúa gọi lúc ông đang đi bách hại những Kitô hữu. Thiên Chúa luôn làm chúng ta ngạc nhiên bởi vì Người trao tặng cho mỗi chúng ta một ơn đặc biệt là xứng đáng được gọi. Chúng ta thường tự hỏi Chúa chờ đợi điều gì khi Người muốn chọn chúng ta cho sứ mệnh của Người? Chúng ta hay có thói quen so sánh với những người khác trong chức vụ nghề nghiệp để biết tài năng và ta nghĩ ngay đến địa vị xã hội của họ. Chúa Giêsu không theo cái lối suy luận mua bán này. Người gọi chúng ta với trái tim và xác tín rằng Người cần chúng ta cho sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và cứu độ nhân loại.

– Chúa cần chúng ta cho sứ mệnh Rao Giảng Tin Mừng. Khi Chúa Giêsu đặt chân lên thuyền của Phêrô, Người đã nhìn thấy nơi ông một cộng tác viên đắc lực cho công cuộc rao giảng Tin Mừng “Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút…và từ trên thuyền, Người giảng dạy đám đông.”(Lc 5,3) Đây là vùng sông nước mà Phêrô đã quen thuộc và hơn nữa ông là một người chài lưới đầy kinh nghiệm. Ông sẽ biết làm cho con thuyền vững vàng và lưới cá thành công. Thế nhưng, với sự hiện diện của Chúa Giêsu trên thuyền, Phêrô không còn là chủ, không phải là tay đánh bắt tài giỏi nữa. Sau lời Chúa mời gọi ra chỗ nước sâu thả lưới, Phêrô đã thú thực với Chúa “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả.”(Lc 5,5a) Có lẽ lúc này Phêrô và đồng bạn cũng ngạc nhiên hay mỉm cười trong lòng vì…Thầy Giêsu làm gì có kinh nghiệm gì về việc đánh cá. Nơi nào có cá nhiều, tay này đã rành rẽ. Chỗ nước sâu làm gì có cá mà lưới. Như vậy, Chúa đã yêu cầu những điều thật ngạc nhiên và không hợp lý. Dù thế, lòng chân chất của người thuyền chài và niềm hy vọng sẽ có mẻ cá mang về, Phêrô đã nhanh miệng “Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.”(Lc 5,5b) Vâng, bây giờ có Thầy trên thuyền, ra chỗ nước sâu cũng không sợ. Và Phêrô đã chèo thuyền theo sự hướng dẫn của Chúa.

Tiếp tục ra khơi thả lưới khi cả đêm đã vất vả mà không được gì. Đó là những điều mà đức tin đòi hỏi thực hiện. Công việc Rao Giảng Tin Mừng hay Truyền Giáo cũng thế. Hãy tin tưởng vào Chúa Giêsu. Đừng tự hào về tài năng hay tính toán của chính mình. Không dựa vào những phương tiện trần tục hay cậy sức bản thân. Ra chỗ nước sâu; rời những nơi gần bờ an toàn, tiện nghi, được bảo bọc… Người môn đệ Chúa Kitô cần dấn thân. Có Chúa và cùng với Chúa, lên đường đến những nơi xa xôi, gian khổ, những nơi anh chị em chưa biết Chúa và chưa được nghe Tin Mừng, họ đang rất cần chúng ta và Chúa cũng đang thật muốn chúng ta thi hành sứ mệnh. Và chỉ khi ta vâng theo Lời Chúa, kết quả sẽ thật mĩ mãn “Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá.” (Lc 5,6)

– Chúa cần chúng ta cho sứ mệnh cứu độ nhân loại. Tự nhiên, chúng ta thường run sợ trước những việc kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng. Phêrô cũng thế, ông đã kinh hãi khi thấy mẻ cá lạ lùng và nhận ra Thầy Giêsu chính là Thiên Chúa, Đấng có thể làm được mọi sự tốt lành. Nhưng Chúa đã luôn giữ cho các ông được bảo đảm và bình an: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người cứu sống người ta.”(Lc 5, 10b) Đừng sợ! Đây như là điệp khúc của Chúa Giêsu. Người thường trấn an và động viên môn đệ hãy tin vào Ngài, đừng sợ hãi. Chúa đã thay đổi số phận của Phêrô. Từ nay ông mang một ơn gọi thần linh, một sứ mệnh cứu độ. Biển trần gian rộng lớn, Chúa cần những ngư phủ nhiệt tâm và Người đã gọi Phêrô, đồng bạn và anh em ông: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.”(Mt 4,19)

Trong sứ mệnh cứu độ nhân loại, Chúa đã chọn gọi các Tông đồ và môn đệ cùng Chúa đem nhiều người về với Giáo Hội, trở nên con cái Chúa và được hưởng Ơn Cứu Độ của Chúa. Tiếp bước các Tông Đồ, mỗi người Kitô hữu cũng được Chúa gọi để loan báo Tin Mừng và đem nhiều tâm hồn về với Chúa. Loan Tin Mừng Cứu Độ cho muôn dân là trách nhiệm và sứ mệnh của Giáo Hội, của từng Kitô hữu. Chúng ta là những cánh tay nối dài của Chúa. Hãy hăng say thả lưới trong mọi hoàn cảnh sống của ta nơi gia đình, làng xóm; nơi công sở, chỗ làm việc; trong cộng đoàn hay ngoài xã hội. Hãy nhiệt tình đáp lại tiếng Chúa mời gọi và vâng lời Chúa để thực hiện sứ mệnh truyền giáo.

Ước gì mỗi Kitô hữu Việt nam hôm nay cũng luôn can đảm thưa lên như Isaia “Này con đây, xin hãy sai con đi”(Is 6, 8c) và vui mừng với ân huệ được gọi cách nhưng không.

Nguyện xin Chúa Giêsu luôn hướng dẫn, đồng hành với chúng con. Và xin ban cho chúng con ơn kiên trì, khiêm tốn, trung thành và không bao giờ bỏ cuộc vì chúng con luôn có Chúa cùng sống, cùng làm trong chúng con và qua chúng con. Amen.

37.Mẻ cá lạ

(Suy niệm của Linh Xuân Thôn)

Một trong những lời giảng dạy làm nhiều người khó chịu, nhưng cũng rất thú vị, của Minh Sư là: ”Thượng Đế gần gũi kẻ có tội hơn là người thánh thiện.”

Ngài dùng hình ảnh để giải thích như sau:

– Thượng Đế ở trên thiên đàng nắm mỗi người ở đầu một sợi dây. Khi người ta phạm tội, sợi dây đó bị cắt đứt. Bấy giờ Thượng Đế cột sợi dây lại bằng cách làm một nút thắt – và như vậy, Ngài kéo họ lại gần Ngài hơn. Cứ như thế, mỗi khi người ta phạm tội, sợi giây bị cắt đứt, Thượng Đế lại buộc một nút thắt mới để kéo chúng ta lại gần Ngài nhiều hơn nữa.

Anthony de Mello, trích trong “One Minute Wisdom”

***

“Lạy Ngài! Xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc. 5,8).

Bạn thân mến! Trên đây là lời nói của Simon Phêrô thưa với Chúa Giêsu khi ông cảm nhận được sự thấp hèn tội lỗi của mình trước đấng thánh cao cả Giêsu, khi ông kinh ngạc trước phép lạ “Mẻ Cá Lạ” mà ông đã được chứng kiến và cũng là người trong cuộc. Xin mời bạn cùng tôi, chúng ta hãy lần theo dấu vết của Simon Phêrô trong Tin Mừng Chúa nhật hôm nay (Lc. 5:1-11) để hiểu thêm về ông, để biết thêm về “Mẻ Cá Lạ” ngày xưa đã tác động đến ông và các bạn chài của ông như thế nào? Và cũng để nhận ra “Mẻ Cá Lạ” ngày xưa đã tác động đến tôi và bạn hôm nay ra sao?

Trước hết, Simon Phê-rô là một người truyền giáo: Trong lúc ông và các bạn chài đang giặt lưới sau 1 đêm dài mệt mỏi vật lộn với biển khơi để đánh bắt cá nhưng chẳng được gì. Chúa Giêsu đã đến bên ông, Ngài lên thuyền của ông, xin ông chèo ra xa bờ 1 chút để Ngài ngồi trên thuyền mà giảng dạy cho dân chúng. Ông đã không ngại mệt mỏi sau một đêm vất vả làm việc, Ông đã bỏ công việc riêng bề bộn sau lưng, đã đứng dậy và làm theo lời yêu cầu của Ngài…Chúa giảng, ông chèo …Chắc hẳn trong lúc ông chèo thuyền cho Chúa giảng dạy, ông cũng đã lãnh nhận những lời vàng ngọc, những chân lý ngàn đời không thay đổi nơi môi miệng của Chúa Giêsu. Ông chèo, Chúa giảng…Ông đã góp công sức vào việc giúp những người xung quanh biết về Chúa và nghe Lời Ngài. Với chiếc thuyền nhỏ bé của ông, ông đã “mang Chúa đến cho người khác”, Ông đã làm công việc truyền giáo trong lúc Giáo Hội chưa được hình thành.

Bạn thân mến! Nếu hôm nay Chúa dùng những người xung quanh để mời gọi tôi và bạn đóng góp công sức của mình cho việc truyền giáo, Tôi và bạn sẽ đáp trả ra sao? Sự đáp trả của tôi và bạn có giống Simon Phêrô ngày xưa không?

Simon Phêrô: một người khiêm nhượng và biết lắng nghe. Sau 1 đêm vất vả đánh cá mà chẳng được gì, chắc hẳn ông mang một tâm trạng mệt mỏi, chán nản. Thế mà giờ đây, Chúa Giêsu lại bảo ông ra khơi đánh cá giữa ban ngày, lại ra tận chỗ nước sâu, nơi nguy hiểm nhất và cũng là chỗ khó bắt được cá nhất …Theo lẽ thông thường, Phêrô phải ngẫm nghĩ trong lòng: “Ông Giêsu ơi! Ông làm nghề thợ mộc mà! Đánh cá là nghề của tôi. Tôi đã sống bằng nghề này mấy mươi năm rồi, Ông biết gì về đánh cá mà lại hướng dẫn chỉ bảo tôi?” Nhưng không phải thế, Simon Phêrô đã lắng nghe lời hướng dẫn của Chúa Giêsu trong khiêm nhượng và tin tưởng. Ông đã nói lên tâm tình đó qua câu: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”.(Lc. 5:5)

Bạn thân mến! Trong cuộc sống hằng ngày, qua những vị linh mục trong cộng đoàn giáo xứ, qua các thầy cô trong trường học, qua cha mẹ anh chị em trong gia đình, qua bạn bè thân hữu ngoài xã hội…Có lẽ Chúa cũng đã gởi đến tôi và bạn biết bao lời khuyên răn nhắn nhủ, nhưng tôi và bạn có biết lắng nghe hay không? Tôi và bạn có đủ khiêm nhượng và tin tưởng để lắng nghe như Simon Phêrô ngày xưa không?

Simon Phêrô: Người được Chúa tỏ mình ra: Chứng kiến “Mẻ Cá Lạ”, Simon Phêrô đã nhận ra sự cao cả thánh thiện của Chúa Giêsu. Sợ hãi vì nhận thấy mình tội lỗi thấp hèn, ông đã vội quì xuống và thưa với Chúa Giêsu: “Xin Thầy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc.5:8). Nếu Chúa Giêsu không chủ động tỏ mình ra, chắc hẳn ông không thể nhận ra “Mẻ Cá Lạ” là do quyền năng cao cả của Thiên Chúa. Nếu không có ơn Chúa, chắc hẳn ông không thể nhận biết thân phận tội lỗi thấp hèn của mình. Một đêm dài vất vả mệt mỏi, ông đã làm việc với sức của riêng mình, kết quả là con số không, Ông chẳng đánh bắt được gì. Nhưng khi có Chúa bên cạnh, Ông đã cùng làm với Chúa và dùng sức của Chúa, kết qủa là ông đã có “Mẻ Cá Lạ” gần chìm thuyền.

Bạn thân mến! Cuộc sống có Chúa bên cạnh thật quan trọng và cần thiết biết bao! Xin bạn cùng với tôi, chúng ta hãy tự hỏi chính mình: ”Chúa ở đâu trong cuộc sống hằng ngày của tôi? Những lúc tôi ăn uống nghỉ ngơi, những lúc vui lúc buồn, những lúc thành công hạnh phúc cũng như lúc thất bại mệt mỏi vất vả… Ngài ở đâu? Ngài ở đâu?”

Simon Phêrô: Người biết phó thác để sẵn sàng ra đi và lên đường: Ra đi là bỏ nơi an toàn để đến nơi bấp bênh không chắc chắn. Ra đi là bỏ nơi quen biết để đến nơi xa lạ. ”Vâng lời thầy, con đi thả lưới” (Lc.5:5). Lên đường ra khơi thả lưới là chấp nhận đối đầu với phong ba bão táp, chấp nhận gian lao thử thách…”Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người” (Lc.5:11). Ra đi theo Chúa là bỏ lại tất cả: gia đình, thuyền bè, chài lưới… Bỏ cả nghề nghiệp cũ đã thành thạo để bắt tay vào nghề mới còn chập chững. Bỏ lưới cá để chài lưới người.

Bỏ tất cả để bước đi theo Chúa, để làm môn đệ của Ngài…Đây là việc đòi hỏi nhiều cố gắng nỗ lực, gặp nhiều khó khăn thử thách, nhưng cái khó khăn nhất có lẽ là “bỏ mình”, là ra khỏi “cái tôi hạn hẹp ích kỷ” của chính mình. Dù có đi xa ngàn dặm nhưng vẫn giữ những thói tật xưa cũ thì người môn đệ vẫn còn ở khởi điểm. Muốn lên đường theo Chúa, người môn đệ phải ra khỏi tính tự mãn của mình. Ra khỏi những quan niệm xưa cũ hẹp hòi. Ra khỏi những ảo tưởng viễn vông. Ra khỏi thói ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân. Và khi đã từ bỏ tất cả, người môn đệ sẽ trở nên hoàn toàn nghèo nàn. Gia tài chỉ có niềm cậy tin phó thác hoàn toàn vào Đấng kêu mời ta. Vũ khí chỉ có lòng vâng phục tuyệt đối vào Đấng sai ta.

***

Lạy Chúa, lên đường bước đi theo Chúa là được Chúa biến đổi. Giống như Simon Phêrô xưa kia đã được Chúa biến đổi từ “Simon lưới cá” trở thành “Phêrô lưới người”. Xin Chúa ban ơn giúp sức cho con để biết noi gương bắt chước Simon Phêrô xưa kia, biết cố gắng nỗ lực lên đường bước đi theo Chúa và cũng được Chúa biến đổi. Amen.

38.Tự do

CÁC ÔNG TỪ BỎ MỌI SỰ MÀ THEO CHÚA.

Đọc lại Phúc Âm chúng ta phải cảm phục thái độ dứt khoát và từ bỏ của các môn đệ trước lời mời gọi của Chúa Giêsu. Thực vậy, sau khi Chúa Giêsu nói: Các con hãy theo Ta và Ta sẽ làm cho các con trở nên những kẻ chài lưới người ta, thì Phêrô, Anrê cũng như Giacôbê và Gioan đã từ bỏ ghe thuyền, chài lưới và cả những người thân yêu để bước theo Chúa Giêsu. Cũng vậy, khi Chúa Giêsu đi qua bàn thu thuế tại Capharnaum, Ngài lên tiếng gọi Matthêu: Hãy theo Ta. Lập tức Matthêu đã đứng dậy, từ bỏ bàn giấy, từ bỏ nghề nghiệp mà bước theo Chúa. Thái độ mau mắn và dứt khoát ấy làm cho chúng ta nhớ tới lời Chúa đã phán: Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”. Các môn đệ là như thế, chúng ta thì sao?

Chúng ta thường nói rất nhiều mà làm thì chẳng được bao nhiêu. Trong tâm tư nguyện vọng, chúng ta muốn tôn thờ Chúa như một vị vua duy nhất của lõi lòng. Chúng ta muốn dâng tất cả cho Ngài, thế nhưng trong cuộc sống cụ thể, chúng ta rất ngại phải hy sinh, phải từ bỏ, phải dâng hiến cho Ngài. Tình yêu chúng ta dành cho Ngài giống như một ngọn đèn thiếu dầu. Bình thường thì nó cháy một cách leo loét, nhưng mỗi khi phải cố gắng, phải hy sinh thì nó bỗng dưng phụt tắt.

Chính vì thế, mỗi người chúng ta phải kiểm điểm lại đời sống, phải hồi tâm xét mình và phải chấp nhận con người thực sự của chúng ta là như thế nào? Chúng ta có quảng đại đáp trả lời mời gọi của Chúa hay không, bởi vì chính sự quảng đại này mới là thước đo sự gắn bó và tình yêu của chúng ta đối với Chúa.

Là người tín hữu, chúng ta có biết hy sinh những thú vui, cho dù là chính đáng, để chu toàn những bổn phận đạo đức của chúng ta đối với Chúa, để tuân giữ giới luật yêu thương của Ngài cũng như để thực thi thánh ý của Ngài trong lòng cuộc đời chúng ta hay không?

Là những bậc làm cha mẹ, chúng ta có biết chấp nhận những hy sinh gian khổ vì cuộc sống và tương lai của con cái hay không? Cho dù những khó khăn, những bất đồng, chúng ta có đem vào trong gia đình chúng ta một bầu khí yêu thương và đạo đức hay không?

Là những người con, chúng ta có biết mau mắn vui vẻ vâng theo những lời khuyên bảo của cha mẹ. Chúng ta có biết chia sẻ những lo lắng của cha mẹ bằng cách chu toàn những bổn phận của mình hay không?

Để kết luận, chúng ta nên nhớ điều này, đó là nếu chúng ta còn ngại hy sinh, nếu chúng ta không dám từ bỏ, thì đó là dấu chỉ chắn chắn nhất chứng tỏ chúng ta chưa hề yêu mến Chúa, chưa hề là người môn đệ đích thực của Ngài.

39.Khiêm nhường

Nhìn vào cuộc sống, chúng ta thấy: người khôn ngoan là người biết tận dụng mọi cơ hội để làm giàu cho mình, nhưng đồng thời cũng phải khiêm tốn để biết mình và biết người. Kẻ thành công đỗ đạt là kẻ biết tin tưởng, cậy dựa vào kinh nghiệm, kể cả kinh nghiệm của người khác.

Và hành trình của đức tin cũng không đi ra ngoài sự khôn ngoan ấy. Đoạn Tin Mừng hôm nay mô tả cho chúng ta khuôn mặt người khôn ngoan đi tìm Chúa và đã nhận ra Ngài, không ai khác hơn là thánh Phêrô.

Thực vậy, ông là một dân chài chuyên nghiệp, một người đi biển nhiều kinh nghiệm quý giá, thế nhưng ông không quá tự phụ với những sự từng trải ấy, trái lại, ông vẫn có một sự khôn ngoan đặc biệt, đó là khiêm tốn, tin tưởng và vâng phục vào lời Chúa Giêsu:

– Thưa Thầy, dựa vào lời Thầy, con xin thả lưới.

Trước mẻ cá lạ lùng này, Phêrô không tự hào về đức tin của riêng mình để mà khoe khoang với các bạn, cũng như để kể công với Chúa. Trái lại, thêm một lần nữa, ông vẫn khôn ngoan dựa vào mẻ cá lạ lùng ấy, để suy nghĩ và nhận ra Đức Kitô là Thiên Chúa của mình. Đứng trước mẻ cá, Phêrô đã thực sự khiêm tốn thú nhận:

– Lạy Chúa, xin hãy xa con vì con là kẻ tội lỗi.

Chính nhờ thái độ này, đức tin của ông được củng cố đến độ ông không chỉ nói lên lời cảm tạ suông, mà còn đáp trả bằng cả cuộc sống của mình, đó là ông đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Chúa.

Còn chúng ta thì sao? Liệu chúng ta có đủ khiêm tốn để lắng nghe lời Chúa qua những con người, qua những biến cố mà Ngài gởi đến hay không? Có lẽ Phêrô vẫn đoán biết Đức Kitô không có nhiều kinh nghiệm về biển cả, nhưng ông rút kinh nghiệm qua những phép lạ, vì thế ông vẫn khiêm tốn vâng phục và tin tưởng vào Chúa Giêsu vì Ngài còn là Thầy, là người hướng dẫn của ông. Liệu chúng ta có biết hồi tâm để rút ra những kinh nghiệm như Phêrô hay không?

Kinh nghiệm bản thân cho ông hay ban đêm là cao điểm để đánh bắt. Thế mà ông đã từng cực nhọc suốt cả đêm mà chẳng đánh bắt được một con cá nào, vậy mà lòng trọng kính đối với Chúa Giêsu đã thúc đẩy ông thả lưới giữa ban ngày ban mặt, là thời điểm chẳng thuận tiện chút nào. Liệu chúng ta có quá tự hào về kinh nghiệm bản thân, để rồi khép kín cõi lòng mình trước lời mời gọi của Chúa hay không?

Những kinh nghiệm và hiểu biết, đôi khi có thể trở thành chướng ngại vật cản trở cho hành trình đức tin, nếu chúng ta không có được sự khiêm tốn của Phêrô. Hãy cư xử như Phêrô, bằng cách đón nhận ý Chúa qua kinh nghiệm của Hội Thánh, đồng thời cảm tạ Ngài bằng một thái độ cụ thể và quyết liệt như Phêrô, đó là từ bỏ mọi sự mà đi theo Ngài.

40.Môn đệ Đức Kitô trên hoàn vũ

(Suy niệm của Achille Degeest)

Bài Phúc Âm hôm nay rất dễ hiểu, không cần giải thích theo nghĩa này nghĩa khác có thể không có trong bản văn. Chúng ta chú ý đến nhiều điểm. Đức Giêsu sai Phêrô đánh thuyền ra khơi thả lưới. Chúa biết, khi ra lệnh như thế Người đòi hỏi Phêrô làm một việc trái ngước kinh nghiệm dân chài lành nghề. Thật vậy, Phêrô tin chắc rằng sau một đêm mệt nhọc uổng công, bây giờ là ban ngày, cố gắng cũng vô ích. Tuy nhiên vì vâng lời Chúa, vì tin Chúa, Phêrô thả lưới. Sau khi vớt được mẻ Chúa nhiều quá sức tưởng tượng, ông phản ứng như những tâm hồn ngay thẳng khi đứng trước tôn nhan Chúa: “Lạy Thày, con là một kẻ quá nhiều sai lỗi, một kẻ có tội”. Bằng một giọng uy nghi khích lệ, Chúa cho ông rõ phần thưởng đích thật của cuộc gặp gỡ trên mặt hồ. Qua hình ảnh phép lạ đánh cá, ông thoáng nhìn thấy số mệnh ông.

Chúng ta suy niệm về hai câu:

1) “Hãy ra khơi”. Chúa phán thế vì biết ngoài khơi là vùng có nhiều cá. Chúng ta nghĩ đến một Phêrô thuyền trưởng con thuyền Giáo Hội, như ảnh đạo thời xưa thường trình bày. Thày ra lệnh cho ông hãy lái Giáo Hội tiến vào chỗ hiểm nguy là thế giới trong đó cái khối nhân loại sống, lao động và chết. Trên thuyền với thuỷ thủ đoàn là những Kitô hữu, lệnh được ban ra là thả lưới xuống biển mặc dầu đã phí rất nhiều thì giờ mà chẳng được gì. Đức vâng lời đã đem lại một mẻ lưới thần kỳ. Tuy nhiên có phải bao giờ cũng gặt hái được kết quả lạ lùng không? Nếu thế chẳng quá dễ dàng ư? Điều quan trọng là đừng có lạm dụng cách chơi chữ của Chúa khi Người phán bảo Phêrô: “Từ nay ngươi sẽ là kẻ lưới người”. Thật vậy, nhân loại không bị cưỡng bách vào trong “lưới” của Giáo Hội. Ở đây là một thực tại cơn bản hơn: Phêrô và các tông đồ, do một hành vi biểu lộ đức tin trái ngược sự thật hiển nhiên theo quan niệm loài người, đã tỏ ra xứng đáng được Chúa cho biết số phận. Các ông được liên hợp với công cuộc cứu độ của Người trên thế giới.

2) “Bỏ lại mọi sự, họ đã theo Chúa”.

Thánh chép sử diễn tả cách đơn giản về một trong những khía cạnh đòi hỏi gắt gao nhất của thiên chức các ông. Giáo Hội đã áp dụng câu đó cho thiên chức tu sĩ và thiên chức linh mục. Phêrô và các bạn không có được gia nghiệp súc tích của thanh niên nhà giàu, nhưng vốn liếng khiêm tốn của các ông, chiếc thuyền đánh cá, căn nhà, thôn xóm, đối với các ông là những gì tha thiết. Các ông cũng như chàng thanh niên đều được kêu gọi bỏ lại mọi sự. Trong thông điệp về sự độc thân của linh múc (đoạn 24), Đức Phaolô VI nhắc đến câu nói trên. Thế giới chúng ta gồm những vùng nước sâu lắm cá cần có những môn đệ bỏ lại mọi sự để theo Đức Kitô