Mọi người trong chúng ta đều đã nhìn thấy và cảm nghiệm được sự khủng hỏang của gia đình hôm nay. Chúng ta phải đương đầu với bao nhiêu những vấn nạn liên quan đến gia đình như: săn sóc và báo hiếu cha mẹ già, cho vào viện dưỡng lão, giết người già bằng cái chết êm dịu; ly dị, ly thân, và độc thân; hạn chế sinh sản và phá thai; con cái bỏ học, bỏ nhà, và bỏ đạo.

Bài đọc: Sir 3:2-6, 12-14; Col 3:12-21; A: Mt 2:13-15, 19-23, (B: Lk 2:22-40, C: Lk 2:41-52).
1/ Bài đọc I: 2 Đức Chúa làm cho người cha được vẻ vang vì con cái, cho người mẹ thêm uy quyền đối với các con. 3 Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, 4 ai kính mẹ thì tích trữ kho báu.
5 Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe.
6 Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng.
12 Con ơi, hãy săn sóc cha con, khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. 13 Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người.
14 Vì lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho con.
2/ Bài đọc II: 12 Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. 13 Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. 14 Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo. 15 Ước gì ơn bình an của Đức Ki-tô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân. 16 Ước chi lời Đức Ki-tô ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú. Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan. Để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng. 17 Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha. 18 Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. 19 Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ. 20 Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. 21 Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng.
3/ Phúc Âm:
Năm B:
22 Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Mô-sê, bà Ma-ri-a và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa, 23 như đã chép trong Luật Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa,” 24 và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. 25 Hồi ấy ở Giê-ru-sa-lem, có một người tên là Si-mê-ôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. 26 Ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Ki-tô của Đức Chúa. 27 Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giê-su đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, 28 thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:
29 “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. 30 Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ 31 Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: 32 Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài.” 33 Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Si-mê-ôn vừa nói về Người. 34 Ông Si-mê-ôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; 35 và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.”
36 Lại cũng có một nữ ngôn sứ tên là An-na, con ông Pơ-nu-ên, thuộc chi tộc A-se. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, 37 rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa.
38 Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem. 39 Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê. 40 Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Bí quyết để có một gia đình Thánh
Mọi người trong chúng ta đều đã nhìn thấy và cảm nghiệm được sự khủng hỏang của gia đình hôm nay. Chúng ta phải đương đầu với bao nhiêu những vấn nạn liên quan đến gia đình như: săn sóc và báo hiếu cha mẹ già, cho vào viện dưỡng lão, giết người già bằng cái chết êm dịu; ly dị, ly thân, và độc thân; hạn chế sinh sản và phá thai; con cái bỏ học, bỏ nhà, và bỏ đạo.
Gia đình Thánh cũng có những vấn đề như gia đình chúng ta: Thánh Giuse cũng toan bỏ Đức Mẹ cách kín đáo để bảo tòan sự công chính; Đức Mẹ cũng có những quyết định riêng cho đời mình bằng cuộc sống độc thân để phục vụ Chúa trong Đền Thờ; Chúa Giêsu cũng để cho cha mẹ vất vả mệt nhọc đi tìm kiếm mình, khi cha mẹ tìm thấy trong Đền Thờ lại còn hỏi: “Tại sao cha mẹ đi tìm con? Cha mẹ không biết con phải lo việc của Cha con sao?” Nhưng làm sao Gia Đình Thánh có thể vượt qua những trở ngại trong đời sống gia đình? Câu trả lời đơn giản là họ biết lắng nghe và làm theo ý Thiên Chúa.
Các vấn nạn xảy ra khi con người quá ích kỷ chỉ biết lo cho mình, và đánh mất tính tương giao với người khác. Họ không biết định giá, cám ơn, và trả ơn những gì Thiên Chúa và những người khác đã làm cho họ. Họ không biết kiên nhẫn và tha thứ cho người khác như Thiên Chúa và những người khác vẫn tha thứ cho họ. Họ quên đi rằng nếu Thiên Chúa và những người khác cũng ích kỷ như thế, họ sẽ không có cơ hội để có mặt trên trái đất này.
Hậu quả phải lãnh nhận: Vì gia đình là nền tảng của xã hội và Giáo Hội, nên khủng hỏang gia đình đứa tới khủng hỏang trong xã hội và Giáo Hội. Một ví dụ cụ thể: Việc hạn chế sinh sản dẫn tới việc mất quân bằng dân số trong quốc gia, các thống kê cho biết mỗi gia đình cần có 2.2 người con thì mới giữ được sự thăng bằng về dân số, các nước Âu Châu, Bắc Mỹ, và một số nước kỹ nghệ đã không có đủ tỉ lệ này. Hạn chế sinh sản cũng là lý do chính của việc khan hiếm linh mục và tu sĩ; nếu chỉ có một hay hai con, rất khó cho cha mẹ dâng con để phục vụ Chúa!
Các Bài đọc hôm nay cung cấp cho chúng ta những chất liệu suy tư và nhìn lại hòan cảnh gia đình của mỗi người chúng ta. Trong Bài đọc I, tác giả Sách Huấn Ca khuyên con cái phải săn sóc và báo hiếu cha mẹ già, dẫu các ngài đã lú lẫn và không tự săn sóc mình được nữa. Trong Bài đọc II, Thánh Phaolô liệt kê những đức tính và các cách cư xử cần có để bảo đảm hạnh phúc gia đình. Trong Phúc Âm, Thánh Luca tường thuật Ngày Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thờ của Thánh Gia. Một gia đình hạnh phúc phải biết kính sợ Thiên Chúa, và giữ cẩn thận Lề Luật của Ngài.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Hãy săn sóc cha con khi người đến tuổi già.
1.1/ Giới răn thứ tư: Phải thảo kính cha mẹ.
(1) Lời Thiên Chúa dạy: “Con ơi, hãy săn sóc cha con, khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người.”
(2) Lập luận của con người: Quá bận, không có thời giờ lo cho cha mẹ! Già yếu bệnh họan như thế đưa vào viện dưỡng lão tốt hơn. Có bác sĩ và y tá săn sóc thường trực. Thỉnh thỏang vào thăm tí được rồi. Thực tế: Có những viện dưỡng lão cả ngày không thay tã cho cha mẹ; có những y tá đã không săn sóc, chẳng để ý cha mẹ có ăn không, lại còn đánh luôn cha mẹ. Chúng ta cứ thử hỏi: Nếu cha mẹ đứt ruột đẻ ra và hy sinh chăm sóc cho mình, mình còn không chịu đựng săn sóc được, sao chờ đợi người khác chăm sóc cẩn thận? Điều chúng ta cần nhận ra là người già rất dễ cô đơn và tủi nhục. Họ không cần những chăm sóc bên ngòai, nhưng cần tình thương của con cháu. Chúng tôi đã từng đi xức dầu, và từng thấy các bậc cha mẹ từ giã cuộc đời trong cay đắng của nước mắt.
(3) Điều nên làm: Mọi người trong gia đình sẽ học được rất nhiều điều khi săn sóc cha mẹ già. Tất cả đều nhận ra sự mong manh của cuộc sống và biết nương tựa vào nhau hơn. Các anh chị em biết đòan kết với nhau để chia sẻ trách nhiệm. Các trẻ học biết cách chia sẻ bổn phận với cha mẹ: Khi thấy cha mẹ quá vất vả trong việc làm ăn và săn sóc ông bà, chúng sẽ tình nguyện chia sẻ gánh nặng với cha mẹ; điều này sẽ giúp chúng trưởng thành hơn so với những trẻ không có cơ hội thực tập. Các trẻ cũng sẽ học kinh nghiệm chăm sóc và đối xử với người già, và chúng sẽ áp dụng những gì chúng học được khi săn sóc cha mẹ.
1.2/ Ơn lành Thiên Chúa ban cho những ai hiếu thảo với cha mẹ: Sách Huấn Ca liệt kê những ơn lành như sau:
(1) Con cái cũng hiếu thảo với mình: “Đức Chúa làm cho người cha được vẻ vang vì con cái, cho người mẹ thêm uy quyền đối với các con.” Tục ngữ Việt Nam cũng khuyên: “Sóng trước đổ đâu, sóng sau theo đó.” Người biết hiếu thảo và chăm sóc cha mẹ cũng sẽ được hưởng sự hiếu thảo và chăm sóc từ con cái mình. Ngược lại, người đối xử tàn tệ với cha mẹ, sẽ bị con cái mình đối xử tàn tệ hơn nhiều.
(2) Tội lỗi được tha thứ, ân sủng được thương ban: “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu… Vì lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho con.”
(3) Lời cầu xin được Thiên Chúa nhận lời: “Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe.”
(4) Được sống trường thọ: “Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng.” Khi một người săn sóc cha, người ấy cũng làm vui lòng mẹ.
2/ Bài đọc II: Những đức tính và cách xử thế cần có để giữ gia đình hạnh phúc.
2.1/ Những đức tính cần học:
(1) Đức bác ái yêu thương: “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo… Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh, và yêu thương.” Bí-tích Thánh Thể là nguồn mạch yêu thương; gia đình nào năng tham dự Thánh-lễ và lãnh nhận Mình Thánh, sẽ có tình yêu của Thiên Chúa. Chỉ có tình yêu này mới mạnh đủ để xóa tan những bất hòa và khác biệt trong gia đình, và liên kết mọi người trong gia đình với nhau.
(2) Kiên nhẫn chịu đựng và tha thứ cho nhau: “Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau.” Mọi người trong gia đình cùng nhau năng lãnh nhận Bí-tích Hòa Giải là cách thức để học và thực hành 2 nhân đức quan trọng này.
(3) Tâm tình biết ơn: “Ước gì sự bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng sự bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân.” Trước tiên là biết ơn Thiên Chúa đã lo lắng mọi sự cho con người. Thứ đến là biết ơn cha mẹ đã có công sinh thành, dưỡng dục, và cầu nguyện cho mình. Sau cùng là biết ơn tất cả những ai đã góp phần làm cuộc đời mình được thăng hoa và ý nghĩa.
2.2/ Tầm quan trọng của Thiên Chúa trong đời sống gia đình:
(1) Lời Chúa: “Ước chi lời Đức Kitô ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú. Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan.” Để làm được điều này trong gia đình, cha mẹ cần học hỏi để hiểu biết Lời Chúa và gây phong trào học và áp dụng Thánh Kinh trong gia đình; vì cha mẹ không thể cho con cái mình không có.
(2) Thánh Ca: “Để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thi, và thánh ca, do Thánh Thần linh hứng.” Điều này cũng nhắc nhở chúng ta tránh nghe và hát những bài hát vô nghĩa và lãng mạn, những chương trình hài hước và kịch nghệ vô bổ, có chủ tâm khinh thường Thiên Chúa và các giá trị đạo đức.
(3) Cầu nguyện: “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giêsu và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha.” Mẹ Têrêxa cũng quả quyết điều này: “Gia đình nào dành thời giờ cùng nhau cầu nguyện sẽ ở với nhau lâu dài.”
2.3/ Cách cư xử trong gia đình: Tất cả các mối liên hệ đều đòi hỏi hai chiều thì mới có kết quả tốt đẹp được. Thánh Phaolô liệt kê 2 mối liên hệ chính và cách cư xử cần có:
(1) Liên hệ vợ chồng: “Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ.”
(2) Liên hệ cha con: “Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng.”
3/ Phúc Âm: Những tâm tình biết ơn
Năm A:
3.1/ Sự vâng lời làm theo thánh ý Thiên Chúa của Giuse: “Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Herode sắp tìm giết Hài Nhi đấy!” Ông Giuse liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập. Ông ở đó cho đến khi vua Herode băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.”
Chúng ta học được rất nhiều nơi cách hành xử của Giuse: Ông không hiểu nổi kế hoạch của Thiên Chúa: Hài Nhi vừa mới được các nhà đạo sĩ tôn thờ và dâng lễ vật như một vì vua; giờ lại phải lẩn trốn như một tội nhân! Ông không than trách Thiên Chúa tạo hoàn cảnh khó khăn hay xin Thiên Chúa sai sứ thần bảo vệ gia đình. Ông không suy nghĩ đi Ai-cập rồi phải làm gì để sinh sống, nhưng ông hoàn toàn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Ông không trì hoãn để sáng mai; nhưng trỗi dậy trong đêm rét mướt và đưa gia đình đi ngay.
3.2/ Giuse bảo vệ Hài Nhi khỏi mọi nguy hiểm: Định cư bên Ai-cập chưa được bao lâu, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giuse bên Ai-cập, báo mộng cho ông rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi.” Giuse liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel. Khi nghe biết Archelaus đã kế vị vua cha là Herode, cai trị miền Judah, nên ông sợ không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Galilee,
và đến ở tại một thành kia gọi là Nazareth, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng: Người sẽ được gọi là người Nazareth.”
Di chuyển chỗ ở không phải là điều dễ dàng vì nó liên quan tới nghề nghiệp, nhà cửa, đồ đạc, trường học của con cái… nhưng Giuse vững tin nơi sự quan phòng của Thiên Chúa cho gia đình, ông vâng lời sứ thần bỏ đất Ai-cập trở về quê hương, ông can đảm tránh nơi nguy hiểm cho dù là quê cha đất tổ, gần Đền Thờ, để đi đến Nazareth, một nơi xa lạ, để tránh nguy hiểm cho con.
Những người cha hôm nay phải học nơi gương Giuse: Họ cần can đảm tránh những nơi gây nguy hiểm cho con cái và chọn những môi trường lành mạnh để con cái có thể lớn lên tốt đẹp. Họ không thể hy sinh tương lai của con cái bằng lý do việc làm hay nhà cửa.
Năm B:
3.1/ Gia Đình Thánh cảm tạ Thiên Chúa: Thánh Giuse và Mẹ Maria cám ơn Thiên Chúa về món quà gia đình, cho hai người thành vợ chồng; và món quà sự sống, Chúa Giêsu. Họ cùng nhau lên Đền Thờ để dâng Con cho Thiên Chúa như đã chép trong Luật Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa.” Tuy nghèo, nhưng họ cũng cố gắng chuẩn bị một đôi chim gáy và một cặp bồ câu non để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền. Sau khi hòan tất, họ trở về Nazareth, còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.
3.2/ Ông Simeon cảm tạ Thiên Chúa: Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Israel, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. Ông đã được Thánh Thần linh hứng cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Kitô của Đức Chúa. Được Thánh Thần thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng: “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israel Dân Ngài.”
Cha mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Simeon nói về Người. Ông Simeon chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Maria, mẹ của Hài Nhi: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; và vì thế, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.”
3.3/ Nữ Ngôn-sứ Anna cảm tạ Thiên Chúa: Bà là con ông Penuel, thuộc chi tộc Aser. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Jerusalem.
Năm C:
3.1/ Phải vâng lời làm theo thánh ý Thiên Chúa: Có nhiều điều chúng ta cần học nơi gia đình thánh hôm nay:
(1) Mọi người trong gia đình phải tuân giữ Lề Luật của Thiên Chúa: Thánh Luca mô tả gia đình thánh tuân giữ Luật Thiên Chúa: “Hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu trẩy hội đền Jerusalem mừng lễ Vượt Qua. Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ.” Nếu muốn con cái giữ Luật Thiên Chúa, cha mẹ phải tuân giữ trước và tạo mọi cơ hội cho con giữ Luật. Cha mẹ không thể bắt con đi lễ, nếu cha mẹ không đi và không tạo cơ hội cho con.
(2) Phải kiên nhẫn và tôn trọng nhau cho dù phải đương đầu với thử thách của cuộc sống; nếu không, sự hiệp nhất trong gia đình sẽ có nguy cơ bị tan vỡ. Trong trình thuật hôm nay, mặc dù hai ông bà đau buồn và có thể tức giận vì phải vất vả lo lắng tìm con suốt ba ngày; nhưng thái độ kiên nhẫn của Mẹ Maria phải trở thành gương mẫu cho các cha mẹ học hỏi: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!”
(3) Cha mẹ phải tôn trọng con cái khi chúng muốn làm theo thánh ý Thiên Chúa: Chúa Giêsu đáp lời Mẹ Maria: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Bổn phận của con người đối với Thiên Chúa là bổn phận hàng đầu phải chu toàn. Các cha mẹ đừng bắt buộc con cái phải chu toàn bổn phận với cha mẹ trước khi chu toàn bổn phận với Thiên Chúa; nhưng phải vui mừng khi thấy con cái làm điều đó. Cha mẹ không bao giờ được ngăn cản con cái khi chúng muốn tận hiến cuộc đời để làm việc cho Thiên Chúa.
(4) Khi chưa hiểu thánh ý Thiên Chúa, hãy giữ thái độ thinh lặng, cầu nguyện, và suy niệm trong lòng để tìm ra thánh ý. Trình thuật hôm nay kể “nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói;” tuy vậy họ không lớn tiếng tranh cãi hay đổ lỗi cho nhau.
3.2/ Chúa Giêsu vâng phục thánh Giuse và Mẹ Maria: Trình thuật Luca tiếp tục: “Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nazareth và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Còn Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta.”
(1) Chúa Giêsu tuy là Thiên Chúa, hạ mình và khiêm nhường vâng phục loài người: Thiên Chúa tôn trọng sự thật, cho dẫu sự thật đòi Ngài phải vâng phục con người. Để có bình an thực sự trong gia đình, mọi phần tử trong gia đình đều phải tôn trọng và sống theo sự thật; nếu không, sự bình an có được chỉ là giả tạo và sớm muộn gì cũng tan vỡ. Ví dụ, con cái có thể vâng lời cha mẹ làm điều sai trái vì sợ hãi; nhưng khi có dịp, chúng sẽ không ngần ngại phản ứng và thoát ly gia đình.
(2) Vâng phục Thiên Chúa và cha mẹ làm con người lớn lên trong khôn ngoan và gặt hái được mọi điều tốt đẹp cho cuộc đời: Nhiều người cho vâng phục là nhu nhược hay hèn kém; nhưng kinh nghiệm khôn ngoan cho thấy khi tuân phục luật của Thiên Chúa và những lời dạy dỗ khôn ngoan của cha mẹ, con cái tránh được tội lỗi và những cám dỗ nguy hiểm trong cuộc đời; nhất là được đẹp lòng Thiên Chúa, sống thuận hòa với tha nhân, và gặt hái nhiều thành công.
ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
– Chúng ta phải diệt trừ tính ích kỷ trong con người, vì đó là mầm mống của mọi khủng hỏang trong gia đình. Đồng thời, chúng ta cần biết rộng lượng để yêu thương và lo lắng cho người khác như Thiên Chúa và người khác đã yêu thương và lo lắng cho chúng ta.
– Chúng ta cần biết xét mình và xưng tội thường xuyên để nhận ra những yếu đuối và tội lỗi của con người chúng ta. Nếu chúng ta có can đảm xin Thiên Chúa tha thứ tôi lỗi và kiên nhẫn với chúng ta, chúng ta cũng phải sẵn sàng kiên nhẫn và tha thứ những yếu đuối và tội lỗi của tha nhân; vì họ cũng là những con người yếu đuối và tội lỗi như chúng ta. Người không năng xét mình và xưng tội sẽ dễ rơi vào thái độ tự nhận mình tốt lành để dễ phê phán, kết tội, và khai trừ tha nhân.
– Chúng ta cần khiêm nhường nhìn nhận: chúng ta không khôn ngoan hơn Thiên Chúa. Nếu chúng ta muốn làm môn đệ của Đức Kitô, chúng ta phải “từ bỏ ý riêng mình, làm theo ý Thiên Chúa, và vác Thập Giá hằng ngày để theo Ngài.”
– Chúng ta có tự do để làm theo ý chúng ta; nhưng đồng thời chúng ta cũng phải lãnh nhận mọi hậu quả do sự cố chấp, thờ ơ, và khinh thường những lời giảng dạy của Thiên Chúa.
Suy Niệm:
(Trích trong ‘Manna’)
Chấp nhận làm người là chấp nhận thuộc về một gia đình. Ngôi Lời làm người chấp nhận có mẹ, có cha. Tuy thánh Giuse và Đức Maria không có tương giao vợ chồng, nhưng tình yêu chẳng bao giờ thiếu ở Nagiarét.
Chúng ta không biết nhiều về đời sống của Thánh Gia, nhưng chúng ta thấy Hai Đấng luôn ở bên nhau, đi chung với nhau trên những con đường, chia sẻ với nhau mọi nỗi buồn vui, trong thời gian Đức Giêsu còn thơ ấu.
Thánh Giuse đã đưa Đức Maria đi Bêlem. Đoạn đường cam go đối với người gần ngày sinh nở. Thánh Giuse cũng đã đưa Hài Nhi và Mẹ Ngài trốn sang Ai Cập, rồi lại đưa về làng cũ. Có lần cả hai phải vất vả mấy ngày tìm con trong âu lo và nước mắt.
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy cả gia đình thánh lên Đền Thờ lần đầu tiên. Một đôi vợ chồng nghèo với đứa con còn nhỏ.
Đây là một gia đình gắn bó với luật Chúa. Luật dạy người mẹ phải tẩy uế sau khi sinh con. Đức Maria vui lòng giữ luật ấy, dù Mẹ biết Đấng được Mẹ sinh ra là Đấng Thánh. Luật dạy phải chuộc lại đứa con trai đầu lòng vì nó thuộc quyền sở hữu của Thiên Chúa. Đức Giêsu chẳng những đã được chuộc lại, mà còn được cha mẹ Ngài tiến dâng cho Chúa.
Con Thiên Chúa đã lớn lên trong bầu khí gia đình. Ngài đã tập làm người. Mái nhà là trường học đầu tiên. Thầy cô đầu tiên là cha mẹ. Đức Giêsu lớn dần về mọi mặt thật hài hòa. Bé Giêsu, anh Giêsu, chú Giêsu, Ông Giêsu…
Ngài lớn lên trong dòng thời gian. Thời gian là ánh mặt trời làm cho trái chín. Nhờ lao động với Cha nuôi mà Ngài trở nên vững vàng và đủ sức khỏe để đảm nhận sứ vụ. Nhờ chuyên cần học tập mà Ngài thêm khôn ngoan. Dù Ngài là sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa, nhưng Ngài vẫn học hỏi nơi bạn bè, kinh sư, nơi kinh nghiệm rút ra từ cuộc sống.
Nhờ được dạy cầu nguyện mà Ngài có tình thân với Cha. Những lời kinh đầu tiên được bập bẹ trên gối mẹ. Nagiarét đã thành trường huấn luyện Đức Giêsu trở nên người biết sống cho người khác, và nên vị tông đồ tuyệt vời cho Cha và nhân loại.
Có bao bài học sống động ở dưới mái ấm này. Bài học yêu thương, cảm thông, tha thứ, bài học phục vụ, quên mình, khiêm hạ xin vâng…
Ước gì mọi gia đình Kitô hữu đều là một Thánh Gia, để mỗi người con đều trở nên một Giêsu.
Gợi Ý Chia Sẻ
Xã hội suy sụp vì gia đình đổ vỡ. Đâu là những mối đe dọa mà gia đình hôm nay đang gặp phải? Một gia đình Kitô hữu dựa vào đâu để vượt qua những khó khăn đó?
Để có một gia đình hạnh phúc, cần có những người vợ, người chồng “đủ tiêu chuẩn”. Theo ý bạn, đâu là những tiêu chuẩn mà một bạn trẻ cần có trước khi lập gia đình?
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu, sau hơn 30 năm sống dưới mái nhà ở Nagiarét, Chúa đã thành một người chính chắn và trưởng thành, sẵn sàng lãnh nhận sứ mạng Cha giao.
Bầu khí yêu thương đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành nhân cách của Chúa.
Chúa đã học nơi thánh Giuse sự lao động miệt mài, sự mau mắn thi hành Thánh ý Thiên Chúa, sự âm thầm chu toàn trách nhiệm đối với gia đình.
Chúa đã học nơi Mẹ Maria sự tế nhị và phục vụ, sự buông mình sống trong lòng tin phó thác và nhất là một đời sống cầu nguyện thâm trầm.
Xin nhìn đến gia đình chúng con, xin biến nó thành nơi sản sinh những con người tốt, biết yêu thương tha thứ, biết cầu nguyện và phục vụ.
Ước gì xã hội chúng con lành mạnh hơn, Giáo hội chúng con thánh thiện hơn, nhờ có những con người khỏe mạnh, khôn ngoan và tràn đầy ơn Chúa.
(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu)
Suy Niệm
Trong phòng của Đức Thánh Cha Phanxicô
có tượng thánh Giuse đang nằm ngủ.
Lần đầu tiên nhìn thấy tượng này, ai cũng ngạc nhiên,
vì quen thấy thánh Giuse ở bên Chúa Giêsu hay Đức Mẹ,
hay đang thức để làm một công việc gì đó.
Thánh Giuse nằm nghiêng, ngủ một mình, có vẻ ngủ say,
còn mặc nguyên bộ quần áo khi đi đường.
Chúng ta không thể đoán ngài ngủ ở đâu, vào dịp nào,
nhưng hầu chắc ngài đang cần nghỉ ngơi để lấy lại sức.
Làm cha nuôi của Đức Giêsu hẳn không dễ.
Làm người bạn đường của Đức Mẹ cũng thật cam go.
Ta thường hình dung Thánh Gia như một gia đình đặc biệt,
luôn đầy ắp tiếng cười, đầy ắp niềm vui,
chẳng có chuyện gì trục trặc, chẳng bao giờ gợn chút sóng gió.
Ta thường nghĩ vì Thánh Gia là gia đình của ba vị thánh,
gần gũi với Thiên Chúa, nên dĩ nhiên là phải luôn bình an.
Thật ra, nếu đọc kỹ Tin Mừng, ta sẽ có một cái nhìn khác.
Đời sống của Thánh Gia khá giống với đời sống của chúng ta.
Không phải vì Đức Giêsu là Con Thiên Chúa,
nên Thánh Gia được hưởng những đặc quyền, đặc ân.
Thật ra Thánh Gia đã sống cuộc đời vất vả, long đong,
đã trải qua bao nỗi buồn vui như những gia đình khác.
Vì thế Thánh Gia mới thật là mẫu mực để chúng ta noi theo.
Xem ra Thánh Gia không có gì phi thường ở làng Nadarét.
Khi Đức Giêsu về giảng tại hội đường ở quê nhà,
Nhiều người dân làng đưa ra lời bình phẩm:
“Ông này không phải là bác thợ, con bà Maria,
và là anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn sao?
Chị em của ông không phải là láng giềng với ta sao?” (Mc 6,3).
Chúng ta đều biết chuyện ông Giuse suýt chia tay Maria,
khi biết vị hôn thê của mình mang thai (Mt 1,19).
Chúng ta cũng rõ chuyện Thánh Gia lúng túng ở Belem.
Người nghèo thường không có chỗ trọ (Lc 2,7).
Khi sinh con đầu lòng, Maria phải đặt con nằm trong máng cỏ.
Hoảng hốt đem Hài nhi trốn sang Ai-cập trong đêm khuya,
rồi bươn chải kiếm sống để có thể ở lại Ai-cập như một di dân:
đó là những trải nghiệm kinh khủng đối với đôi vợ chồng trẻ.
Người ta thường cho rằng thánh Giuse qua đời sớm,
Nếu đúng thế thì bà quả phụ Maria phải đảm đương thay chồng.
Ngày Đức Giêsu chia tay Mẹ để lên đường làm việc của Chúa Cha,
Mẹ Maria bây giờ sống dựa vào ai?
Mẹ sống dựa vào ai sau khi Con của Mẹ về trời?
Chúng ta mong một gia đình hạnh phúc, không có nước mắt.
Nhưng Thánh Gia không tránh khỏi nước mắt.
Maria có thể đã khóc khi lạc con ba ngày ở Đền thờ (Lc 2,46).
Maria có thể đã khóc khi nghe người ta nói con mình mất trí,
và Mẹ đã đôn đáo cùng với thân nhân đi tìm Con (Mc 3,21).
Chắc chắn Mẹ đã khóc khi đứng gần thập giá treo xác Con (Ga 19,25).
Mẹ đã nói tiếng Xin Vâng trước cái chết quá trẻ của Con mình.
Mẹ Maria có thể đặt nhiều câu hỏi tại sao với Thiên Chúa
về những biến cố đau buồn hay mất mát trong đời mình.
Trong Đền thờ, Mẹ đã dâng Con cho Thiên Chúa,
và rồi Mẹ chẳng còn quyền gì trên người Con này nữa.
Đúng là có một lưỡi gươm đâm thấu tâm hồn Mẹ (Lc 2,35).
Mẹ Maria vui khi thấy con mình lớn lên về mọi mặt.
Nước mắt Mẹ được lau khô khi Chúa phục sinh hiện ra với Mẹ.
Ngày nay Thánh Gia là gia đình nhiều người muốn noi theo,
không phải vì có tam đại đồng đường hay phúc lộc thọ.
Nhưng vì đó là gia đình đã trung tín theo Chúa đến cùng,
bất chấp những trắc trở và khó khăn của cuộc sống.
Cầu Nguyện
Lạy Chúa,
Xin nhìn đến các gia đình đang bị khép kín,
các trẻ em không được cắp sách đến trường,
một số cha mẹ không thể ra ngoài;
một số thì bị cách ly vì dịch bệnh.
Xin Chúa giúp đỡ họ khám phá những cách thức mới,
những con đường mới để diễn tả tình yêu, và sự sống chung
trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay.
Thời gian thử thách lại có thể là một cơ hội tốt
để tìm lại tình yêu thương đích thực,
và tinh thần sáng tạo trong gia đình.
Chúng con cầu xin Chúa cho các gia đình.
Mong sao các tương quan gia đình trong lúc này
được luôn triển nở và mang lại những điều tốt đẹp.
(Phỏng theo ý của Đức Thánh Cha Phanxicô 16/3/2020)
(Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)
Tục ngữ Việt nam có câu: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Đứa con nào cũng ít nhiều mang khí huyết của cha, mang thịt máu của mẹ.
Nếu trong sinh học, yếu tố di truyền là tất yếu thì trong đời sống luân lý, nề nếp gia phong cũng ảnh hưởng sâu xa đến con người. Trẻ thơ vốn dễ bắt chước. Đứa trẻ lớn lên trong gia đình sẽ nói ngôn ngữ của cha mẹ, học lề thói cư xử của anh chị, tiếp thu những quy ước, hít thở thấm tẩm bầu khí gia đình. Gia đình là vườn ươm. Vườn ươm cung cấp những tố chất đầu tiên cho cây giống. Những tố chất tốt sẽ giúp cây lớn mạnh, sinh hoa kết quả tốt đẹp. Gia đình là con đường. Con đường thẳng sẽ dẫn trẻ đạt ước mơ, lý tưởng.
Qua bài Tin Mừng, ta thấy Thánh Gia thật là một vườn ươm tốt đẹp đã ấp ủ hạt mầm Giêsu, một con đường thẳng tắp đưa Đức Giêsu tiến trên con đường vâng phục Thánh Ý Chúa Cha.
Thánh Giuse và Đức Maria đưa Hài Nhi Giêsu lên Giê-ru-sa-lem để dâng cho Thiên Chúa. Thực ra luật Mô-sê không buộc phải đưa con lên Đền Thờ, chỉ buộc nộp một số tiền nếu đó là con đầu lòng (Xh 13,13; 34, 20). Việc dâng Đức Giêsu trong Đền Thờ cho thấy Thánh Gia nhiệt thành chu toàn lề luật và tha thiết gắn bó với Đền Thờ.
Sự nhiệt thành đối với lề luật và tha thiết với Đền Thờ còn được tỏ lộ qua việc hằng năm các ngài hành hương lên Giê-ru-sa-lem. Đức Giêsu bắt đầu được tham dự cuộc hành hương khi lên 12 tuổi.
Như những người Do-thái thuần thành, hằng tuần các ngài vào hội đường Na-da-rét để đọc và nghe Sách Thánh. Việc đến hội đường vào ngày Sa-bát đã trở thành thói quen của gia đình và sau này Đức Giêsu vẫn duy trì. Tất cả những nề nếp đó in sâu vào Đức Giêsu.
Đức Giêsu tha thiết với Đền Thờ nên không những giữ trọn luật hành hương mà Người còn ra công tẩy uế (x. Ga 2, 13-17). Đức Giêsu yêu mến Đền Thờ đến nhỏ lệ thương cho Đền Thờ sẽ bị tàn phá cùng với Thành Thánh Giê-ru-sa-lem (x. Lc 19, 41; 21, 5-6). Đức Giêsu yêu mến lề luật nên không huỷ bỏ dù là một chấm, một phẩy, mà chỉ kiện toàn cho luật nên hoàn hảo (x. Mt 5, 17). Đức Giêsu vẫn thường xuyên vào Hội Đường, nên khi trở về thăm làng quê Na-da-rét, “Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát và đứng lên đọc Sách Thánh” (Lc 4, 16).
Xem thế đủ biết nề nếp đạo đức gia đình đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc đời Đức Giêsu như thế nào. Chắc chắn Đức Giêsu không chỉ thừa hưởng từ nơi Thánh Giuse và Đức Maria lòng yêu mến lề luật, gắn bó với Đền Thờ, thói quen siêng năng nghe và đọc Lời Chúa, mà còn thừa hưởng nơi các ngài sự mau mắn vâng phục Thánh Ý Chúa, thái độ hiền lành khiêm nhường, tinh thần phục vụ quên mình, sự chuyên chăm làm việc, sự ân cần âu yếm với con cái… mà ta thấy bàng bạc trong những lời Người giảng dạy và nhất là trong đời sống của Người. Chính trong bầu khí gia đình nề nếp ấy, Đức Giêsu đã phát triển về mọi mặt, “càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa”.
Gia đình thật quan trọng. Chính gia đình quyết định tương lai trẻ thơ. Gia đình là vườn ươm. Hạt mầm trẻ thơ có lớn mạnh được là nhờ vườn ươm có đầy đủ nước, phân bón và đất tốt. Gia đình là bầu khí quyển. Bầu khí có trong lành bổ dưỡng thì trẻ thơ mới phát triển được về mọi mặt. Gia đình là con đường. Đường có ngay thẳng, có định hướng thì tương lai trẻ thơ mới tươi sáng không đi vào ngõ cụt.
Lạy Thánh Gia, xin nâng đỡ gia đình chúng con.
4.“Ba Ngôi cực thánh ở trần gian”
(Suy niệm của Đức TGM. Giuse Vũ Văn Thiên)
Có người đã tìm ra một định nghĩa về gia đình dựa theo ngữ vựng tiếng Anh: F-A-M-I-L-Y = Father And Mother, I Love You = Cha Mẹ ơi, con yêu Cha Mẹ. Định nghĩa thú vị này đã nêu lên một yếu tố căn bản làm nền tảng cho sự bền vững của gia đình, đó là tình yêu. Một gia đình không được xây dựng trên nền tảng tình yêu thì sẽ bị biến thành quán trọ, nơi đó mỗi thành viên chỉ tìm thấy nơi đặt mình khi đêm về, và mối tương quan giữa người vợ người chồng chỉ còn là một “hợp đồng sống chung”, giống như một hợp đồng thương mại. Gia đình thiếu vắng tình yêu sẽ trở thành hỏa ngục. Nhờ tình yêu, mọi người dễ dàng tha thứ cho nhau và sống vì nhau một cách có trách nhiệm. Nhờ được thúc đẩy bởi tình yêu, ai cũng muốn điều tốt lành đến với những người mình yêu mến, và người ta cố gắng hy sinh để đem lại niềm vui cho những người trong gia đình.
Ngày Chúa nhật liền sau lễ Giáng Sinh, chúng ta mừng lễ Thánh Gia. Đó là gia đình của Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse. Các ngài được tôn vinh là Ba Ngôi cực thánh ở trần gian, tức là sự thánh thiện giữa ba thành viên của gia đình Nagiarét hoàn hảo đến nỗi người ta thấy được ở đó phản chiếu sự thánh thiện viên mãn của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình yêu thương giữa Đức Mẹ, Thánh Giuse và Chúa Giêsu được sánh ví như tình yêu của Chúa Cha với Chúa Con, và rồi từ tình yêu ấy phát xuất Chúa Thánh Thần. Như thế, hạnh phúc gia đình là hình ảnh đẹp để diễn tả màu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa. Một gia đình hạnh phúc và tràn ngập yêu thương cũng là nơi có Chúa hiện diện, vì “đâu có tình yêu thương thì đó có Đức Chúa Trời”.
Đời sống gia đình luôn có những bước thăng trầm, đòi hỏi mỗi người phải kiên trì nhẫn nại. Thánh Gia ở Nagiarét cũng đã phải trải qua những khó khăn vất vả. Thánh Mátthêu kể với chúng ta việc Thánh Giuse và Đức Mẹ vất vả đem Hài Nhi Giêsu chạy trốn trước mưu đồ của Hêrôđê. Cha Mẹ Hài nhi không ỷ thế con mình là Con Đấng Tối cao để than phiền và đòi hỏi những điều kiện thuận lợi. Hai Ông Bà đã âm thầm đưa Con mình trốn sang Aicập vào lúc nửa đêm. Cuộc chạy trốn rất vất vả đổi với một người mẹ mới sinh con và một hài nhi vừa lọt lòng. Thánh Giuse, người cha và cột trụ của gia đình, đã chấp nhận tất cả sự gian truân đó. Khi trốn sang Aicập, cũng như lúc trở về quê hương, gia đình nhỏ bé này đều gặp những thử thách, nhưng nhờ sự mạnh mẽ can trường của Thánh Giuse mà Hài Nhi Giêsu đã thoát bàn tay độc ác và tâm địa thâm độc của Hêrôđê. Sự can thiệp của sứ thần báo mộng cho Giuse cho thấy kết quả của lòng tín thác vào Chúa của hai Ông Bà. Ông Bà luôn tin rằng Thiên Chúa luôn dẫn dắt và quan phòng chở che những ai đang cộng tác với chương trình cứu độ của Ngài.
Lòng tin và cậy trông vào Thiên Chúa sẽ đem lại những hiệu quả lạ lùng. Ông Abraham buồn bã vì chưa có con nối dòng, mặc dù ông đã cao niên, vậy mà Chúa lại hứa với ông rằng dòng dõi ông sẽ đông đảo như sao trên trời. Ông đã tin vào lời Chúa và tác giả sách Sáng thế còn thêm: nhờ tin mà ông được kể là người công chính. Cuộc sinh hạ của Isaac là bằng chứng hùng hồn cho hiệu quả của lòng tin. Tác giả thư Do Thái sau này ca tụng ông Abraham như mẫu mực của những kẻ tin. Ông vâng lệnh Thiên Chúa và tín thác nơi quyền năng của Ngài, đến nỗi sẵn sàng hiến tế người con độc nhất, người con ông sinh ra trong lúc tuổi già, và cũng là niềm hy vọng duy nhất của ông.
Trong bài Tin Mừng, thánh Luca giới thiệu với chúng ta lòng đạo đức của gia đình ở Nagiarét. Qua việc dâng con trong Đền thờ, ông Giuse và bà Maria vừa tuân giữ lề luật của Cựu ước, vừa muốn giới thiệu Đấng Cứu thế cho dân tộc mình. Ông Simêon và bà Anna là đại diện cho dân riêng để đón Đấng Cứu thế tại Đền thờ. Cả hai đều nói tiên tri về Hài Nhi Giêsu, về cuộc khổ nạn trong tương lai của Người.
Xây dụng và củng cố tình yêu gia đình là điều kiện căn bản để phát triển xã hội cũng như Giáo Hội, vì gia đình là tế bào của xã hội, là Giáo Hội tại gia, là nền tảng cho sự phát triển bền vững trong tương lai. Những bài đọc Lời Chúa hôm nay chứa đựng giáo huấn rất phong phú, nhằm thiết lập và duy trì mối tương quan giữa các thành viên trong gia đình. Nhờ được thấm đượm bằng lời kinh và lời ca tiếng hát ca tụng Chúa, gia đình sẽ bền vững và luôn có niềm vui.
Người xưa đã nói: “Nhà thịnh hay suy không tại giàu sang hay nghèo hèn, mà tại có lễ nghĩa hay không” (Lục Cửu Uyên, người Trung Hoa 1139-1192). Trong xã hội chúng ta hôm nay, những án mạng hay xung đột đau lòng xảy đến do mâu thuẫn gia đình đã chứng minh: không phải lúc nào tiền bạc cũng đem lại cho con người hạnh phúc, trái lại, tiền bạc nhiều lúc là nguyên nhân đổ vỡ gia đình và đem lại cho con người sự bất hạnh. Như đã nói ở trên, chỉ có tình yêu mới đem lại hạnh phúc đích thật. Chỉ có tình yêu mới có sức níu kéo con người khi đi xa thì mong về với gia đình, vì ở đó, tâm hồn họ được sưởi ấm, niềm vui họ được đong đầy.
Trong năm 2021, Hội đồng Giám mục mời gọi mọi thành phần Dân Chúa đồng hành với người trẻ trong đời sống gia đình. Các bạn trẻ cần học hỏi để hiểu biết giáo lý hôn nhân, đồng thời nhận biết bổn phận của người làm vợ làm chồng. Hiện nay, một số bạn trẻ đua đòi theo lối sống buông thả, gạt bỏ những chuẩn mực đạo đức và dễ dãi trong quan niệm về tình dục, về hôn nhân và gia đình.
Hãy ngắm nhìn Thánh Gia và dâng những lời nguyện ước. Thánh Giuse và Đức Maria vừa chu toàn bổ phận hằng ngày, vừa chiêm ngắm Chúa Giêsu. Các ngài tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Các ngài được diễm phúc có Chúa trong gia đình của mình. Đó là cội nguồn của hạnh phúc và yêu thương. Xin cho mỗi gia đình chúng ta luôn có Chúa hiện diện, nhờ đó mà gia đình được bền vững và an vui.
5.Gia đình hiến dâng cho Thiên Chúa
Loài người được Thiên Chúa dựng nên để hưởng hạnh phúc trong Ngài. Vì vậy, mỗi người, mỗi gia đình muốn được hạnh phúc và bình an phải qui hướng hoàn toàn về Thiên Chúa là cùng đích tối hậu của mình. Gia đình Thánh Thất là là mẫu gương cho tất cả mọi người, mọi gia đình trong thế gian này. Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse luôn luôn tin tưởng và tuân phục ý Chúa, dâng hiến cả cuộc đời mình cho chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
1. Maria dâng hiến cuộc đời mình cho chương trình của Thiên Chúa
Từ khi Ðức Maria nhận lời Thiên Thần truyền tin làm Mẹ Đấng Cứu Thế thì cả cuộc đời Mẹ thuộc về Chúa và phục vụ công trình cứu độ của Ngài. Mẹ chấp nhận mọi hoàn cảnh vui buồn sướng khổ Chúa gởi đến cho mình và phó thác cho Chúa tất cả. Dù thánh Giuse chưa đón Mẹ về nhà, Mẹ vẫn không ngại mang thai Đấng Cứu Thế. Mẹ hoàn toàn tin cậy ở Chúa. Mẹ đi chăm sóc cho bà Ysave suốt 3 tháng. Lúc trở về thì thánh Giuse và mọi người thấy rõ Mẹ đang mang thai nhưng Mẹ không vì thế mà tiết lộ bí mật. Mẹ phó thác cho Chúa lo liệu tất cả. Ngay khi Giuse quyết định bỏ đi thì Chúa can thiệp, sai Thiên Thần báo mộng cho thánh Giuse và ngài đã mau mắn đón Maria về nhà mình. Khi những ngày sinh nở sắp đến, Mẹ cũng tín thác và để Chúa lo liệu. Dù phải sinh con trong hang bò lừa, Mẹ vẫn không trách Chúa nhưng chấp nhận sự xếp đặt của Chúa. Mẹ dâng cho Chúa tất cả. Đặc biệt nhất là khi đứng dưới chân thánh giá, dù đau đớn vô cùng trước cảnh con mình bị người ta hành hạ và sỉ nhục cho đến chết, Mẹ vẫn không quỵ ngã nhưng hướng nhìn về Con, cùng chịu khổ với Con và cùng Con hoàn thành ý Chúa Cha. Mẹ là mẫu gương hoàn hảo về đời sống dâng hiến cho Chúa trước những thử thách đau thương vì mục đích cứu độ loài người.
2. Thánh Giuse vâng phục ý Chúa
Một mẫu gương dâng hiến nữa là thánh cả Giuse. Khi Thiên Thần báo mộng thì Giuse mau mắn vâng theo và từ đó, ngài luôn chu toàn bổn phận của một người gia trưởng. Ngài luôn vâng phục thánh ý Chúa, không chần chừ, không phân vân về sứ mạng Chúa giao. Dù nghèo, thánh Giuse vẫn không từ nan bất cứ điều gì với Chúa. Việc đưa Đức Maria về Bêlem khai nhân khẩu và dưỡng nuôi Đấng Cứu Thế dựa vào sức lao động của mình là một vất vả lớn lao. Thánh Giuse vẫn không than phiền gì về nhiệm vụ gánh vác gia đình này. Ngài làm mọi việc cách thầm lặng nhưng mau mắn theo sự hướng dẫn của thiên thần. Khi cuộc sống ở Bêlem ổn định đôi chút thì một đêm nọ, thiên thần bảo chỗi dậy đem hài nhi và Maria trốn sang Aicập. Thánh Giuse liền đi ngay trong đêm. Sang Ai cập, Giuse lại phải vất vả tìm việc làm kiếm sống cho gia đình của Chúa. Chưa được bao lâu thì Chúa gọi trở về Nazaret. Chắc chắn Thánh Giuse phải rất vất vả lo từng bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu cho gia đình. Tuy nhiên, khi thánh Giuse chu toàn nhiệm vụ chăm sóc Đấng Cứu Thế đến trưởng thành thì Chúa muốn ngài chấm dứt cuộc sống trần gian. Thánh Giuse quả là mẫu gương lao động phục vụ tuyệt vời trong âm thầm khiêm tốn.
3. Đức Giêsu, của lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa và nhân loại:
Mẫu gương dâng hiến hoàn hảo nhất là Đức Giêsu bỏ trời xuống thế làm người. Ngài là Thiên Chúa nhưng tự nguyện trút bỏ vinh quang của mình, trở nên giống phàm nhân, vâng lời cho đến chết trên thánh giá. Cả cuộc đời Ngài không lúc nào ngơi vâng phục và làm theo ý Thiên Chúa. Từ việc chấp nhận sinh ra trong máng cỏ, chịu bắt bớ từ nhỏ, sống trong cảnh nghèo khổ âm thầm, khiêm hạ ở làng Nazareth. Lớn lên, Ngài đi giảng dạy khắp nơi trong lãnh thổ Do thái và được dân chúng hồ hởi đón nhận, nhưng cũng có những người cứng lòng, tìm cách làm khổ Chúa. Cuối cùng, vì yêu thương nhân loại, Ngài đã nhận lấy cái chết hy sinh trên thánh giá. Dù mọi người chưa hiểu thấu nỗi khổ và sự hy sinh cao cả của Ngài nhưng vì tình yêu Chúa và nhân loại, Ngài đã dâng mình làm của lễ toàn thiêu trên thánh giá. Tất cả là vì yêu thương chúng ta.
Nhìn tấm gương hiến dâng của gia đình thánh ở Nazaret, chúng ta thấy mình quá thiếu sót trong việc đáp trả ơn cứu độ của Chúa, còn thờ ơ và kém lòng tin mến Chúa. Phải chi ngay từ bây giờ con biết sẵn sàng chấp nhận mọi gian nan thử thách cũng như những an ủi Chúa gởi tới. Chúa là Cha chúng con sẽ không để chúng con thiệt thòi và hư mất nếu chúng con biết nghe theo lời Ngài chỉ dạy.
(Suy niệm của Lm. Joshepus Quang Nguyễn)
Ngày 16-12-2014, trên trang mạng xã hội Zing.vn có đăng một bài văn độc mới và lạ của em học sinh Nguyễn Thị Cúc được cô giáo cho điểm 10. Trong bài bài văn, em Cúc viết: “Mới chiều hôm qua đây thôi, trên đường đi học về tôi gặp một cảnh tượng thật đau lòng, một người đàn ông đánh tới tấp vào mặt, lưng một người phụ nữ. Vừa cố chống chọi với cơn khát bạo hành của chồng, chị vừa khóc lóc van xin: “Sao anh lại đánh em thế này… đừng đánh em nữa anh ơi!. Tôi hơi sững người, nhưng cũng không lấy làm lạ vì đã từng chứng kiến cảnh như thế này nhiều lần. Ấy thế mà lâu nay tôi lại nghe người ta nói rằng: “Gia đình là nơi để yêu thương. Đã trôi qua một khoảng thời gian khá dài tôi đã sống, đã ra đi… và tìm tòi những minh chứng cho điều mình nghe thấy. Thế rồi, lại đắng lòng biết mấy, khi tôi chợt nhận ra thời gian càng quay nhanh thì tình người cũng dần tan biến. Cuộc sống vô tâm làm nguội lạnh tình cảm trong trái tim mỗi người. Xã hội đổi thay và lòng người cũng dần thay đổi, mọi tính toán thiệt hơn trong cuộc sống làm mất đi những vẻ đẹp tự nhiên vốn có, hạnh phúc thì ít nhưng đắng cay lại nhiều, bao nhiêu mảnh đời bất hạnh vì cuộc sống gia đình không hòa thuận, thậm chí tan vỡ, và những hiểm nguy luôn rình rập”.
Một em học sinh lớp 12, tuổi teen, tuổi học trò mộng mơ, tuổi chuẩn bị bước vào đời mà đã thấy, cảm nghiệm và thấu hiểu nỗi đau con người và gia đình ngày nay tàn nhẫn, ác tâm và tội lỗi như thế! Tại sao, cảnh bạo cảnh gia đình ngày nay xảy ra nhiều như thế! Là người tại sao ác tâm như thế, “nhân chi sơ tính bản thiện đâu rồi? Trong Tông huấn Niềm vui của tình yêu, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói đến những nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia đình đổ vỡ. Đó là kỳ vọng quá cao về đời sống hôn nhân, sự thu hút ban đầu qua đi, cùng với những khó khăn mới mà đôi bạn chưa được chuẩn bị để đối diện. Ngoài ra, còn phải nói đến tác động của bối cảnh văn hoá xã hội ngày nay, đề cao tự do cá nhân hơn hạnh phúc gia đình, đo lường tình yêu dựa vào những tiêu chuẩn vật chất và hưởng thụ hơn là những giá trị tinh thần. Vì kinh tế thị trường, xã hội hưởng thụ mà người ta vô cảm với nhau và thiếu tình nghĩa vợ chồng, con cái, cha mẹ.
Lời Chúa hôm nay cho một hướng sống và một cung cách sống noi gương gia đình Thánh gia. Bài Tin Mừng kể Đức Maria dâng Chúa Giêsu trong đền thánh, đây là truyền thống quen thuộc của Do Thái giáo từ thời xuất hành. Và việc dâng con ngày xưa vẫn còn một ý nghĩa cần thiết cho chúng ta hôm nay bởi vì cha mẹ không phải là nguồn mạch và là tác giả của sự sống nơi đứa con, chính Chúa mới là nguồn mạch và là tác giả tuyệt đối còn cha mẹ chỉ là cộng tác viên mà thôi. Cho nên giáo lý hôn nhân dạy mục đích của hôn nhân là yêu thương và giúp đỡ, đồng thời cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và giáo dục con cái. Vì vậy, sự sống là quà tặng của Thiên Chúa, thuộc chủ quyền của Thiên Chúa, con người không bao giờ được phép định đoạt cho đứa con này được sống, được sinh ra, đứa kia phải chết. Thánh Giuse và Đức Mẹ ý thức rất rõ mầm sống trong lòng của Mẹ Maria là chính Thiên Chúa nữa. Vì thế mà Thánh Giuse và Đức Maria đã hết lòng để bênh vực và bảo vệ sư sống này. Khi vua Hêrôđê ra lệnh tiêu diệt tất cả các hài nhi trong vùng, thì Thánh Giuse đã dựa vào giải pháp của Thiên Chúa, đó là đem Hài nhi và Mẹ Người trốn qua Ai Cập. Một cuộc tẩu thoát như thế quả thật là nhiều nguy hiểm gian nan, nhưng bằng mọi giá, Thánh Giuse đã đem Đức Maria và Hài nhi ra đi ngay lúc nửa đêm để tránh bàn tay độc ác của Hêrôđê và bảo vệ sự an toàn cho Hài nhi. Rồi khi được lệnh trở về, Thánh Giuse cũng đã khôn ngoan để chọn vùng Nazaret là một làng quê bình yên để cư ngụ giúp cho sự an toàn của hài nhi và cả gia đình.
Vâng, Thánh Giuse là Cha nuôi, nhưng hơn tất cả mọi người cha ruột thịt, Ngài đã âm thầm hy sinh, hiến trọn mạng sống mình để phụng dưỡng Con Thiên Chúa, bảo vệ an toàn gia đình thoát khỏi mọi nguy hiểm và làm cho mọi thành viên trong gia đình được bình an. Mẹ Maria, người mẹ thánh thiêng trinh trong tuyệt vời, luôn luôn sống với tinh thần tôi tớ của Thiên Chúa, sống dịu hiền, thương mến, thăm viếng, phục vụ bà con xóm làng, tích cực cộng tác với Con Thiên Chúa trong công trình cứu độ muôn dân và xây dựng Hội thánh. Quả thực, không một ai đứng kề thánh giá của con bằng Mẹ, không một ai sống giữa các môn đệ trong lúc cô đơn xao xuyến để cầu nguyện Thánh Linh xuống soi sáng và củng cố tinh thần các môn đệ bằng Mẹ. Còn Chúa Giêsu, Người chí hiếu, con thảo độc nhất của gia đình. Người con chí ái độc nhất của Thiên Chúa, đã sinh ra trong hang lừa hèn hạ, đã lớn lên trong cảnh lao động nghèo khó. Nhưng, cháu bé này là nguồn an bình muôn thuở cho những cụ già như Simêon ẵm bế, là nguồn hy vọng vinh phúc cho những bà góa neo đơn như Anna, là nguồn sáng soi đường cứu độ cho muôn dân và vinh quang cho Israel dân Ngài.
Noi gương gia đình Thánh gia, trong đời sống gia đình chúng ta cũng vậy, hỡi những bậc làm cha mẹ hãy biết xây dựng gia đình mình thành một tổ ấm, một cái nôi chan hòa “tình thương yêu êm ái, nhân hậu, khoan dung, hiền lành, nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ cho nhau, cởi mở chân thành để liên kết với nhau trong mối giây bác ái yêu thương tuyệt hảo”. Hơn nữa, cha mẹ phải tạo dựng gia đình thành một đền thờ, trong đó “dâng lên Thiên Chúa những bài Thánh vịnh, những khúc hát Thánh ca, do Chúa Thánh Thần linh ứng. Hãy dùng lời Chúa dạy dỗ răn bảo nhau cho thật khôn ngoan để lời Chúa Kitô sinh hoa kết quả dồi dào trong gia đình. Khi làm gì, nói gì, hãy làm và nói nhân danh Đức Giêsu Kitô, và nhờ Người mà cảm tạ Chúa Cha” (Bài đọc 2 mà chúng ta vừa mới nghe: Cl. 3, 12-21), như thế gia đình chúng ta sẽ trở nên như gia đình Thánh Gia.
Trong đời sống gia đình hôm nay, chúng ta gặp không ít những khó khăn, khủng hoảng trong đời sống hôn nhân gia đình, do công ăn việc làm khó khăn, con cái hư hỏng, cha mẹ bất hoà… Phương thế vượt qua không phải là giận ghét, bạo lực, nghi kỵ, nhưng là tình yêu vì chỉ có tình yêu mới “cứu độ” được gia đình, một tình yêu dựa trên lòng đạo đức, vâng giữ điều răn Chúa dạy như gia đình Thánh gia. Vậy, ước gì qua Lời Chúa và Thánh lễ tôn vinh gia đình Thánh gia: Chúa Giêsu, Thánh Giuse và Đức Mẹ hôm nay, xin Chúa dạy mỗi gia đình trong giáo xứ chúng ta biết sống giữa cảnh phàm trần với tinh thần người con thảo hiếu, người cha, người mẹ có trách nhiệm yêu thương, tha thứ và phục vụ ngõ hầu xây dựng mái ấm tình thương thật sự, gìn giữ gia đình luôn hạnh phúc vững bền và mọi thành viên trong gia đình mỗi ngày một nên thánh và thiện như lòng Chúa ước mong. Amen.
7.Gia đình có Chúa – có bình an
Hà Linh tác giả truyện ngắn, kể hạnh phúc của một gia đình như thế này: Trước kia cuộc sống khó khăn vất vả, Bố thường đi công tác xa, ở nhà, hai mẹ con ăn uống thật khắc khổ. Mỗi lần bố về, tôi rất vui, vì Mẹ thường nấu món ăn ngon cho cả nhà cùng ăn. Tôi hỏi Mẹ tai sao thì Mẹ nói: Chỉ khi nào có mặt ở nhà đầy đủ thì mẹ mới nấu ăn ngon được. Tôi vẫn chưa hiểu được nổi nhớ của Mẹ. Bây giờ, Bố Mẹ mất hết, tôi mới hiểu rằng: một bữa cơm ngon chỉ có khi gia đình sum họp đầy đủ, và mọi người biết đem lại niềm vui cho nhau.
Hôm nay, Hội Thánh mời gọi mỗi người chúng ta hãy nhìn lên gia đình Thánh Giuse, Đức Maria và Chúa Giêsu mà chúng ta quen gọi là gia đình Thánh gia thất. Đây là một gia đình gương mẫu để tất cả các gia đình công giáo chúng ta noi theo. Như vậy, chúng ta đã học được những điều tốt đẹp nào qua gia đình thánh gia thất.
Nhìn Thánh Giuse, Ngài là một người cha rất cương nghị nhưng cũng rất giàu tình thương, biết hành động và cân nhắc trước những tình huống khó khăn, một người cha rất nhanh nhẹn và sẵn sàng. Dù là đang đêm nhưng vẫn không ngại khó khăn vất vả chổi dậy đưa Maria và Hài nhi Giêsu đi trốn qua Ai cập. Một người cha dám bỏ những gì là thân thương và riêng tư nhất như tài sản, họ hàng, quê hương để sẵn sàng vâng theo ý Chúa. Quả thật Giuse đúng là một mẫu gương tuyệt vời cho các gia trưởng noi theo.
Nhìn Mẹ Maria, Ngài là một người vợ và là một người mẹ hết sức thánh thiện, bởi vì trước những biến cố rất kinh khủng, trước những biến cố rất quan trọng có liên quan đến cả một cuộc đời, mà Mẹ Maria không hề thắc mắc, không nghi ngờ, không ngại khó để sẵn sàng vâng phục theo thánh ý Chúa. Trong hang đá Belem, Mẹ chính là niềm vui cho trẻ Giêsu, là sự hãnh diện cho Thánh Giuse, là niềm hạnh phúc cho các mục đồng, và là nguồn an ủi cho ba nhà đạo sĩ. Mẹ cũng là nụ cười cho trẻ Giêsu , Mẹ chính là một cái máy điều hòa không khí để cho hang đá Belem đang giá lạnh được trở nên ấm cúng một cách lạ thường. Quả thật Mẹ Maria đúng là một mẫu gương tuyệt vời cho các bà Hiền mẫu noi theo.
Nhìn Hài Nhi Giêsu, Ngài là một con người nhỏ bé nhất, nhỏ bé nhất nhưng lại quan trọng nhất. Quan trọng nhất, bởi vì đôi tay của Ngài tuy bé nhỏ, nhưng chính đôi tay ấy đã dựng nên cả đất trời, chính đôi tay ấy đã chữa lành cho biết bao trái tim của những người đang tan vỡ, và chính đôi tay ấy đã xoa dịu bao nổi lòng còn đang lo âu, thổn thức. Quả tim của hài nhi Giêsu tuy nhỏ bé, nhưng chính quả tim ấy lại có một tình yêu thật to lớn, một tình yêu thí mạng cho người mình yêu, một tình yêu có một không hai trong lịch sử này. Hài nhi Giêsu đúng là một mẫu gương lý tưởng để chúng ta nhìn vào đó mà suy gẫm.
Sau khi chiêm ngắm gia đình Thánh Gia chúng ta thấy rằng: Gia đình nào cũng phải có tình thương, và tổ ấm gia đình chỉ được xây dựng được khi nào có tình thương. Có tình thương thì mọi thành phần trong gia đình sẽ có quảng đại để lo cho nhau, và để đem lại niềm vui cho nhau. Đem lại sự bình an cho nhau.
Qua truyện ngắn và nhìn lại gia đình thánh gia thất. Quả thật, gia đình nào cũng có vui có buồn, có sướng có khổ, và mọi người trong gia đình phải biết thương mến nhau và chấp nhận nhau.
Nhìn lại gia đình Thánh gia, tôi thấy đây là một gia đình Thánh, gồm toàn những người Thánh, nhưng gia đình thánh cũng không tránh được những chuyện buồn phiền. Giuse cũng buồn khi biết Maria có thai mà không phải do ông. Rồi Giuse và Maria cũng buồn khi mới sinh có mấy ngày, mà phải vội vã đi trốn mãi sang Aicập, hoặc là hai ông bà buồn khi con đi lạc ở đền thờ Giêrusalem… Gia đình Thánh mà cũng gặp phải những chuyện buồn như vậy thì huống chi là gia đình của mỗi người chúng ta. Đó là những chuyện buồn bình thường, bởi vì đâu có gia đình nào tránh được hết những bất trắc đâu, gia đình nào cũng có những hoàn cảnh riêng của gia đình đó, gia đình nào cũng có những buồn vui của gia đình đó, gia đình nào cũng có những bất ngờ riêng như: đau ốm, nợ nần, hết tiền, thiên tai, bảo lụt, cải nhau, bị nghi ngờ, bị hiểu lầm, bị chống đối… Vậy khổ đau thì luôn có, và mỗi người chúng ta hôm nay học được bài học của Thánh gia, là chúng ta phải biết biến những nổi buồn trong cuộc sống gia đình của chúng ta thành những niềm vui, cũng như chúng ta hãy lợi dụng những hoàn cảnh trong gia đình để làm cho nhau nên tốt hơn, mới hơn, và yêu thương nhau hơn noi theo gương của gia đình Thánh gia thất.
Chúng ta cùng hướng về gia đình Thánh gia thất và thầm thỉ kêu cầu:
Lạy Thánh Giuse, xin làm cho gia đình chúng con được trở thành tổ ấm của tình yêu.
Lạy Mẹ Maria, xin làm cho gia đình chúng con được hạnh phúc.
Lạy Hài nhi Giêsu, xin làm cho mọi người trong gia đình chúng con biết yêu thương nhau.
NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA GIA ĐÌNH THÁNH GIA THẤT
(Suy niệm của Lm. Gioan Lê Quang Tuyến)
Hôm nay, Chúa nhật đầu tiên sau lễ Giáng sinh và cũng là Chúa nhật cuối cùng của năm tây lịch 2017 hôm nay, Giáo hội cử hành phụng vụ tôn kính Gia Đình Thánh Gia Thất: Chúa Giêsu, Đức Mẹ Và Thánh Giuse.
Ngày 17/12/2017 vừa qua, ai trong chúng ta cũng sửng sốt và rùng mình khi nghe tin về vụ án người vợ đã giết chồng tại thị xã Thuận An, Bình Dương. Theo kết luận của cơ quan điều tra của Công An tỉnh Bình Dương, Chị Diễm là nghi can đã sát hại chồng là ông Trần Thanh Tú (SN 1980, quê Sóc Trăng, tạm trú tại thị xã Thuận an) rồi phân xác phi tang ở nhiều bãi rác dân sinh trên địa bàn phường Thuận Giao, TX.Thuận An. Cũng đến thời điểm hiện nay, công an làm rõ, Diễm 1 mình gây án, chưa xác định là có đồng phạm cùng giúp sức. Theo cơ quan điều tra thông tin, nguyên nhân Diễm gây án là xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng. Thật là một vụ án đắng lòng làm tổn thương đời sống gia đình.
Hôm nay, Chúa nhật đầu tiên sau lễ Giáng sinh và cũng là Chúa nhật cuối cùng của năm tây lịch 2017 hôm nay, Giáo hội cử hành phụng vụ tôn kính Gia Đình Thánh Gia Thất: Chúa Giêsu, Đức Mẹ Và Thánh Giuse. Đây là dịp thuận lợi để Giáo hội tôn vinh đời sống gia đình và mời gọi chúng ta xây dựng đời sống gia đình theo những nét đẹp của gia đình Thánh Gia Thất.
1. Nét đẹp của việc sống tuân giữ lề luật Chúa.
Nét đẹp trước hết của Gia đình Thánh Gia Thất là sự tuân giữa luật Chúa. Thánh Giuse trong tư cách là người chủ của gia đình Nagiaret, đã tuân giữ luật Chúa như trong sách luật Mô-sê đã qui “Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là người thánh thuộc về Chúa. Và cũng để dâng lễ vật cho Chúa, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu con”. Trước đó, Thánh Giuse cũng đã cùng Mẹ Maria tuân hành luật lệ của việc thanh tẩy đối với người nữ sau khi sanh con khi cùng nhau lên đền thờ cầu nguyện và dâng của lễ theo qui định của luật. Chính nét đẹp này của Thánh Gia Thất phải là gương mẫu cho các gia định chúng ta hôm nay.
Trong tông huấn niềm vui của tình yêu, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã mời gọi mỗi gia đình công giáo hãy noi gương Thánh Gia Thất để thể hiện nép đẹp tuân giữ lề luật Chúa qua việc chuyên cần cầu nguyện trong đời sống gia đình. Ngài nói “Cầu nguyện trong gia đình là một phương thế ưu việt để diễn tả và củng cố đức tin phục sinh. Gia đình có thể dành vài phút mỗi ngày để qui tụ với nhau trước Thiên Chúa hằng sống, nói với Ngài những về những lo lắng bận tâm, cầu xin với Ngài cho những nhu cầu của gia đình, cho một ai đó đang gặp khó khăn, xin Ngài trợ giúp ta biết sống yêu thương, tạ ơn Ngài về cuộc sống và về bao ơn lành khác, cầu xin Đức Trinh Nữ che chở chúng ta dưới tà áo Mẹ. Với những lời đơn sơ như thế, giờ cầu nguyện này có thể đem lại điều tốt lành lớn lao cho gia đình” (AM 318).
Do đó, để bảo vệ cho cuộc sống gia đình hạnh phúc chúng ta hãy noi gương Thánh Gia Thất mà chuyên chăm chu toàn luật Chúa nhất là việc cùng nhau tham dự thánh lễ và cùng nhau đọc kinh chúng trong gia đình vào ban tối hoặc sáng. Đây là yếu tố quan trọng giúp chúng ta bảo vệ hạnh phúc gia đình trong sự chúc phúc của Chúa.
2. Nét đẹp của sự đồng cộng tác trong đời sống gia đình
Nét đẹp thứ hai mà chúng ta học được nơi Gia đình Thánh Gia Thất chính là sự đồng cộng tác chăm lo cho đời sống gia đình. Tin Mừng Thuật lại rất vắn vỏi về cuộc sống đồng cộng tác này trong cuộc sống thường nhật của Thánh Gia Thất tại Nagiaret. “Khi hai ông bà hoàn tất mọi điều theo luật Chúa, thì trở lại xứ Galilêa, về thành mình là Nadarét. Và con trẻ lớn lên, thêm mạnh mẽ, đầy khôn ngoan, và ơn nghĩa Thiên Chúa ở cùng Người.”
Để Con trẻ Giêsu lớn khôn, ngoan hiền được mọi người quanh làng yêu mến khen ngợi, chắc hẳn Thánh Giuse và Mẹ Maria phải vất vả nhiều lắm. Thánh Giuse phải cần mẫn hơn trong lao động để có miếng cơm manh áo. Maria phải nhọc nhằn thức khuya dậy sớm để chăm lo cho gia đình có bữa cơm ngon. Và nhất là cả hai phải cùng đồng tâm trong cách giáo dục để có được con trẻ Giêsu có được những đức tính tốt của một con người hiếu thảo, ngoan hiền vơi hết mọi người và nhất là với Thiên Chúa.
Giáo dục con cái là một nhiệm vụ quan trong hàng đầu mà người cha người mẹ phải chu toàn. Cha ông chúng ta đã từng chê trách những cha mẹ không biết giáo dục con khi ví von rằng: nuôi con chẳng dạy chẳng răn, thà rằng nuôi lợn mà ăn lấy lòng”. Do đó, sự đồng lòng đồng chí hướng trong giáo dục con cái là điều hết sức quan trọng và không được khoán trắng cho ai khác kể cả nhà trường. Chúng ta cùng lắng nghe sự nhắn nhủ này nơi Tông huấn niềm tình yêu “Dẫu cha mẹ cần đến trường học để bảo đảm cho con cái mình có được một nền giáo dục cơ bản, nhưng họ không bao giờ có thể khoán trắng việc huấn luyện đạo đức cho con cái nơi một ai khác. Sự phát triển tình cảm và đạo đức của một con người đòi hỏi một kinh nghiệm cơ bản: tin rằng cha mẹ của mình là đáng tin cậy. Đó là một trách nhiệm trong giáo dục: với tình thương và gương sáng cha mẹ tạo sự tin tưởng nơi con cái, truyền cho chúng một lòng kính trọng trong yêu thương. Khi một đứa con nào đó không còn cảm thấy mình được quý yêu trước mặt cha mẹ, dù đó là do khuyết điểm của mình, hoặc nó không nhận thấy cha mẹ đang quan tâm thật sự đến nó, điều đó gây tổn thương sâu sắc và tạo nhiều nhiều khó khăn trên bước đường trưởng thành của nó. Sự vắng mặt này, tức là sự bỏ rơi do thiếu tình thương, sẽ gây ra một nỗi đau sâu sắc hơn là một sự sửa dạy nào đó có thể có do trẻ làm một hành động sai trái” (AM 263)
3. Nét đẹp của sự hiếu thảo và vâng phục cha mẹ của Chúa Giêsu
Sau cùng, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm và học hỏi nét đẹp thứ 3 trong Gia đình Thánh Gia thất là sự hiếu thảo và vâng phục cha mẹ của Chúa Giêsu.
Khi mô tả cuộc sống ẩn dật của Chúa Giêsu trong gia đình Thánh Gia Thất tại Nagiaret, thánh Luca viết “Người đi xuống cùng cha mẹ, trở về Nagiaret và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2,51). Dù là con Thiên Chúa, nhưng khi đã nhập thể làm người, Chúa Giêsu đã nêu gương cho mọi nguời chúng ta gương hiếu thảo của người con trong đời sống gia đình. Ngài luôn biết lắng nghe lời dạy bảo của Thánh Giuse và Mẹ Maria. Chính sự hiếu thảo và vâng phục đã làm nên nét đẹp của người con ngoan đối với cha mẹ và đối với Thiên Chúa.
Sự hiểu thảo và vâng phục cha mẹ còn ban tặng cho người con biết bao ơn trọng khác. Sách Huấn Ca đã minh định cho chúng ta điều ấy: “Ai yêu mến cha mình, thì được đền bù tội lỗi; ai thảo kính mẹ mình, thì như người thu được một kho tàng. Ai thảo kính cha mình, sẽ được vui mừng trong con cái, khi cầu xin, người ấy sẽ được nhậm lời. Ai thảo kính cha mình, sẽ được sống lâu dài. Ai vâng lời cha, sẽ làm vui lòng mẹ” (Hc 3, 3-5).
Là cha là mẹ, ai ai cũng mong cho cái được nuôi dạy lớn khôn, thành nhân trong cuộc đời. Cha Mẹ sẽ không cần chúng ta phải trả công cho những nhọc nhằn vất vả, nhưng các ngài rất cần chúng ta sống chữ hiếu thảo. Hãy chiêm ngắm nét đẹp hiếu thảo của Chúa Giêsu trong gia đình Thánh Gia, và sống noi gương ngài để chúng ta có thể làm cho gia đình chúng ta ngày càng hạnh phúc.
Lạy Chúa, Chúng con cảm tạ Chúa đã ban cho chúng con những nét đẹp trong mẫu gương Thánh Gia Thất. Xin cho các bậc gia trưởng, các vị hiền mẫu và những người con luôn chu toàn vai trò của mình để gia đình được hạnh phúc, Thiên Chúa được vinh danh, và xã hội được an bình. Amen.
Theo Tin Mừng kể lại, thì Thánh gia không phải chỉ gặp toàn những chuyện may mắn và suôn sẻ. Trái lại, thánh Giuse có lần đã tính đến chuyện tháo lui. Còn Chúa Giêsu, lúc được đưa tới đền thờ, khi còn đang ăm ngửa, đã được tiên đoán là sẽ trở thành như một lưỡi gươm đâm thâu qua cõi lòng người mẹ. Vào dịp theo cha mẹ lên đền thờ tham dự lễ Vượt Qua năm mười hai tuổi, Ngài đã là duyên cớ của những nỗi khổ tâm không cầm nén được của cha và mẹ Ngài. Có một lúc nào đó, trong khi giảng dạy, Ngài đã tuyên bố: Ngài đến không phải là để đem lại sự hòa thuận, mà là sự chia rẽ giữa các thành viên trong gia đình.
Những đoạn Phúc âm ngắn ngủi và họa hiếm về Thánh gia và về mối quan hệ thân thuộc, lại không phải là những bức họa rõ nét của một gia đình gương mẫu, hiểu theo nghĩa thông thường. Không ai có thể hồ nghi về sự thánh thiện của từng thành viên trong gia đình này. Vậy phải chăng Thánh gia không còn là gương mẫu cho các gia đình Kitô hữu nữa sao?
Hoàn toàn không phải là như vậy. Thánh gia vẫn luôn là mẫu mực cho các mối quan hệ giữa các thành viên của gia đình Kitô hữu. Thực vậy, Đức Maria vẫn một lòng tin tưởng và tôn trọng việc làm của Người Con, dù rằng có những lức Mẹ đã tỏ ra không hiểu hết tầm mức của việc làm đó. Không chỉ tôn trọng mà thôi, Mẹ còn dõi theo những bước chân Con đi, dù là những bước chân dẫn lên Núi Sọ. Còn thánh Giuse thì vẫn âm thầm lao động để tìm kiếm chén cơm manh áo, nuôi sống cả gia đình, cũng như chu toàn thánh ý của Thiên Chúa ở mọi nơi và trong mọi lúc. Còn Chúa Giêsu, Ngài đã thể hiện và hoàn tất công việc của Chúa Cha, không chỉ đối với các thành viên của gia đình ruột thịt, mà còn để mọi người trở thành anh em trong gia đình của ơn cứu chuộc.
Thánh gia là gương mẫu của một tình yêu vượt ra ngoài giới hạn của những quan hệ bình thường theo một nghĩa nào đó, vốn được gọi là tự nhiên, ruôt thịt, họ hàng, chủng tộc. Thánh Gia là gương mẫu cho một mối quan hệ đi ngược lại với óc cục bộ và sự kỳ thị, cho một lối sống gắn bó, không chỉ với những người thân quen, mà còn với hết mọi người.
Nhìn vào cuộc sống Thánh gia, chúng ta nhận ngay ra rằng: Còn có một cái gì lớn hơn cuộc sống gia đình, mà chính cuộc sống gia đình phải hướng tới. Tứ hải giai huynh đệ. Bốn bể đều là nhà. Bốn bể đều là anh em. Từ quan hệ ruột thịt tiến tới quan hệ của một huynh đệ, của một tình liên đới, của một tình đồng loại, một tình của những người con làm theo ý Chúa, hoạt động cho chính nghĩa, cho lẽ phải.
Con Thiên Chúa giáng sinh làm người, trở nên con của thánh Giuse và Mẹ Maria, để mọi người chúng ta được trở thành con Thiên Chúa và trở thành anh em với nhau.
Giờ đây chúng ta cùng nhau dừng lại để tìm hiểu về những nhân vật qua đoạn Tin Mừng vừa nghe.
Trước hết là Chúa Giêsu
Từ thuở thơ ấu, ngay cả khi chưa nói được, Chúa Giêsu đã hoàn tất các lời Thánh Kinh. Hôm nay Ngài thực hiện lời hứa đã được ban cho Đaniel, Malakia và nhiều tiên tri khác. Hôm nay trong con người hài nhi Chúa Giêsu, chính Thiên Chúa trở lại cung thánh đã bị bỏ phế của Ngài. Dù tội của Israel có thế nào chăng nữa, Thiên Chúa vẫn trung thành với lời mình đã hứa. Sự bất trung của Israel chỉ làm trì hoãn việc thực hiện các lời hứa ấy chứ không thể huỷ bỏ chúng được.
Trong cuộc đời chúng ta cũng thế. Ngày chúng ta được rửa tội, Thiên Chúa đã nhận chúng ta làm nghĩa tử. Mặc dù chúng ta có lắm bất trung, Ngài vẫn không khi nào ruồng rẫy. Mặc dù chúng ta có xua đuổi Ngài ra khỏi cung lòng chúng ta, Ngài vẫn tìm mọi cách giúp đỡ chúng ta ăn năn sám hối. Hôm nay, chúng ta hãy mở rộng cung thánh tâm hồn chúng ta cho Ngài, hãy mời Ngài đến ở mãi trong cuộc đời chúng ta, để rồi chúng ta sẽ trở nên ánh sáng chiếu soi cho những người chúng ta gặp gỡ trên vạn nẻo đường đời.
Tiếp đến là Maria và Giuse
Các Ngài đã chấp nhận chu toàn mọi lề luật. Các Ngài vâng phục đến độ còn thi hành thói quen đạo đức là trình dâng con trai đầu lòng tại đền thánh, một điều luật không đòi hỏi. Sở dĩ các Ngài đã đi quá lề luật như thế là vì các Ngài đã tuân phục với tình yêu chứ không vì sợ hãi. Riêng Mẹ Maria là thụ tạo tinh tuyền nhất của nhân loại, đã khiêm tốn chấp hành nghi thức thanh tẩy. Phần chúng ta là những kẻ bị tội lỗi làm cho trở nên xấu xa, chúng ta hãy khiêm tốn lãnh nhận bí tích Cáo giải để tâm hồn được thanh tẩy.
Sau khi nghe ông già Simêon nói về hài nhi Giêsu, hai ông bà đã ngạc nhiên. Sở dĩ như vậy vì các ngài chưa hoàn toàn thấu triệt mầu nhiệm sâu xa che phủ trên Con mình. Dù được sống thân mật với Chúa Giêsu, các ngài vẫn phải tiến tới trong đức tin. Nhưng đức tin các ngài luôn được đào sâu, vì các ngài suy gẫm trong lòng. Đối với chúng ta, cũng chẳng có gì lạ, nếu chúng ta không hiểu hết được những mầu nhiệm của Thiên Chúa. Dù qua hai mươi thế kỷ, Giáo Hội vẫn luôn tiếp tục đào sâu mầu nhiệm Đức Kitô. Nơi Đức Kitô, đức tin của chúng ta cũng phải triển nở và lớn lên trong sức mạnh và ơn sủng. Đức tin của chúng ta chính là sự tăng trưởng liên tục của Đức Kitô trong tâm hồn chúng ta.
Sau hết là ông Simêon và bà Anna
Chúa Thánh Thần đã ở trên ông Simêon, mạc khải cho ông biết Đấng Messia trước khi qua đời, thúc đẩy ông vào đền thờ chờ đón Hài Nhi Giêsu đến. Đối với chúng ta cũng vậy, chúng ta có thể sống dưới sự hoạt động của Chúa Thánh Thần cách thường xuyên, nếu chúng ta ở trong ơn nghĩa và biết chăm chỉ tuân theo những thúc đẩy bên trong của Ngài. Chúa Thánh Thần cũng có thể trở nên trong chúng ta một nguồn ánh sáng giúp chúng ta hiểu rõ hơn đức tin và bổn phận của chúng ta. Ngài đem đến một nguồn sức mạnh thiêng liêng giúp chúng ta can đảm sống đời sống chứng nhân cho Thiên Chúa.
Simêon và Anna đã suốt đời chờ mong Đức Kitô. Với chúng ta họ là những tấm gương hy vọng và trung tín. Lòng trung tín của họ đã được ân thưởng. Họ đã được niềm vui bồng ẵm trên tay ánh sáng dân ngoại, vinh quang Israel, là chính Chúa Giêsu. Trong mùa Giáng sinh này, chúng ta cũng hãy chuẩn bị và đón nhận hồng ân Thiên Chúa trong sự trung tín đợi chờ và đón nhận nó với tất cả tâm tình biết ơn ơn Simêon và Anna ngày xưa.
Giáo Hội đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng gia đình Kitô hữu thành một cái nôi của tình thương, thành một mái trường dạy cho chúng ta những bài học làm người. Trong chiều hướng đó, Thánh Gia với Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse vốn được coi là những mẫu gương sáng chói của gia đình công giáo.
Thế nhưng, Chúa Giêsu đã không muốn đóng khung nhãn giới của chúng ta trong khuôn khổ một gia đình theo huyết thống. Bài học lớn nhất Ngài để lại cho chúng ta đó là bài học làm người trong xã hội. Ngài không vun xới cho gia đình riêng của mình, nhưng Ngài lại xây dựng đại gia đình nhân loại được cứu chuộc.
Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu ngay từ lúc lọt lòng mẹ đã phải trải qua một cuộc bôn ba, đã là một con người bị ruồng bắt bởi quyền lực thế gian. Con đường trốn qua Ai Cập cũng chính là con đường dân riêng của Chúa đã đi qua thuở xưa, con đường dẫn tới cuộc sống nô lệ trong suốt 400 năm. Nhưng rồi Ngài cũng được đưa về lại Galilê tượng trưng cho cuộc xuất hành của dân riêng khỏi đất nô lệ Ai Cập. Như thế Phúc Âm đã tóm gọn cuộc đời Chúa Giêsu và đặt cuộc đời ấy trong lịch sự của dân Chúa.
Qua Ai Cập và từ Ai Cập trở về, Chúa Giêsu đã không chỉ đi với cha mẹ Ngài mà còn đi với dân của Ngài. Qua cái chết và sống lại của Ngài, một dân mới được thiết lập và các môn đệ của Ngài được sai đi đến tận cùng trái đất để mọi người, không phân biệt màu da, tiếng nói, ý thức được mình là con Thiên Chúa và là anh em với nhau.
Việc xây dựng đại gia đình nhân loại nhiều khi vượt lên trên quyền lợi của gia đình ruột thịt hay dòng họ. Chúa Giêsu đã khẳng định điều đó một cách thật rõ ràng. Ngài đã từng cho người ta hiểu rằng Ngài đến không phải để đem hoà bình mà là gươm giáo, đến để chia rẽ con cái khỏi cha mẹ, nàng dâu khỏi mẹ chồng và làm coh những người trong gia đình trở thành kẻ thù của nhau. Những lời lẽ quả là lạ lùng, khó nghe. Dĩ nhiên chúng ta không thể coi Ngài như một kẻ chủ trương phá hoại gia đình hay coi nhẹ giá trị gia đình. Nhưng Ngài muốn cho người ta hiểu rằng: Còn một gia đình khác lớn hơn phải được xây dựng. Cái mối quan hệ lớn lao, cao quý mà người ta cần phải quan tâm thiết lập và vun xới, không phải là mối quan hệ cha con, anh em theo máu huyết. Mà là mối quan hệ cha con, anh em theo việc thực thi ý định của Chúa: Ai là mẹ Ta và ai là anh em Ta. Đó là người nghe và thực hành lời Chúa.
Nếu mọi thành phần trong gia đình cùng nhìn về một phía, cùng theo đuổi một lý tưởng phục vụ hạnh phúc của con người trong xã hội. Đó chính là gia đình gương mẫu, thánh thiện theo cái nhìn của Tin Mừng. Để đạt tới lý tưởng ấy, mỗi người trong gia đình cần phải tìm hiểu và đào sâu những đòi hỏi của Tin Mừng, thấy rõ trách nhiệm làm người và làm môn đệ của Chúa trong xã hội và trong thế giới hiện tại, đồng thời cố gắng giúp nhau chu toàn trách nhiệm ấy.
Gia đình là tế bào sống động của quốc gia, của nhân loại, cũng như của Hội Thánh. Tế bào căn bản này có khỏe mạnh và phát triển, thì toàn thể thân xác mới khỏe mạnh và phát triển. Sức khỏe và sự ổn định của gia đình ảnh hưởng tới sức khỏe và sự ổn định của quốc gia và Giáo Hội. Chính vì thế chúng ta phải đem vào trong gia đình một tinh thần Kitô giáo đích thực.
Thế nhưng ngày nay, vì chiến tranh, vì những trào lưu duy vật và chối bỏ đức tin, gia đình đã bị khủng hoảng và suy sụp, tế bào nền tảng này đã bị nhiễm độc. Vậy chúng ta phải làm gì để cứu vãn tình thế?
Điều tôi nhấn mạnh giờ đây, đó là tinh thần cộng đoàn. Thực vậy, mỗi người chúng ta phải biết từ bỏ tính ích kỷ để tiến đến một sự hòa hợp và yêu thương, như hình ảnh về thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô mà thánh Phaolô đã đề cập tới. Gia đình là một Giáo Hội cỡ nhỏ, là một nhiệm thể được thu hẹp. Đây không phải chỉ là một hình ảnh tượng trưng, mà còn là một thực thể sống động.
Người cha là đầu thân thể như Đức Kitô là đầu Giáo Hội. Người mẹ là thân thể như vai trò của Giáo Hội, và con cái là những phần tử như những tín hữu là chi thể của Đức Kitô.
Một gia đình đích thực phải hiệp nhất và trở nên một: Một tư tưởng, một ước muốn, một cõi lòng, một con tim. Người cha tìm kiếm cơm áo, người mẹ phân phát cơm áo và con cái thì lãnh nhận máu huyết và sự sống nơi cha mẹ. Người cha thì giống với Đức Kitô là đầu nhiệm thể. Người mẹ thì giống với Giáo Hội, còn con cái thì giống những chi thể trong nhiệm thể ấy.
Bởi đó hãy đón nhận và thực thi tinh thần hợp nhất. Là con cái, hãy nhìn thấy Đức Kitô nơi người cha, hãy yêu mến và trọng kính Đức Kitô nơi người cha của mình. Trgkhi đó, những người cha hãy sống như Đức Kitô và điều hành gia đình của mình trong tinh thần yêu thương.
Còn người mẹ, hãy lấy Giáo Hội làm lý tưởng cho mình, để có sự trung thành và hiền dịu. Con cái chính là những tế bào, trong đó Đức Kitô phải lớn lên, phải trưởng thành. Muốn thấm nhuần tinh thần ấy, chúng ta phải cần đến một bầu khí đạo đức. Bầu khí đạo đức này được tạo nên do thánh lễ, do phụng vụ, do các bí tích và đặc biệt do những giờ kinh chung trong gia đình.
Đây là những giây phút linh thiêng, cha mẹ, vợ chồng, con cái cùng quây quần bên nhau và cùng nhau quây quần bên Chúa, để dâng lên Ngài của lễ chung là những hy sinh gian khổ trong cuộc sống. Đây cũng là một liều thuốc thần diệu hàn gắn những đổ vỡ, vì trong những phút giây ấy chúng ta thực sự trở nên một.
Hãy xây dựng gia đình mình trong tinh thần hợp nhất như các chi thể hợp nhất với nhau và nhất là như Đức Kitô hợp nhất với Giáo Hội của Ngài.
(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc)
“Bà Ma-ri-a và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa”
Trong bối cảnh hiện nay, có nhiều yếu tố làm lung lay mái ấm gia đình, vốn là nền tảng cho sự lớn lên của từng người và của cả xã hội. Trong Thánh Lễ tôn kính Thánh Gia hôm nay, chúng ta được mời gọi cầu nguyện cách đặc biệt cho các gia đình, nhất là gia đình những người thân yêu của chúng ta, và cho cả các mái ấm nữa, vốn là “gia đình” của các trẻ em mồ côi, khuyết tật, thiếu thốn, thiệt thòi, cùng khổ…
Chúng ta xin Chúa chúc lành cho các nỗ lực của chúng ta hiện nay, trực tiếp và gián tiếp lo cho hạnh phúc của các gia đình; và xin cho chúng ta dấn thân hơn nữa theo hướng phục vụ các mái ấm gia đình.
Và chúng ta cũng xin Chúa chúc lành cho gia đình và cộng đoàn của chúng ta, để chúng ta được liên kết và hiệp nhất với nhau bằng Lời Chúa, giống như Thánh Gia, qua đó làm chứng cho tình yêu thương xót và cứu độ của Chúa.
1. Thánh Gia và mầu nhiệm Nhập Thể
Thật là ý nghĩa khi Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm Thánh Gia ngay sau lễ Giáng Sinh. Bởi vì, Lễ Thánh Gia làm sáng tỏ một chiều kích đã có trong mầu Giáng Sinh, nhưng không được chú ý: đó là, dù Hài Nhi Giêsu là “Ngôi Lời từ trời xuống”, được hoài thai, được cưu mang và sinh ra lạ lùng như thế nào đi nữa, thì cũng phải được đón nhận vào trong một gia đình cụ thể, và qua một gia đình, một “gia thất” như cách nói của phụng vụ, Ngài được đón nhận vào một gia tộc, vào một dân tộc và vào gia đình nhân loại. Thánh sử Mát-thêu làm rõ chiều kích này của mầu nhiệm Nhập Thể, khi viết bản Gia Phả của Đức Giê-su Ki-tô ngay trang đầu tiên của sách Tin Mừng:
Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham…
Ê-li-hút sinh E-la-da; E-la-da sinh Mát-than; Mát-than sinh Gia-cóp; Gia-cóp sinh Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô.
(Mt 1, 1.15-16)
Vì thế, các hang đá của chúng ta nên có sự hiện diện đầy đủ của cả bố và mẹ hài nhi Giêsu; vì sinh ra mà không bố không mẹ, thì có nghĩa là gì và sẽ ra làm sao? Bởi lẽ tiến trình Ngôi Lời “nhập thể”, nghĩa là làm người vẫn chưa trọn vẹn, Ngài còn phải “nhập hóa” nữa, nghĩa là Ngài không chỉ mặc lấy nhân tính, trở nên con người chung chung, nhưng trở nên con người này, Giêsu Nazareth, có gia có phả. Chúng ta đừng quên cảm phục Đức Maria và thánh Giuse đã đón nhận hài nhi Giêsu vào mái ấm của mình, và qua mái ấm của mình, đón nhận Ngài vào dân tộc của mình và vào gia đình nhân loại. Đó là một hồng ân, nhưng cũng là một thử thách, thử thách đòi các Ngài phải liều mình và hi sinh cả một đời.
Trong lễ Thánh Gia, khi cầu nguyện cho các gia đình, chúng ta đừng quên nhớ đến những em bé được sinh ra chẳng lạ lùng chút nào, nhưng ngược lại, sinh ra trong bất hạnh (sinh ra trong một gia đình đổ vỡ về tương quan; sinh ra thiếu cha, thiếu mẹ; sinh ra ngoài ý muốn hay vì bị cưỡng bức; những em bé được sinh ra trong lén lút và bị bỏ rơi…). Lễ Thánh Gia mà chúng ta cử hành hôm nay, muốn nhắn gởi cho loài người chúng ta một sứ điệp: các em bé sinh ra trong bất hạnh này cũng phải được đón nhận vào một “gia đình”. Các gia đình nhận con nuôi và các mái ấm thực hiện sứ mạng cao cả này; các mái ấm dù là Kitô giáo hay Phật giáo, hoặc thuộc bất cứ tôn giáo nào, hay cũng chẳng cần thuộc tôn giáo nào, điều quan trọng là tình người, là bầu khí đón nhận và yêu thương. Vì ở đâu có tình thương ở đó có Thiên Chúa.
Thực ra, Đức Giêsu dù được sinh ra cách lạ lùng, nhưng Ngài cũng đã chia sẻ thân phận của các em bé sinh ra trong bất hạnh, khi ngài được sinh ra trong hoàn cảnh thật éo le và ngay khi sinh ra đã bị người ta tìm bắt để loại trừ.
2. Thánh Gia và “Người Con Ơn Huệ”
Điểm thứ hai chúng ta cần chú ý trong ngày lễ hôm nay, đó là trong Thánh Gia, Hài Nhi Giêsu được đón nhận như một ơn huệ tuyệt đối đến từ Thiên Chúa. Cuộc sinh ra của Isaac (được kể lại trong bài đọc 1) và cuộc sinh ra của Gioan làm nổi bật cuộc sinh ra của Đức Giêsu như là ân huệ tuyệt đối đến từ Thiên Chúa. Chính vì thế, cha mẹ được mời gọi dâng lại cho Chúa, nghĩa là từ bỏ quyền làm chủ, chính đứa con mà mình sinh ra. Tổ Phụ Abraham được mời gọi hiến tế Isaac, ông Zacaria dâng con cho Chúa khi vừa mới lọt lòng: “Hài nhi hỡi con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao” (Lc 1, 76); và trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Luca nói:
Bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem
để dâng tiến cho Chúa.
(c. 22)
Đây là một sứ điệp vừa quan trọng và vừa sâu xa mà Thánh Gia ngỏ với tất cả các gia đình: những đứa con ruột thịt do chính mình sinh ra, nhưng bố mẹ và cả nhà, cả gia tộc được mời gọi đón nhận như một ơn huệ đến từ Thiên Chúa. Mọi đứa con vừa là con của bố mẹ, vừa là con của Thiên Chúa, vừa thuộc về Đại Gia Đình của chính Thiên Chúa. Mọi đứa con đều là ơn huệ của Thiên Chúa và được mời gọi nhận ra và sống ơn gọi đến từ Thiên Chúa. Và một cách nghịch lí, đó lại là cách duy nhất để bố mẹ giữ lại được con cái và cũng là cách duy nhất để con cái lớn lên và đạt tới cứu cánh, như Thư Do Thái kể lại về trường hợp của hai cha con Abraham và Isaac:
Rốt cuộc, ông đã nhận lại người con ấy như một biểu tượng.
(Dt 11, 19)
Người con giờ đây không còn là “vật sở hữu” của bố Abraham và mẹ Sara, nhưng là “biểu tượng” của lòng trung tín và quảng đại của Thiên Chúa.
3. Thánh Gia và mầu nhiệm Nước Trời
Cuối cùng, điểm thứ ba, khi chiêm ngắm Thánh Gia như là mẫu gương cho mọi gia đình, chúng ta không thể tránh được một khó khăn ngấm ngầm có ở trong lòng, bởi vì Thánh Gia không phải là một gia đình với vợ chồng con cái theo nghĩa máu mủ ruột thịt thông thường: mọi tương quan trong Thánh Gia đều có trục trặc theo nghĩa của một gia đình bình thường:
Trước hết, thánh Giuse đối với Đức Maria và Hài Nhi Giê-su: thánh Giuse mang tiếng là chồng là cha, nhưng như thất cả chúng ta đều biết, Ngài chẳng có “sơ múi gì”!
Thứ hai, Đức Mẹ sinh ra Hài Nhi Giê-su, nhưng không giống Mẹ sinh ra chúng ta; bởi vì Mẹ sinh con mà không cần lấy chồng!
Cuối cùng là Hài Nhi Giê-su, cũng không bình thường: Ngài được Đức Mẹ sinh ra, nhưng Ngài còn là Thiên Chúa, từ thủa đời đời.
Như vậy, nghĩa là làm sao? Làm sao mà chấp nhận được? Xét cho cùng Thánh Gia là một “mái ấm” hơn là một gia đình! Trong các tương quan nêu trên, tương quan của thánh Giuse với Đức Maria và với Đức Giêsu có khó khăn hiển nhiên nhất và toàn diện nhất. Do đó, chúng ta hãy dừng lại ở đây một lúc để suy niệm (hơn nữa, bởi vì nhiều người trong chúng ta nhận thánh Giuse là bổn mạng!). Hơn ai hết trong Thánh Gia, thánh Giuse đã vượt qua tương quan máu mủ huyết thống để đón nhận Maria và hài nhi Giêsu theo ý muốn của Thiên Chúa. Thế mà, tương quan thân thiết dựa trên việc vâng theo ý muốn của Thiên Chúa, chính là tương quan của Nước Trời.
Thánh Giuse đã không nghe đuợc câu nói này của Đức Giêsu « Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em, là mẹ tôi » (Mc 3, 35), nhưng ngài đã sống trọn vẹn điều này trước đó thật lâu. Có thể nói chắc chắn rằng, trước khi công bố lời này, Đức Giêsu đã kinh nghiệm được tương quan mới mẻ này nơi thánh Giuse. Như thế, sứ điệp mạnh mẽ nhất của Thánh Gia, chính là chúng ta được mời gọi xây dựng tương quan Nước Trời bằng cách vượt qua tương quan huyết thống, qua việc lắng nghe và sống Lời Chúa, ngay trong gia đình của mình.
***
Và nhất là với ơn gọi tu trì, người tu sĩ nam nữ không lập gia đình, nhưng các vị đã thực sự sống sứ điệp rất căn bản của Thánh Gia: đó là trở nên người thân của nhau, trở nên một mái ấm trên nền tảng lắng nghe và thực thi ý Chúa. Đó chính là sứ mạng mà Cộng Đoàn Thánh Gia được mời gọi đảm nhận, như Cha Bề Trên nói khi bước vào Thánh Lễ, với ơn Chúa và với sự cộng tác, nâng đỡ và lời cầu nguyện của tất cả chúng ta đang hiện hiện nơi đây cũng như đang hiệp thông với chúng ta, trong ngày lễ bổn mạng của Cộng Đoàn.
Chúng ta đang ở trong Năm Đời Sống Thánh Hiện, hiệp thông với toàn thể Giáo Hội, trong Thánh Lễ tôn kính Thánh Gia hôm nay, chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho các tu sĩ nam nữ và cho ơn gọi dâng hiến, như lời Đức Thánh Cha mời gọi.
(Trích trong “Như Thầy Đã Yêu” – Thiên Phúc)
Hoàng đế của một vương quốc hung vường vag thịnh vượng, một ngày kia đã triệu tập các nghệ nhân từ khắp các nước đến dự một cuộc tranh tài. Cuộc thi mô tả dung mạo hoàng đế.
Các nghệ nhân Ấn Độ đến với đầy đủ dụng cụ và các loại đá hoa cương quí hiếm. Các nghệ nhân Acmêni mang theo một loại đất sét đặc biệt. Các nghệ nhân Ai Cập mang đủ loại đồ nghề và khối cẩm thạch hảo hạng.
Sau cùng, người ta hết sức ngạc nhiên vì phái đoàn nghệ nhân Hy Lạp chỉ mang đến vỏn vẹn một gói thuốc đánh bóng.
Mỗi phái đoàn thi thố tài năng của mình trong một phòng riêng. Khi thời gian ấn định đã hết, hoàng đế đến từng gian phòng để thưởng thức các tác phẩm. Vua hết lời khen ngợi bức chân dung của mình do các họa sĩ Ấn độ vẽ. Ông càng than phục hơn khi nhìn ngắm các pho tượng của chính ông mà các người Ai Cập và Acmêni điêu khắc.
Sau cùng, đến phòng trưng bày của người Hy Lạp, hoàng đế không nhìn thấy gì cả, duy chỉ có bức tường của căn phòng được đánh bóng đến độ khi nhìn vào ông thất chân dung mình hiện ra từng nét.
Dĩ nhiên, giải nhất thuộc về các nghệ nhân Hy Lạp. Bởi vì đã hiểu rằng chỉ có hoàng đế mới họa được dung mạo của chính mình.
Muốn họa lại dung mạo Đức Kitô, chúng ta cần phải đánh bóng long mình cho sạch mọi vết nhơ, mọi tì ố của tâm hồn. Một khi đã nên sáng bóng như gương, chúng ta sẽ tiếp nhận được khuôn mặt rạng ngời của Chúa.
Khi Đức Maria và Thánh Giuse dâng Chúa Hài Nhi trong đền thánh, có biết bao tư tế và luật sĩ thông thái, giỏi giang, am tường Kinh Thánh, và hiểu rõ các lời tiên tri loan báo về Đấng Cứu Thế, nhưng họ đã không nhận ra Chúa. Duy chỉ có ông Simeon, và bà Anna đã nhận ra được dung mạo của Người.
Simeon và Anna đã dâng hiến trọn vẹn con người và cuộc đời, đã mài bóng đời mình bằng đạo hạnh và khiêm tốn, đã tôn thờ Chúa trong tin yêu và phó thác. Vì thế, dung mạo của Đấng Cứu Thế đã tỏ hiện sáng ngời trước mặt các ngài.
Simeon và Anna đã đón nhận Đấng Cứu Thế như những người nghèo hèn bé nhỏ. Các ngài đã được bồng ẵm Chúa, được thay mặt cho cả nhân loại nói lời đầu tiên tôn vinh Chúa đến cứu độ con người.
Lễ Thánh Gia mời gọi chúng ta nhìn vào các gia đình. Truyền thống gia đình ngày càng sút giảm. Ly thân, ly dị, trẻ em lang thang, thanh niên nổi loạn, phá thai, mại dâm, ma túy ngày càng gia tăng. Gia đình là nền tảng của xã hội. Nếu không có những gia đình lành mạnh thì không thể có một xã hội tốt đẹp. Cuộc sống của gia đình phải tỏa hương thơm của thiên đàng.
Hơn bao giờ hết, các gia đình chúng ta phải nhìn lên Thánh gia thất: một gia đình lý tưởng, đạ đức bình thường và chăm lo cho nhau. Thánh Luca đã ghi lại hình ảnh rất đẹp của Thánh gia như sau: “Đức Giêsu đi xuống cùng với ch amẹ, trở về Nadaret và hằng vân phục các ngài. Riêng mẹ Người hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong long. Còn Đức Giêsu ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến” (Lc 2, 51-52).
Xã hội chúng ta không thiếu các mẫu gương đạo hạnh: Louis Pasteur, nhà bác học thời danh, đã tâm sự khi đặt tấm bia kỷ niệm tại gia đình ông: “Kính thưa cha mẹ thân yêu của con đã khuất bóng,các ngài đã khiêm tốn sống trong nếp nhà bé nhỏ này. Con mắc nợ công ơn cha mẹ về hết mọi điều…”.
Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp cũng tâm sự: “Những lời khuyên nhủ dịu dàng của mẹ tôi, gương đạo đức, lòng nhiệt thành hâm nóng linh hồn nguội lạnh của tôi,khuyến khích nâng đỡ tăng sức mạnh cho tôi. Chính nhờ giáo huấn của người mà tôi có đức tin”.
Có lẽ thế giới biết nhiều đến Thủ Tướng Thái Lan, nhưng ít ai biết được cậu Chuam Leekpai còn là một người con giàu cảm xúc, hiếu thảo, và luôn nghĩ đến bậc sinh thành. Ông nói với mẹ: “Giờ đây, con đã là một chính trị gia và con không còn thời gian về thăm mẹ thường xuyên nữa. Điều này làm con cứ áy náy mãi. Tuổi mẹ càng cao thì nỗi lo của con càng nhiều. Do đó con cố gắng tìm mọi cơ hội về thăm mẹ”.
Đức Piô XI trong thông điệp về Giáo dục Kitô giáo có viết: “Nền giáo dụchữu hiệunhất và bền bỉnhất là nền giáo dục được nhận lãnh từ một gia đình Kitô giáo có qui củ và khuôn phép. Những gương lành của cha mẹ và của những người trong gia đình càng chiếu tỏa và bền bỉ, thì kết quả của giáo dục càng lớn lao”.
Lạy Đức Giêsu, xin dạy chúng con biết theo gương Chúa, luôn sống trung hiếu với Cha trên trời, thảo kính với ông bà cha mẹ, và sống hết tình với anh chị em chung quanh.
Xin cho chúng con luôn biết đánh bóng đời mình, bằng tấm long khiêm tốn và đạo hạnh, bằng việc tôn thờ Chúa trong tin yêu và phó thác, để dung mạo của Chúa ngày càng tỏ hiện sáng ngời trong cuộc đời chúng con. Amen.
(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)
NHÌN NGẮM GIA ĐÌNH CHÚA GIÊSU
Bài Tin Mừng hôm nay mời chúng ta nhìn ngắm một gia đình rất đặc biệt với ba nhân vật độc đáo: Mẹ Maria, Thánh Giuse và Chúa Giê-su.
Trước hết, chúng ta hãy nhìn ngắm hài nhi Giê-su.
Đây là nhân vật bé nhỏ nhất trong gia đình nầy và cũng là nhân vật quan trọng nhất. Ngài là một huyền nhiệm vượt quá trí tưởng tượng của loài người.
Có ai ngờ một Đấng tạo dựng nên muôn loài muôn vật trong vũ trụ vô biên nầy lại chấp nhận hóa thành một bào thai nhỏ bé nằm trong lòng mẹ suốt chín tháng mười ngày và được sinh ra bởi một người mẹ trần gian là một thiếu nữ miền quê không được mấy người biết đến.
Có ai ngờ một Đấng vô cùng giàu sang, là chủ nhân của tất cả mọi kho báu trên toàn thế giới và trong cả vũ trụ càn khôn, giờ đây lại trở thành một trẻ thơ nghèo hèn, không có một mái nhà, không giường chiếu và không cả một chiếc nôi cỏn con… đến nỗi phải nằm run rẩy trong máng súc vật lót rơm, giữa một chuồng bò tứ bề trống trải chơ vơ giữa không gian vắng lặng.
Có ai ngờ Đấng nuôi dưỡng chim trời cá nước, ban phát lương thực cho tất cả người thế hưởng dùng lại cậy nhờ đến từng giọt sữa của người mẹ trần gian để được tăng trọng và lớn lên thành người.
Có ai ngờ một Đấng vốn là Thiên Chúa Ngôi Hai đồng quyền năng phép tắc như Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, có sức mạnh lay chuyển cả vũ trụ càn khôn, có quyền năng dập tắt bão tố… lại trở thành một trẻ thơ nhỏ nhoi, yếu đuối, thân mình bầm tím vì giá lạnh đêm đông, phải cậy nhờ đến sự ấp ủ của người mẹ trần gian để sống, phải cậy trông vào sự che chở của người cha nuôi vốn là một anh thợ nghèo miền quê, mới có thể lánh thoát lưỡi gươm oan nghiệt của bạo chúa Hê-rô-đê.
Ngoài ra, khi có một vị vua, một tổng thống hay thủ tướng một đất nước nào đó trong vai khách mời đến thăm chính thức quốc gia sở tại, thì những vị vua hay những nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Chính Phủ sẽ trải thảm đỏ và ra tận sân bay để tiếp đón cách trọng thị, thì tại Bê-lem năm xưa, khi Chúa Tể trời đất đặt chân đến viếng thăm địa cầu và thăm viếng nhân loại, thì chỉ có những người chăn chiên nghèo khổ đến tiếp đón Ngài mà thôi.
Tiếp theo, chúng ta hãy nhìn ngắm nhân vật thứ hai trong gia đình nầy là Mẹ Maria.
Khi một người mẹ chuyển dạ sinh con, tối thiểu phải liệu cho bà một căn phòng kín đáo, thế mà khi chuyển dạ, Mẹ Maria chẳng tìm đâu được một căn buồng, mà phải nương thân nơi chuồng súc vật trống trải giữa cánh đồng hoang vu.
Nếu cùng cực lắm, không kiếm cho sản phụ một căn phòng kín đáo, ít nhất phải kiếm cho bà một chiếc giường, một tấm nệm hay tấm chiếu cho bà sinh con; đằng nầy, khi sinh con, Mẹ Maria không có giường êm, không nệm ấm, không được cả một manh chiếu đơn sơ, mà phải hạ sinh con ngay trên lớp rơm mỏng giữa chuồng bò!
Bao giờ sản phụ sinh con cũng có cô đỡ bên cạnh, để giúp sản phụ vượt cạn đầy khó khăn và cứu giúp bà thoát khỏi những nguy hiểm khó lường; đằng nầy, khi Mẹ Maria sinh con, chỉ có người bạn đời là thánh Giuse bên cạnh, mà người đàn ông thì chẳng biết phải xoay xở thế nào trong những trường hợp khó khăn như thế.
Còn nhân vật thứ ba là thánh Giuse.
Chắc chắn vào lúc bấy giờ, tâm hồn ngài đầy lo âu, buồn phiền và bối rối.
Lo âu vì thấy người bạn đời đang lúc chuyển dạ sinh con lại phải miệt mài gõ hết cửa nầy đến cửa khác ở các quán trọ ở Bê-lêm, mà không được một ai thương xót đoái hoài, nhường cho một chỗ trọ qua đêm.
Lo âu buồn phiền vì cuối cùng, đành phải đưa Mẹ Maria ra ngoài đồng vắng, dắt người bạn đời sắp vượt cạn vào một chuồng súc vật bẩn thỉu tanh hôi! Ngài cố tìm một tấm ván hay một vật gì đó tạm thay giường nằm cho Mẹ Maria cũng không có, thôi thì quơ đại ít rơm rạ vương vãi chung quanh để lót thành một ổ rơm nho nhỏ cho sản phụ có chỗ nằm.
Càng bối rối hơn khi đến giờ phút Mẹ Maria sinh con. Tìm đâu ra một cô đỡ trong nơi hoang vắng nầy! Biết làm thế nào trợ giúp một sản phụ đang sinh con! Mền không, chiếu cũng không. Thôi thì lót tạm ít rơm vào trong máng súc vật cho Hài Nhi mới sinh có một chỗ nằm thay nôi.
Ôi thôi! Càng ngắm, càng suy, càng thấy gia đình nầy thật là bi đát, cùng cực. Không ai trong chúng ta bị lâm vào hoàn cảnh đáng thương như thế.
***
Vì yêu thương nhân loại lỗi lầm, Ngôi Hai Thiên Chúa đã từ bỏ ngai trời xuống thế, chấp nhận sinh ra trong cảnh nghèo hèn cùng cực, hạ mình xuống tận đáy cuộc đời để chia sẻ cảnh lầm than khốn khổ của kiếp người. Qua sự việc nầy, Chúa muốn nói với chúng ta rằng: Hỡi những ai nghèo thiếu cùng cực trên thế gian, hãy vững lòng, hãy đứng vững và đừng tuyệt vọng vì có Ta đến chia sẻ sự túng cực của các con, cùng đồng hành với các con qua mọi gian lao của cuộc sống.
Và hỡi những gia đình đang lâm cơn quẫn bách nghèo túng, đừng lo âu sợ hãi, đừng xấu hổ vì gia cảnh nghèo túng của mình, vì gia đình của Ta hôm xưa còn lâm cảnh nghèo hèn khốn khổ hơn gia đình các con. Ta luôn ở cùng các con để che chở bảo vệ các con cho đến mãn đời.
16.Gia đình Kitô hữu cũng là thánh gia
(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)
Vào ngày thành hôn của anh chị Trung và Hiếu, một người bạn của đôi vợ chồng nầy tặng cho đôi tân hôn bức tranh thánh gia thất Nadarét. Cuối bức ảnh có ghi dòng chữ: “Mến tặng thánh gia Trung-Hiếu. Cầu chúc thánh gia của Anh Chị nên giống thánh gia thất của Chúa Giêsu”.
Sau khi bức tranh nầy được treo lên tường, có người lên tiếng phê bình:
Tại sao lại viết là “thánh gia Trung-Hiếu”? Chỉ có một thánh gia thất duy nhất là thánh gia của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh cả Giuse, chứ làm gì có cái gọi là “thánh gia Trung-Hiếu”. Viết như thế chẳng phải là làm giảm giá trị của thánh gia Nadarét sao?
Thế là từ lúc đó, nổ ra một cuộc tranh luận giữa hai nhóm có ý kiến đối lập ngay giữa tiệc cưới. Cuộc tranh luận rất sôi nổi và khá ồn ào vì hai phe đều tìm đủ mọi lý lẽ để biện minh cho quan điểm của mình. Để tiết kiệm thời gian, tôi xin gom lại những lý lẽ chính của đôi bên.
Nhóm bài bác cho rằng gia đình kitô hữu không thể gọi là thánh gia vì:
Thứ nhất, gọi như vậy là làm giảm giá trị của thánh gia thất Chúa Giêsu. Xưa nay, Giáo Hội chỉ dùng hai từ thánh gia để chỉ thánh gia Nadarét của Chúa Giêsu mà thôi.
Thứ hai, không ai chối cãi Chúa Giêsu, Mẹ Maria, thánh cả Giuse thật sự là ba đấng thánh. Gia đình nầy gồm có ba đấng thánh nên mới được gọi là thánh gia. Còn gia đình các kitô hữu gồm những người phàm, làm sao gọi là thánh gia được?
Nhóm ủng hộ bảo rằng: Gia đình các kitô hữu cũng là thánh gia vì các lý do sau đây:
Thứ nhất, bất cứ ai đã lãnh nhận bí tích thánh tẩy đều đã được thánh hiến, được trở nên thánh. Họ là thánh vì bí tích thánh tẩy làm cho họ trở nên chi thể của Đấng rất thánh là Chúa Giêsu. Thánh Phao-lô ngày xưa chẳng gọi các kitô hữu tại Cô-rinh-tô, Rô-ma, Ga-lát… là thánh đó sao?
Thứ hai, Chúa Giêsu đã lập bí tích hôn phối để thánh hiến đời sống gia đình, nâng gia đình kitô hữu lên một tầm cao mới.
Thứ ba, Công Đồng Vatican II gọi gia đình là Hội Thánh thu nhỏ (Hội Thánh tại gia) (xem LG 11, giáo lý công giáo 1656) và Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II cũng thường gọi gia đình là Hội Thánh tại gia. Gọi như thế có khác gì gọi gia đình kitô hữu là thánh gia?
Thứ tư, theo giáo lý công giáo số 1657, gia đình “là nơi thể hiện đặc biệt chức tư tế cộng đồng của người cha, người mẹ, con cái và mọi phần tử trong gia đình”, “là cộng đồng ân sủng và cầu nguyện, là trường học phát triển các đức tính tự nhiên và đức mến Kitô giáo” (Glcg số 1666)
Ngoài ra, xét theo khía cạnh mục vụ, một khi các kitô hữu ý thức rằng gia đình mình đúng thật là thánh gia, họ sẽ cố công xây dựng gia đình sao cho xứng đáng với danh hiệu đó. Thế là những tệ nạn thường xảy ra trong đời sống gia đình có nhiều cơ may được xoá bỏ và những phẩm chất xứng hợp với một thánh gia sẽ được phát huy.
* * *
Khi xây dựng một ngôi nhà, chúng ta cần một bản thiết kế thật hoàn chỉnh hay ít ra cần dựa vào một ngôi nhà đẹp mà chúng ta ưa thích để dựa theo đó mà xây ngôi nhà của mình.
Hôm nay, nhân lễ kính thánh gia thất của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh cả Giuse, Thiên Chúa muốn chúng ta nhìn ngắm lại một kiệt tác gia thất của Người, do chính Người xây dựng với sự hợp tác của thánh Giuse và Mẹ Maria và mời gọi chúng ta hãy xây dựng gia đình mình theo mô hình lý tưởng đó.
Xây dựng gia đình mình theo mô hình thánh gia Nadarét là mọi người trong gia đình phải cư xử với nhau như ba Đấng trong thánh gia nầy. Cụ thể là người chồng phải yêu thương và phục vụ vợ con như thánh Giuse đã yêu mến và phục vụ Mẹ Maria; người vợ phải yêu thương và săn sóc chồng như Mẹ Maria đã yêu mến và phục vụ thánh Giuse; cha mẹ phải yêu mến và chăm lo cho con cái như thánh Giuse và Mẹ Maria chăm lo phục vụ Chúa Giêsu; con cái trong gia đình phải hiếu kính mẹ cha, biết thờ cha kính mẹ, phụng dưỡng cha mẹ như Chúa Giêsu đã làm đối với Đức Mẹ và thánh Giuse.
Có như thế, gia đình tín hữu mới xứng đáng với danh hiệu là thánh gia, xứng đáng với hồng ân đã nhận ngày lãnh bí tích hôn phối, làm cho gia đình trở nên tổ ấm yêu thương hạnh phúc và thánh thiện.
Ngày 21.8.2007, không những người dân nước Pháp, mà cả thế giới xúc động trước sự ra đi của một người phụ nữ ở tuổi 33, có tên là Caroline Aigle. Caroline được miêu tả rất xinh đẹp: một phũ nữ tóc vàng, mắt xanh, tràn đầy sức sống. Đặc biệt, cô là người đầu tiên lái lái máy bay tiêm kích của không quân Pháp, và đạt rất nhiều những thành tích khác nữa. Điều đã làm cho Caroline đi vào huyền thoại không chỉ là tài năng, sắc đẹp của cô, mà là việc cô sẵn sàng hy sinh sự sống để cho đứa con trong bụng của cô mới được 5,5 tháng tuổi có cơ hội sống sót.
Carôline rất hạnh phúc khi biết mình được mang thai đứa con thứ 2. Nhưng rồi ít lâu sau, các bác sĩ phải nói sự thật cho cô biết là cô đã bị ung thư với một khối u ác tính. Các Bác sĩ cho biết, có thể chữa được căn bệnh nguy hiểm đó, nhưng phải điều trị theo liệu pháp “sốc”, và chắc chắn đứa con trong bụng không thể chịu nổi, phải hy sinh cháu bé. Các bác sĩ hỏi cô có bằng lòng không? Carôline đã có một quyết định rất anh hùng: không. Cuối cùng thì chuyện gì đến đã đến. Khi không còn chịu đựng nổi với cơn đau được nữa, các bác sĩ đã phải mổ lấy thai nhi ra lúc cháu bé chỉ được 5,5 tháng tuổi. Carôline đã sống được với con là Gabriel được 18 ngày; và cô đã từ giã cõi đời này trước sự thương tiếc và sự kính phục cả biết bao con người trên thế giới.
Gabriel đã bước vào cuộc đời này với những tiếng khóc thật non nớt của một chú bé chưa đủ tháng ngày để chào đời như bao nhiêu những đứa trẻ khác, rồi phải sống trong sự cô đơn vì thiếu vắng bàn tay của người mẹ dù có rất nhiều những bàn tay nhân ái khác đang giang rộng để giúp đỡ cho em. Nhưng chắc chắn, đối với Gabriel, sự mất mát tinh thần là khó có gì có thể bù đắp nổi.
Hôm nay, toàn thể Giáo hội Công giáo mừng lễ Thánh gia Chúa Giêsu, Đức Maria và Thánh Giuse, một cơ hội rất tốt để chúng ta suy niệm về tình thương và sự hy sinh cho nhau trong đời sống hôn nhân gia đình. Chúa Giêsu ra đời làm người và Ngài đã chấp nhận tất cả những gì trong kiếp sống của một con người. Ngài chịu sinh ra trong hoàn cảnh cùng khốn nhất trong số những con người cùng khốn để có thể yêu thương hết mọi người, đặc biệt là những người nghèo khổ khốn khó.
Có điểm nào giống nhau giữa trẻ Giêsu và trẻ Gabriel không? Điểm giống nhau rõ nét nhất là 2 trẻ này đều có một người mẹ tuyệt vời, sẵn sàng hy sinh tất cả những gì có thể để cho con mình có cơ hội được sống. Nếu như trẻ Gabriel thiếu vắng tình mẫu tử để chăm sóc em trong những ngày đầu đời non nớt, thì trẻ Giêsu thiếu sự đón tiếp của con người, thiếu sự an toàn cho sự sống của Ngài.
Nhưng xét ra thì trẻ Gabriel còn hạnh phúc hơn trẻ Giêsu nhiều lần. Nếu trẻ Gabriel được mọi người giang rộng bàn tay tiếp đón, thì trẻ Giêsu đang bị vua Hêrôđê tìm giết vì nghĩ rằng Ngài đang đe doạ vương quyền của ông. Nếu trẻ Gabriel được mọi người hướng về và săn sóc em với những phương tiện tốt nhất nếu có thể trong một quốc gia, thì trẻ Giêsu chỉ có chiên bò sưởi ấm, chỉ có những mục tử giữ chiên nghèo khổ đến chúc mừng… Vua trời đất sinh ra trong cảnh khốn cùng nhất của kiếp người. Quả là “Thiên Chúa từ trời bước xuống dương gian để con người dương gian được bước lên trời”. Và Ngài trở thành con đường, thành ánh sáng soi dẫn mọi người về thiên quốc.
1. Nền tảng của đời sống Thánh gia:
Gia đình thánh gia nếu nhìn theo phương diện con người thì quả là mong manh, thiếu thốn, nghèo khổ… mọi bề. Nhưng Thánh gia lại trở thành mẫu gương cho tất cả mọi gia đình dõi theo. Nền tảng chính yếu của Thánh gia là tình yêu và sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Thánh gia đã dựa trên 2 nền tảng căn bản ấy để làm nên mọi sự, và thực tế đã trở thành một mô hình tuyệt hảo cho mọi gia đình bước theo. Ước gì mọi gia đình công giáo hãy noi gương thánh gia của Chúa Giêsu, Đức Maria và thánh Giuse để xây dựng gia đình mình để có thể có một gia đình mẫu mực, hạnh phúc và thánh thiện.
2. Gương mẫu của đời sống Thánh gia:
Gương mẫu của đời sống thánh gia chính là sự hy sinh cho nhau và thực thi thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh.
Thánh Giuse đã chu toàn trách nhiệm của một người trưởng trong gia đình, sẵn sàng gánh lấy mọi công việc nặng nề nhất cách vui lòng và mau mắn. Ngài quả thực là mẫu mực của những người chồng trong gia đình, và là mẫu mực của những con người thích làm hơn nói. Khi nói đến thánh Giuse, ta nhớ ngay đến câu nói của thánh Phalô: “Anh em hãy làm mọi việc mà đừng kêu ca hay phản kháng. Như thế, anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì, và sẽ trở nên những người con vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà, sa đoạ. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2, 14-15) Thánh Giuse quả thực đã trở thành kiểu mẫu cho những con người vẹn toàn của Thiên Chúa trong phương diện này.
Đức Maria là người mẹ gương mẫu, hết lòng yêu thương và chăm sóc cho gia đình hết sức có thể. Nết đặc biệt nhất của Đức Maria chính là sự khiêm tốn nơi con người của Mẹ. Trước những biến cố xảy ra mà ngài chưa hiểu thấu, thì ngài ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng, chứ không bực bội hay kêu trách với ai, nhất là không hề kêu trách đối với Thiên Chúa. Mẹ đã theo bước Đức Giêsu cho đến cùng trong suốt cuộc hành trình dương thế của Đức Giêsu, cho đến khi Ngài trút hơi thở cuối cùng trên Thánh giá và mẹ đã giang tay ẩm lấy xác con trong đau đớn tột cùng.
Đặc biệt hơn cả là tấm gương của Đức Giêsu, Ngài dù là Con Thiên Chúa, nhưng đã trở nên con của loài người và hoàn toàn vâng phục Đức Maria và Thánh Giuse trong tư cách là người con trong gia đình để nêu gương cho mọi người trong tư cách làm con. Ngài đã chu toàn trách nhiệm không những là người con đối với Đức Maria và thánh Giuse mà còn là trong tư cách người Con của Cha trên trời. Ngài đã tự nguyện chấp nhận sự tự huỷ để hoàn thành chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha cho con người.
Mừng lễ Thánh gia hôm nay, mỗi người chúng ta hãy tự kiểm điểm lại đời sống của mình trong cương vị mà mình đang có: làm cha, làm mẹ và làm con cái trong gia đình của mình. Hãy chu toàn trách nhiệm trong sự hiền hoà, khiêm tốn và hy sinh cho nhau. Mỗi người hãy vì mọi người để gia đình thật sự trở thành tổ ấm cho mọi người và cho cả Chúa Giêsu vào ngụ ở đó. Chu toàn trách nhiệm là nên thánh!
1. GIA ĐÌNH LÀ HÌNH ẢNH CỦA BA NGÔI THIÊN CHÚA
Nếu con người là hình ảnh của Thiên Chúa, thì có thể nói rằng gia đình là hình ảnh của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa sống đơn độc, mà là một Thiên Chúa mang tính gia đình, trong đó Ba Ngôi khác biệt nhau nhưng yêu thương nhau, sống chung, làm việc chung, và kết hợp với nhau thắm thiết như trong một gia đình, tới mức độ tuy là Ba Ngôi nhưng chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Nếu Thiên Chúa là tình yêu, thì “Tập Thể Ba Ngôi” là một môi trường để Ba Ngôi Thiên Chúa thể hiện tình yêu của mình với nhau. Vì Ba Ngôi yêu thương nhau vô cùng, nên sự hiệp nhất của Ba Ngôi đạt được mức độ tối đa là trở thành một Thiên Chúa duy nhất. Tình yêu và sự hiệp nhất ấy tạo nên thiên đàng hay hạnh phúc của Ba Ngôi.
Cũng vậy, nếu gia đình là hình ảnh của Ba Ngôi, thì mọi thành viên trong đó phải yêu thương nhau, hòa hợp với nhau đến mức hiệp nhất với nhau. Nhờ đó gia đình trở thành một thiên đàng tại thế. Như vậy, mọi thành viên của gia đình đã được hưởng nếm trước phần nào hạnh phúc của thiên đàng mai sau. Hạnh phúc trong những gia đình yêu thương nhau – được biểu lộ và hình thành cụ thể bằng việc quan tâm, lo lắng và hy sinh cho nhau – chính là hình ảnh trung thực của thiên đàng vĩnh cửu. Trái lại, nếu các thành viên trong gia đình không yêu thương nhau, không sẵn sàng hy sinh cho nhau, thì họ sẽ biến gia đình thành hỏa ngục tại thế, là hình ảnh của hỏa ngục vĩnh cửu. Trong 8 cái khổ mà Đức Phật kể ra, có cái khổ gọi là “oán tắng hội khổ”, nghĩa là khổ vì không ưa nhau, ghét nhau mà lại phải sống chung với nhau.
2. TÍNH ÍCH KỶ, NGUỒN GỐC BẤT HẠNH CỦA MỌI GIA ĐÌNH
Nhìn vào bất cứ một gia đình bất hạnh nào – nghĩa là một gia đình không hạnh phúc – ta luôn luôn thấy bóng dáng tính ích kỷ của một thành viên nào đó trong gia đình. Chính tính ích kỷ của thành viên này là nguồn gây nên đau khổ trong gia đình. Nếu thành viên ích kỷ ấy là người cha hay người mẹ, thì đau khổ trong nhà sẽ hết sức lớn lao. Gia đình nào càng có nhiều người ích kỷ, gia đình ấy càng bất hạnh. Gia đình mà càng có nhiều người sống vị tha, biết hy sinh cho người khác, gia đình ấy càng ít bất hạnh. Một gia đình mà mọi thành viên đều vị tha, đều quan tâm, chăm sóc và hy sinh cho nhau, đều sẵn sàng thông cảm và tha thứ cho nhau, gia đình ấy chắc chắn hạnh phúc.
Câu chuyện minh họa về thiên đàng và hỏa ngục sau đây thật phù hợp với thiên đàng và hỏa ngục của gia đình. Cả thiên đàng và hỏa ngục đều dùng bữa với những thức ăn y như nhau, trong khung cảnh giống y hệt nhau, trong đó mỗi người đều phải dùng một đôi đũa dài cả thước để ăn. Thiên đàng và hỏa ngục chỉ khác nhau ở chỗ này: trên thiên đàng, mọi người không ai tự gắp thức ăn cho mình, mà gắp cho người khác ăn, vì thế, ai cũng được ăn no. Còn trong hỏa ngục, mọi người chỉ biết nghĩ đến mình, chỉ biết gắp thức ăn cho mình, nhưng vì đũa quá dài, chẳng ai gắp cho mình được gì cả, thế rồi chẳng ai được no, hết giờ ăn mà đói vẫn hoàn đói, từ đó họ trở nên căm thù nhau.
Cũng vậy, trong gia đình, không ai tự tạo hạnh phúc cho mình được mà không cần đến người khác, nên nếu ai cũng chỉ biết lo cho hạnh phúc của mình, thì chẳng ai hạnh phúc cả, và rồi sẽ phát sinh đủ thứ đau khổ. Tuy nhiên trong gia đình, người ta có thể tạo hạnh phúc cho người khác, vì thế, nếu mọi người trong nhà đều biết lo cho nhau, tạo hạnh phúc cho nhau, thì ai nấy đều hạnh phúc.
Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là tình thương, nên bản chất của con người cũng là tình thương. Vì thế, chỉ khi con người sống phù hợp với bản tính của mình là yêu thương, và thể hiện cụ thể tình yêu thương ấy với những người chung quanh, thì con người mới hạnh phúc. Nếu con người sống ích kỷ, tức ngược lại bản chất yêu thương của mình, con người sẽ đau khổ và làm cho những người chung quanh đau khổ.
3. LÀM SAO ĐỂ CÓ TÌNH YÊU THƯƠNG?
Nhưng làm sao người ta có thể yêu thương nếu không có một động lực, một nguồn yêu thương ngay từ trong lòng mình phát xuất ra? Làm sao có được nguồn yêu thương ấy? – Vì “tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa” (1 Ga 4, 7), nên chính “Thiên Chúa là nguồn yêu thương” (2 Cr 13, 11). Vì thế, muốn yêu thương, muốn loại trừ tính vị kỷ, con người phải kết hợp làm một với Thiên Chúa, nguồn tình thương. Kết hợp với Thiên Chúa là luôn luôn ý thức rằng mình “là hình ảnh của Thiên Chúa” (St 1, 27; 9, 6; Ep 4, 24), được tạo dựng giống như Thiên Chúa (x. St 1, 26; 5, 1), và “được thông phần bản tính của Thiên Chúa” (2 Pr 1, 4), một Thiên Chúa mà bản chất là yêu thương (x.1 Ga 4, 8.16).
Nếu bản chất của Thiên Chúa là yêu thương, mà ta giống Ngài, là hình ảnh của Ngài, được thông phần bản tính Ngài, tất nhiên bản chất của ta cũng là yêu thương. Ta không yêu thương hay không yêu thương đủ, là ta sống không đúng với bản chất của ta. Nhờ thường xuyên ý thức như thế, tình yêu và sức mạnh của tình yêu ngày càng lớn mạnh trong ta, khiến ta ngày càng yêu thương mọi người cách dễ dàng, và sẵn sàng làm tất cả để mọi người được hạnh phúc. Sống đúng với bản chất của mình là yêu thương, là hình ảnh Thiên Chúa, chính là sống thánh thiện.
19.Con cái là triều thiên của cha mẹ.
(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Ngọc Khuê)
Kính thưa quý anh chị em,
Triều thiên là dấu chỉ của vinh dự và quyền lực. Tất cả đều ước mong được đội triều thiên. Khẳng định con cái là triều thiên của cha mẹ, có nghĩa là: các cặp vợ chồng đều mong ước có con.
Sinh con đáp ứng nhiều khát vọng, vừa thuộc bản năng, vừa mang đặc tính xã hội.
Nói thuộc bản năng, vì, nhờ con cái, cha mẹ kéo dài sự sống trong thời gian, từ thế hệ này sang thế hệ kia.
Nói rằng, mang chiều kích xã hội, vì, con cái sẽ phụng dưỡng cha mẹ trong lúc tuổi già: “Trẻ cậy cha, già cậy con” (ca dao).
Gia đình nhân loại cũng một niềm khát khao Đấng muôn dân mong đợi, Giê-su/Messia, Danh Ngài chính là Thiên Chúa cứu độ.
Bài đọc I, trích sách Đức Huấn Ca, đề cao chữ hiếu đối với cha mẹ, tổ tiên. Những hành động hiếu thảo đứa con phải làm là lệnh truyền của Thiên Chúa. Khi người con sống hiếu thảo với cha mẹ, nó làm đẹp lòng Chúa, hành động đáng được chúc lành và được thưởng công: “Ai yêu mến cha mình, thì đền bù tội lỗi, ai thảo kính mẹ mình thì như người thu được kho tàng và khi cầu nguyện sẽ được nhận lời” (Hc 3, 3).
Mô hình của sự hiếu thảo là Chúa Giê-su. Trong tư cách là “con” trong gia đình Thánh Gia, Giê-su luôn tỏ ra là người con ngoan. Phúc Âm ghi nhận: Ngài trở về Nazareth vâng phục hai ông bà và quyết tâm ép mình học cho được vâng phục theo ý Chúa muốn.
Câu chuyện dâng Chúa trong đền thờ mạc khải nhiều yếu tố tích cực của lịch sử cứu độ:
* Một là: Thiên Chúa làm người là chân lý đức tin, là có thật. Giê-su Kitô, Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, đến để hòa giải để ban ơn cứu độ. Đức Giê-su là con người thật: có một mái ấm gia đình, một nơi chốn cư ngụ, một luật lệ để tuân thủ…
* Hai là: Giê-su là triều thiên của gia đình Nazareth, gia đình nhân loại.
Tất cả vui mừng hân hoan việc Người sinh ra. Cụ già Simêon bộc lộ niềm vui được gặp Hài Nhi trong đền thờ. Cụ được lời Chúa hứa: sẽ không chết trước khi thấy Đấng Kitô của Thiên Chúa. Lời hứa cho Si-mê-on, cũng là lời hứa cho toàn dân: “hôm nay Đấng cứu thế đã giáng sinh cho chúng ta, Người là Đức Kitô, Chúa chúng ta” (Lc 2, 11). Như vậy, niềm vui của cụ, cũng là niềm vui của chúng ta và lời tạ ơn kia cũng là của mỗi người.
Như cụ Si-mê-on, chúng ta bồng Hài Nhi trên chính cánh tay mừng mà dâng lời chúc tụng: “Giờ đây, lạy Chúa, xin để cho tôi tớ Chúa ra đi bình an, như lời đã hứa, vì chính mắt tôi đã được nhìn xem ơn cứu độ, Chúa đã dành sẵn cho muôn dân. Ánh sáng soi đường cho dân ngoại và là vinh quang của Israel dân Chúa” (Lc , 29 – 32).
Giáo Hội dạy chúng ta mừng lễ thánh gia là để nêu gương về sự thánh thiện của gia đình đặc biệt: Giê-su, Đức Mẹ và thánh Giuse. Gia đình thánh hệ tại ở tình liên đới hiệp thông, biết hy sinh cho nhau.
Thưa anh chị em,
Tình liên đới hiệp thông là nền tảng sự thánh thiện và ơn cứu độ. Nó không ban tặng cách ngẫu nhiên, cũng không thể kiến tạo nó bằng lý thuyết suông, nhưng bằng sự cố gắng bồi đắp liên lỉ, trên căn bản của sự lắng nghe, vâng phục thánh ý Chúa và quan tâm săn sóc nhau.
Phúc Âm ghi nhận: cha mẹ hài nhi Giê-su chu toàn mọi lề luật Chúa truyền, đủ ngày thanh tẩy theo luật Mô-se, các ngài đem con lên Jerusalem để hiến dâng cho Chúa và khi làm trọn mọi việc luật truyền, các ngài trở về Nazareth, Giê-su ở đó giãi dầu học vâng phục.
Thánh Phao-lô, trong bài đọc II, dạy cách sống tình liên đới hiệp thông là luôn ý thức mình là người được tuyển chọn của Chúa, nên hãy mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hòa, nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ cho nhau. Hãy lấy đức yêu thương làm nên tảng cho mọi lời nói, cử chỉ, việc làm. Đặc biệt phải lấy tình yêu thương mà sẵn sàng tha thứ cho nhau. Tuân thủ những lời khuyên tông đồ, chúng ta mới có thể kiến tạo một gia đình ấm êm hạnh phúc.
Mừng lễ Thánh Gia hôm nay, chúng ta học nơi gia đình mẫu mực này hai điểm căn bản:
* Một là: luôn biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa thể hiện qua bổn phận hàng ngày. Dầu ăn, dầu uống hay làm bất cứ việc gì, chúng ta làm vì Danh Chúa Kitô, nhờ Ngài mà tạ ơn Thiên Chúa Cha. Chính trong sự lắng nghe, thực thi ý Chúa, chúng ta nên giống Giê-su và cũng được kể như con yêu dấu của Người.
* Hai là: tình yêu tha thứ là nền tảng tình liên đới hiệp thông. Không có tha thứ thật lòng, thì không có tình yêu thật, cũng không thể có hiệp thông đích thực. Kết quả là chia rẽ, hận thù, ghen ghét, cuộc sống chung trở nên hỏa ngục, không được bình an, hạnh phúc và cũng chẳng có thiên đàng. Chỉ nhờ tình yêu tha thứ, chúng ta mới có thể kiến tạo gia đình theo khuôn mẫu gia đình Thánh Gia. Xứng đáng được Chúa chúc lành và ban ơn cứu độ. Amen.
Gia đình được xây dựng trên mối quan hệ căn bản là vợ chồng, cha mẹ và con cái. Cũng thế, Gia Đình Thánh: Chúa Giêsu, Đức Maria và thánh Giuse đã thật sự thành hình sau biến cố Hài Nhi Giêsu ra đời. Do đó, sau khi mừng lễ Giáng Sinh, Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn về Thánh Gia, một gia đình có những phẩm chất hoàn hảo đáng để mọi người noi gương. Mỗi người, tùy vị thế trong gia đình, có thể nhận được từ Thánh Gia một gương mẫu cho mình. Riêng các bạn trẻ, bài học dành cho bạn sẽ là gì?
Bài học đầu tiên có thể dễ dàng nhận thấy nơi Thánh Gia chính là sự tuân phục thánh ý Thiên Chúa. Đức Maria đã cất tiếng “xin vâng” trước lời mời gọi của Thiên Chúa (Lc 1,38) và đã đáp trả trọn vẹn tiếng xin vâng của mình cho đến trọn đời. Đức Giêsu thì đến trần gian với sứ mạng “thi hành thánh ý Cha”. Đặc biệt, trong bài Phúc Âm hôm nay, Thánh Giuse tỏ ra là người mau mắn thi hành thánh ý Thiên Chúa: mau mắn mang Hài Nhi và Mẹ Ngài trốn sang Ai Cập, rồi ngay lập tức đưa trở về quê hương khi được sứ thần báo mộng. Bài Phúc Âm phát họa lên bức tranh một gia đình đùm túm nhau bước đi trong đêm tối, phó thác đời mình cho thánh ý Thiên Chúa.
Mỗi người có một thánh ý Chúa dành cho mình. Đối với bạn trẻ, còn ở độ tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”, Chúa không buộc bạn phải làm gì to lớn, cao xa, Chúa chỉ cần bạn vâng phục những vị có trách nhiệm, đại diện hữu hình của Chúa ở trần gian dạy dỗ bạn. Tuy nhiên, ở trong một xã hội thay đổi mau chóng hiện nay, nhiều khi con cái lớn lên lại thấy cha mẹ là những người không hợp thời nữa. Do vậy mà không ít bạn đã tỏ ra không còn nghe lời dạy bảo của cha mẹ, những người có trách nhiệm nữa. Dẫu biết rằng bạn hiểu rõ vấn đề của riêng bạn hơn các vị ấy, có khi kiến thức của bạn trổi vượt hơn các ngài nữa. Nhưng nếu bạn nhận ra tiếng nói của cha mẹ, những người có trách nhiệm là tiếng nói của Thiên Chúa, Đấng biết rõ con đường bảo đảm hơn cả cho hạnh phúc của bạn, thì bạn sẽ mau mắn, vui vẻ mà đáp trả cách mau mắn.
Một bài học khác cũng toát lên rõ nét từ đời sống Thánh Gia là tình yêu trong mối tương quan gia đình. Thánh Cả đón nhận Chúa Giêsu và Mẹ Ngài để yêu thương và chăm sóc trong khi ngài có quyền từ chối. Đức Maria đón nhận Chúa Giêsu vì yêu thương cho dù biết mình sẽ phải chịu nhiều đau khổ. Đức Giêsu là niềm hãnh diện của cha mẹ khi tỏ ra “hằng vâng phục” và “càng thêm tuổi, càng thêm khôn ngoan và vững mạnh” (x. Lc 2,51-52). Chính tình yêu đã giúp Thánh Gia vượt qua mọi thử thách hiểm nguy.
Sinh ra nơi thế gian này, bạn đã được đặt trong các mối tương quan gia đình: gia tộc thân thích, gia đình xã hội và gia đình Giáo Hội. Bạn được mời gọi sống yêu thương để làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa giữa thế gian nầy. Ngày nay không thiếu những gia đình thiếu vắng tình yêu. Nguyên nhân dẫn đến thảm trạng nầy đến từ các bậc cha mẹ, từ các con hư hỏng. Nếu bạn sống trong một gia đình luôn ấm êm, thuận hòa thì thật là một hồng ân lớn lao. Nhưng nếu chẳng may gia đình bạn lúc nào cũng có tiếng cãi vã, ngột ngạt thì thật là đáng buồn. Tuy nhiên, là người con Chúa, dù gia đình bạn thế nào, dù bạn còn nhỏ tuổi, bạn cũng có thể trở nên niềm an ủi cho cha mẹ bằng sự vâng lời, ngoan ngoãn, dễ thương. Do vậy, bạn hãy quan tâm đóng góp cho đời sống gia đình được êm ấm. Bạn cũng đừng quên rằng, sự hư hỏng của con cái là nguyên nhân gây nên bao nỗi bi đát cho gia đình, xã hội và Giáo Hội.
Mừng lễ Thánh Gia Thất, rất nhiều bài học có thể được rút ra khi chiêm ngắm Ba Đấng. Nhưng thiết nghĩ, nếu bạn cố gắng làm thật tốt hai bài học gợi ra hôm nay cũng đủ để bạn góp phần đem lại sự hiệp nhất yêu thương cho gia đình, cho xã hội và cho Giáo hội. Xin Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse phù trợ cho gia đình bạn và giúp bạn cùng chung tay xây dựng thế giới nầy tốt đẹp hơn.
21.Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành
Trong lá thư gửi cho các gia đình Công Giáo năm 2016, ở mục NHỮNG THÁCH ĐỐ CHO GIA ĐÌNH NGÀY NAY, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã nêu lên bốn thách đố đáng báo động của gia đình hôm nay là: Ly thân và ly dị; bạo hành gia đình; sống chung, sống thử; nạn phá thai. Trước những thách đố đó, các gia đình công giáo chúng ta phải làm gì? Đó là nội dung tôi muốn gợi với anh chị em suy niệm trong ngày lễ Thánh Gia Thất hôm nay.
I. Bốn thách đố trên đáng báo động như thế nào?
1. Ly thân và ly dị: Tình trạng ly dị ở Việt Nam ngày càng gia tăng: Cuộc điều tra do Bộ VH-TT&DL, phối hợp với Tổng cục Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF cho thấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh. Năm 2000 có 51.361 vụ ly hôn. Năm 2005 có tới 65.929 vụ. Có 4 nguyên nhân thường xảy ra nhiều là: Mâu thuẫn về lối sống: (chiếm 27,7%); ngoại tình (25,9%); kinh tế (13%); bạo lực gia đình (6,7%). (Nguồn: http://vienthongke.vn/)
Ngoài ra, còn có nhiều nguyên nhân khác nữa. Gần đây, có một bài viết nói về sự giàu có của một làng xã nhờ bà con đi xuất khẩu lao động. Nhưng cũng có một bài báo khác cho biết rằng: do đi xuất khẩu lao động, vợ chồng xa nhau sinh ra nhiều cám dỗ…cuối cùng nhà cửa, của cải thì có nhưng vợ chồng lại phải chia tay, con cái thì bơ vơ. Đây là một thực tế đáng buồn cho người dân Việt nam nói chung và cho các gia đình trong các giáo xứ nói riêng.
2. Bạo hành trong gia đình: Theo một nghiên cứu về bạo lực ở các gia đình Việt Nam cho biết: 66% các vụ ly hôn ở Việt Nam liên quan đến bạo hành gia đình. Trong đó: 82% hộ dân nông thôn và 80% hộ ở thành phố có xảy ra bạo lực; 5% phụ nữ thường xuyên bị chồng đánh đập; 9-10% trường hợp nạn nhân của bạo lực gia đình là nam giới và thủ phạm chính là người vợ. (Nguồn: https://vi.wikipedia.org)
Bạo lực cũng có thể do con cái cháu chắt gây nên: Gần đây, một loạt những câu chuyện giới trẻ dùng từ ngữ xúc phạm, hỗn xược với người lớn, thậm chí là chửi bới ông bà, bố mẹ mình đang gióng lên một hồi chuông báo động. Thậm chí có những vụ án giết người thân như bà giết cháu, cha giết con, vợ giết chồng, con cái giết cha mẹ…thật đau lòng.
3. Sống chung, sống thử trước hôn nhân: Theo thống kê của khoa xã hội học Đại học Mở Sài Gòn, năm 2010, có khoảng 1/3 các bạn trẻ sống thử trước hôn nhân. Đó là những đôi nam nữ sống chung như vợ chồng không có đăng ký kết hôn. Sau một thời gian, nếu thấy phù hợp thì họ tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn theo pháp luật. Còn nếu thấy không phù hợp, họ sẽ chia tay nhau, không cần đến pháp luật. Người ta gọi đó là “sống thử”. Hiện tượng “sống thử” hay còn gọi là “góp gạo thổi cơm chung” đã và đang trở thành một thứ “mốt” trong lối sống của giới trẻ hiện nay, không chỉ trong giới công nhân sống xa nhà mà còn cả ở những sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường.
Xét theo giáo lý Công giáo thì “sống thử” là trái với luật Chúa, luật Hội Thánh. Cho nên, những người “sống thử” là mắc tội. Đồng thời, “sống thử” khó được toàn xã hội chấp nhận, đó là lối sống sai lầm, buông thả, phóng túng, làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống, là một biểu hiện của sự xuống cấp về đạo đức trong lối sống thực dụng ngày nay.
Xét theo truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục của người Việt Nam thì “sống thử” là một lối sống không phù hợp, nó có tác động xấu đến đời sống và mang lại nhiều hậu quả đáng tiếc cho bản thân, gia đình, Giáo hội và xã hội như: không chồng mà có con, dễ dẫn đến tội phá thai. (x. bài: Vấn đề “Sống thử” của giới trẻ ngày nay – Tu sĩ Lôrensô Vũ Văn Trình MF).
4. Tệ nạn nạo phá thai: Theo các số liệu thống kê cho biết hàng năm trên thế giới có khoảng: 42 triệu ca phá thai; 20 triệu ca phá thai không an toàn; 70.000 ca tử vong bà mẹ; 5 triệu ca khuyết tật. Riêng ở Việt Nam: bình quân mỗi năm cả nước có khoảng 300.000 ca nạo phá thai (chiếm 20% tổng số ca nạo phá thai), cao nhất các nước Đông Nam Á và xếp thứ 5 thế giới. Có nhiều nguyên nhân đưa đến nạn phá thai, trong đó nguyên nhân đầu tiên là do “sống thử”, sống buông thả nên có thai ngoài ý muốn, nguyên nhân thứ hai là bị ảnh hưởng bởi các chương trình KHHGĐ và giáo dục sai lầm. Ví dụ: Công nhân viên chức chỉ được sinh 1-2 con, nếu sinh đứa thứ ba thì phải giáng chức, cắt lương. Người dân sinh con thứ ba: có nơi bị chính quyền phạt, hoặc bắt đóng góp tiền vào quỹ dân số… Vì sợ mất chức, sợ mất tiền… dẫn đến việc phá thai.
Trên đây là bốn thách đố trong muôn vàn thách đố đang xảy ra trong các gia đình, đang tiềm ẩn những hiểm họa không chỉ phá vỡ nền tảng gia đình mà còn đẩy nhân loại đến bờ vực của sa đọa và hủy diệt.
II. Chúng ta cần phải làm gì trước những thách đố trên?
1. Hãy đến với Chúa qua đời sống cầu nguyện: Trước những thách đố về đời sống gia đình, chúng ta rất cần lời cầu nguyện. Thánh Nữ Mônica chung sống với người chồng hoang đàng, trác táng và thiếu chung thuỷ. Augustinô là đứa con sống vô luân, ngã theo lạc giáo… nhưng thánh nữ không sờn lòng nãn chí mà kiên trì hy sinh cầu nguyện. Cuối cùng, chồng và con đã được ơn trở lại, đặc biệt là Augustinô đã trở thành một vị đại thánh.
2. Hãy lãnh nhận các Bí tích: Đức Kitô đã để lại cho Hội Thánh những bí tích, là những dấu chỉ hữu hình làm máng chuyển thông ơn thánh cho các tín hữu. Các bí tích có mục đích thánh hoá con người, xây dựng thân thể Đức Kitô và thờ phượng Thiên Chúa. Nhờ lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Giao hoà và Thánh Thể đời sống Kitô hữu, đời sống các gia đình được nuôi dưỡng và ngày càng tăng trưởng hơn.
3. Phải biến gia đình thành cộng đoàn yêu thương:
Khi đã có tình yêu thương, các thành viên trong gia đình sẽ loại trừ được các thứ bạo hành về thể xác, tâm lý, tinh thần, loại trừ được sự bất trung… ở trong chính gia đình của mình. Vợ – chồng; cha mẹ – con cái sẽ “có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa, nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13). Đó là điều các thành viên trong gia đình phải cố gắng để thực hiện.
4. Một số thực hành khác: Ngoài các việc làm chủ chốt để gìn giữ gia đình trên đây, trong thư gửi các gia đình năm 2016, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam còn nhắc đến các bổn phận khác của gia đình như: bổn phận đón nhận và tôn trọng sự sống; bổn phận hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ; bổn phận chăm sóc người cao tuổi; bổn phận cha mẹ giáo dục con cái về mọi phương diện nhân bản, đạo đức, tri thức và đức tin; việc chuẩn bị cho giới trẻ bước vào đời sống hôn nhân và gia đình cũng là đòi hỏi khẩn thiết hơn bao giờ hết.
Kết luận: Để gia đình chúng ta luôn được êm ấm hạnh phúc trước những thách đố của thời đại, các thành viên trong gia đình hãy quyết tâm siêng năng cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích, xây dựng gia đình thành một mái ấm của tình yêu và lòng thương xót. Xin Thánh Gia Thất đổ tràn đầy ân sủng trên mỗi người, mỗi gia đình chúng ta. Amen.
22.Gia đình là cộng đoàn yêu thương
Một trong những nỗi lo lắng của giới hữu trách đạo cũng như đời hiện nay là nền tảng gia đình ngày càng có xu hướng tuột dốc. Con số những gia đình đổ vỡ ngày càng trở nên báo động. Dĩ nhiên có rất nhiều nguyên nhân. Nhưng một trong những nguyên nhân đó là các gia đình thiếu yêu thương nhau thật sự.
Là người Công giáo chúng ta thật may mắn vì vào mỗi mùa Giáng sinh Chúa và Giáo hội cho chúng ta mừng lễ Thánh Gia. Thánh Gia gồm có Chúa Giêsu – Ðức Mẹ và Thánh Giuse. Gia đình là cộng đoàn yêu thương chính là điều rất quý giá mà chúng ta học được qua mẫu gương gia đình Thánh Gia.
Yêu thương nhau là điều kiện tiên quyết để gìn giữ hạnh phúc gia đình. Khi người thanh niên và cô thiếu nữ tự nguyện đến với nhau chắc chắn là vì yêu thương nhau. Dù vậy, chúng ta xem kỹ họ đã yêu thương nhau vì động lực nào và họ yêu thương nhau như thế nào. Ðộng lực để yêu thương nhau là vì muốn đền đáp lại tình yêu mà Thiên Chúa ban cho mình.Với người Công giáo chúng ta đã được Chúa Giêsu dạy: “Các con hãy yêu thương nhau như chính Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15, 12 ). Yêu như Thầy yêu là hy sinh, là quan tâm cho nhau.
Chỉ khi thật sự cảm nghiệm được tình yêu của Chúa dành cho mình bao la như thế nào thì chắc chắn chúng ta sẽ biết làm gì để yêu thương những người trong gia đình mình. Chính từng thành viên trong gia đình Thánh Gia cũng đã vì thế mà đã yêu thương nhau thật sự.
Kết quả của tình yêu vợ chồng sẽ sinh ra những đứa con. Như thế, những người làm cha mẹ cũng được kêu gọi hãy biết quý trọng con cái mình sinh ra. Chúng ta thấy, Ðức Mẹ và Thánh Giuse với cái nhìn bình thuờng thì Hài nhi Giêsu chẳng phải là máu mủ của mình nhưng các ngài đã bằng mọi cách mà bảo vệ. Trước khi sinh Chúa Giêsu thì họ đã bị đuổi và phải trốn chui trốn nhủi. Rồi khi sinh ra thì cũng chưa yên phải trốn sang Ai Cập để tránh cơn bạo hành của vua Hêrôđê.
Ngày nay chúng ta thấy có nhiều người làm cha mẹ chỉ vì ích kỷ nên sẵn sàng giết con của mình ngay từ trong bào thai. Họ viện đủ lý do để biện minh cho hành vi sai trái của mình. Con cái chính là quà tặng tình thương mà Thiên Chúa ban cho những ai sống trong bậc gia đình. Có cảm nhận được cực khổ của bổn phận làm cha mẹ thì mới biết thương cha mẹ của mình.
Chúa Giêsu đã chọn gia đình để được sinh ra và lớn lên thì chắc hẳn Chúa thấu hiểu được tất cả nỗi khổ cực của chúng ta. Chúng ta hãy chạy đến với Thánh Gia để xin các Ngài phù giúp chúng ta làm tròn bổn phận của mình trong gia đình.
23.Lễ của mỗi gia đình – ViKiNi
(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ – Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)
1. Lễ Thánh gia là lễ của mỗi gia đình. Văn hóa Đông phương đặt nền tảng gia đình trên đức Hiếu. Người nổi tiếng chí Hiếu nhất Đông phương là Vua Thuấn. Thiếu thời, Vua Thuấn là con nhà bần tiện. Bố là Cổ Tẩu dở dở ương ương, mắc tật nghiện rượu. Mẹ có tật lắm điều, ngồi lê mách lẻo. Anh là Tượng hỗn xược du đãng. Một cảnh gia đình địa ngục. Nhưng Thuấn dù nhỏ, ngày ngày ra đồng làm việc, thường kêu khóc với trời, tự mình nhận lấy tội lỗi của bố mẹ. Phụng sự bố mẹ rất kính cẩn, sợ hãi làm cho bố mẹ biết lo sửa mình (Kinh Thư ; Thuấn Điển 6 và Đại vũ mõ 21).
Nhờ đâu một con nhà tiện dân đã trở nên bậc thánh hiền chí hiếu?
Thứ nhất nhờ vào niềm tin trời đất thâm sâu sống động của Vua. Khổng Tử kể: Ngay còn nhỏ, Thuấn ngày ngày ra đồng làm việc với nước mắt, kêu khóc với Trời: “Đế sơ vàng vu điền, nhật hào khấp mân thiên”.
Thứ hai: “Vu điền” – ông ra đồng chăm chỉ làm việc để phụng dưỡng gia đình, làm sao nuôi nổi ba miệng lười biếng ăn chơi phung phá! Ông phải tận lực hy sinh làm việc mà không một lời phàn nàn than thân trách phận giữa cảnh gia đình đầy thói hư tật xấu.
Thứ ba: “Phụ tội dẫn thắc” – Thuấn còn hy sinh tự mình nhận lấy tội lỗi của bố mẹ. Một tinh thần trách nhiệm cao thượng. Người ta thường nói: Tội quy vu trưởng, pháp luật thường phạt cha mẹ khi con cái vị thành niên phạm pháp. Trái lại: ở đây tội quy vu ấu. Ấu thơ đã biết gánh lấy tội của gia đình để ăn năn kêu khóc với trời tha thứ và cứu giúp.
Thứ bốn: “Tái kiến Cổ Tẩu, quỳ quỳ trai lật” – Thăm viếng Cổ Tẩu kính cẩn, lo sợ đến mức nhịn ăn chay tịnh để chăm lo cho cha mẹ mọi sự, chỉ sợ cha mẹ buồn phiền than trách. Dù cha mẹ nhiều tật xấu đến đâu Thuấn cũng không dám tỏ vẻ bất kính.
Đức Hiếu của đứa con tiện dân đã thấu đến Đế Nghiêu, thấu đến Thượng Đế, cho nên Vua Nghiêu đã nhường cho Thuấn làm vua. Thuấn đã tu thân tề gia tốt đẹp, chắc chắn trị quốc, bình thiên hạ cũng được an vui thịnh vượng. “Đại hiếu tôn thân, kỳ thứ phất nhục, kỳ hạ năng dưỡng”: Đại hiếu thứ nhất tôn kính cha mẹ, thứ đến không làm nhục, sau là chăm nuôi (Lễ ký tế nghĩa).
2. Lễ Thánh gia mới thực sự hướng dẫn chúng ta thi hành trọn vẹn đạo Hiếu theo đúng giới răn thứ bốn của Thiên Chúa: Đạo làm con, đạo làm cha mẹ, vợ chồng.
Trước hết, Đạo làm con phải biết nhớ: “Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Ơn sinh thành, ơn thương mến của cha mẹ đã chảy ra từ nguồn sống tình yêu của Thiên Chúa, ban cho con cái sự sống. Không có vàng bạc châu báu nào so sánh được: Ca dao nói: “Mạng sống hơn đống vàng”. Phúc Âm cũng dạy: “Dù được lời lãi cả thế gian mà mất mạng sống nào được ích gì”.
Sinh thành mạng sống con, cha mẹ còn hết lòng, hết trí khôn lo lắng ấp ủ âu yếm, đùm bọc. Mạng sống con cũng là mạng sống, là xương thịt của cha mẹ: “Máu chảy ruột mềm”. Con đau khổ, cha mẹ ăn không ngon, ngủ không yên. Và để cho mạng sống của con được tăng trưởng lớn khôn, cha mẹ đã đổ ra bao nhiêu mồ hôi nước mắt, và sức lực hy sinh, làm ăn nuôi dưỡng, dạy dỗ, những công ơn đó chồng chất cao hơn núi Thái sơn.
Con biết ơn cha mẹ thì phải thảo kính, yêu mến, chăm sóc, chia vui sẻ buồn, làm vinh danh cha mẹ nhất là lúc già yếu. Đừng bao giờ: “Con nuôi mẹ, con kể từng giờ”.
Đạo Nho còn biết dạy: “Sống thì lấy lễ mà thờ, chết lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế” (Luận ngữ II, 5) huống chi Đạo Chúa.
Thứ đến: Đạo làm cha mẹ biết đón nhận con cái như con cái Thiên Chúa ban cho mình. Ý thức rõ như vậy, Đức Maria và thánh Giuse đã mau mắn dâng con cho Thiên Chúa trong đền thờ. Ngoài ra, các ngài dâng con là để tạ ơn Thiên Chúa đã cứu sống dân tộc thoát ách nô lệ Ai cập trở về Đất Hứa vẻ vang. Vì thế, sinh ra, lớn lên, sống còn của con dân này là một ân huệ vĩ đại của Thiên Chúa ban. Họ đã hiến dâng, phó thác trọn vẹn cuộc sống con mình trong tay Thiên Chúa toàn năng.
Hôm nay cha mẹ Hài Nhi Giêsu dâng con trong đền thờ, còn đặc biệt dâng lên Chúa Cha một thế hệ mới, một thế hệ được thanh tẩy bằng nước và Thánh Thần, một thế hệ được ghi ấn tín Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần để làm nên một trang sử vinh quang muôn đời trong nước Trời.
Cho nên, sứ mạng làm cha mẹ là một ân huệ từ trời ban xuống. Cha mẹ được vinh phúc tiếp tay với Thiên Chúa cộng tác vào chương trình sáng tạo, mặc khải và cứu chuộc con cái.
Để thực hiện tốt đẹp thiên chức cao cả đó, cha mẹ phải biết xây dựng gia đình mình thành một tổ ấm, một cái nôi chan hòa “tình thương yêu êm ái, nhân hậu, khoan dung, hiền lành, nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ cho nhau, cởi mở chân thành để liên kết với nhau trong mối giây bác ái yêu thương tuyệt hảo”.
Hơn nữa, cha mẹ phải tạo dựng gia đình thành một đền thờ, trong đó “dâng lên Thiên Chúa những bài Thánh vịnh, những khúc hát Thánh ca, do Chúa Thánh Thần linh ứng. Hãy dùng lời Chúa dạy dỗ răn bảo nhau cho thật khôn ngoan để lời Chúa Kitô sinh hoa kết quả dồi dào trong gia đình. Khi làm gì, nói gì, hãy làm và nói nhân danh Đức Giêsu Kitô, và nhờ Người mà cảm tạ Chúa Cha” (Bài II. Cl. 3, 12-21). Như thế gia đình chúng ta sẽ trở nên như gia đình Thánh Gia.
3. Lễ Thánh Gia cho chúng ta thấy rõ Thánh Gia là đền thờ hoàn toàn dành riêng phụng thờ Thiên Chúa.
Giuse là Cha nuôi, nhưng hơn tất cả mọi người cha ruột thịt, Ngài đã âm thầm hy sinh, hiến trọn mạng sống mình để phụng dưỡng Con Thiên Chúa, bảo vệ an toàn gia đình thoát khỏi bàn tay khát máu của Hêrôđê, khỏi mọi gian nguy trên đường tỵ nạn băng qua sa mạc đến Ai cập và trở về Nagiareth bình an.
Maria, người mẹ thánh thiêng trinh trong tuyệt vời, luôn luôn sống với tinh thần tôi tớ của Thiên Chúa, sống dịu hiền, thương mến, thăm viếng, phục vụ bà con xóm làng, tích cực cộng tác với Con Thiên Chúa trong công trình cứu độ muôn dân và xây dựng Hội thánh. Quả thực, không một ai đứng kề thánh giá của con bằng Mẹ, không một ai sống giữa các môn đệ trong lúc cô đơn xao xuyến để cầu nguyện Thánh Linh xuống soi sáng và củng cố tinh thần các môn đệ bằng Mẹ.
Chúa Giêsu, Người chí hiếu, con thảo độc nhất của gia đình. Người con chí ái độc nhất của Thiên Chúa, đã sinh ra trong hang lừa hèn hạ, đã lớn lên trong cảnh lao động nghèo khó. Nhưng, cháu bé này là nguồn an bình muôn thuở cho những cụ già như Simêon ẵm bế, là nguồn hy vọng vinh phúc cho những bà góa neo đơn như Anna, là nguồn sáng soi đường cứu độ cho muôn dân và vinh quang cho Israel dân Ngài.
4. Giêsu – Maria – Giuse, còn gia đình nào tầm thường như gia đình các Ngài! Còn gia đình nào siêu phàm như gia đình các Ngài! Xin dạy gia đình chúng con biết sống giữa cảnh phàm trần với tinh thần người con, người mẹ, người cha chí ái, chí nhân, chí thánh. Xin cho chúng con biết mừng lễ Thánh Gia với cõi lòng chan chứa yêu thương, với tâm trí đầy tràn niềm tin, và với tâm hồn chan hòa ơn thánh. Amen.
24.Gia đình là trường thực tập yêu thương – JNK
Để giúp con người có một môi trường thuận lợi để phát triển và thực tập tình yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng và đặt con người sống trong gia đình. Khi vừa sinh ra, mọi người đều nhận được một tình thương dồi dào, vô điều kiện và vô vị lợi của cha mẹ – một tình yêu thuộc loại tốt đẹp nhất trên thế gian – đồng thời được mời gọi đáp lại tình yêu thương ấy. Đó là một bài tập hết sức dễ dàng về yêu thương mà mỗi người đều có thể thực tập ngay từ thuở nhỏ. Không gì dễ dàng bằng yêu thương người đã hết lòng yêu thương mình và hy sinh cho mình. Tình yêu đáp trả này tự phát sinh do mình nhận được từ cha mẹ mình quá nhiều. Đây là thứ tình yêu nhận nhiều hơn cho.
Lớn lên một chút, mỗi người khám phá ra, ngoài cha mẹ mình, thì các anh chị em mình cũng yêu thương mình bằng một tình yêu tương đối vô vị lợi. Với tình yêu này, con người phải tập cho nhiều hơn và nhận ít hơn so với tình yêu đối với cha mẹ. Ngoài gia đình, mỗi người còn có bạn bè do chính mình chủ động chọn lựa và yêu thương.
Đến khi trưởng thành, con người có tình yêu hôn nhân. Tình yêu này là một tình yêu do mình chọn lựa và tương đối có điều kiện: mình yêu và đòi hỏi người kia phải yêu lại, nếu đơn phương thì tình yêu sẽ khó tồn tại. Con người chủ động hiến thân và hy sinh cho người mình yêu với một ý chí tương đối tự do.
Đến khi có con cái, con người tự nhiên yêu thương con bằng một tình yêu vô vị lợi, vô điều kiện, không lựa chọn. Đó là tình yêu cao cả nhất và phản ảnh trung thực nhất tình yêu của Thiên Chúa mà con người kinh nghiệm được trong đời sống gia đình.
Như vậy con người thực tập yêu thương – từ dễ đến khó – trong môi trường gia đình. Trong gia đình, con người kinh nghiệm tình yêu một cách tự nhiên và sâu xa: con người được yêu và chủ động yêu, nhận hy sinh từ người khác và chính mình cũng hy sinh cho người khác.
Thế nhưng con người còn được mời gọi yêu một cách rộng rãi hơn, vượt khỏi phạm vi gia đình, để đến với những người ngoài, không ruột thịt máu mủ. Các tín đồ trong các tôn giáo, đặc biệt người Ki-tô hữu, còn được mời gọi yêu thương cả những người không hề quen biết, thậm chí cả kẻ thù. Yêu như thế khó hơn rất nhiều, nhưng nhờ áp dụng những kinh nghiệm về yêu thương đã có trong gia đình, việc yêu thương người ngoài gia đình, thậm chí kẻ thù, trở nên khả thi hơn.
Như vậy, vai trò của gia đình trong việc đào luyện tình yêu cho con người thật hết sức quan trọng, không gì thay thế được.
Nếu những người trong gia đình – là những người cùng máu mủ ruột thịt, những người tự nhiên yêu thương ta nhất và ta dễ yêu thương nhất – mà ta không yêu thương được, thì làm sao ta có thể yêu những người xa lạ, những người khó có cảm tình, nhất là những người thường gây bất lợi cho ta?
Kinh nghiệm cho tôi thấy, những ai đối xử đã không tốt với chính cha mẹ, với vợ, với chồng, với con cái, với anh em mình, thì khi họ đối xử tốt với những người khác, sự tốt ấy thật đáng nghi ngờ! Rất có thể chỉ là giả tạo để đạt một mục đích nào đó, chứ không thể là thực tình được! Vậy, các bậc cha mẹ hãy cho con cái mình những kinh nghiệm về yêu thương tốt đẹp nhất có thể. Đó là những gì tốt đẹp nhất mà họ có thể làm cho con cái họ!
Lạy Mẹ Maria, Mẹ và Thánh Giuse đã làm cho gia đình của mình trở thành một gia đình gương mẫu vì mọi trong đó đều yêu thương nhau. Xin cho mọi người trong gia đình con thực tập từ bỏ tính ích kỷ để biết yêu thương nhiều hơn, hy sinh cho nhau nhiều hơn, để nên thánh thiện hơn.
Quý ông bà anh chị em thân mến!
Nên thánh, làm thánh là mơ ước của mọi người Kitô hữu. Ai cũng muốn làm thánh. Ai cũng muốn được vào Nước Trời. Nhưng con đường nên thánh đòi hỏi chúng ta phải biết từ bó ý riêng để ý Chúa được thực hiện trong cuộc đời chúng ta. Con đường nên thánh đòi hỏi chúng ta phải vào cửa hẹp và tránh tìm sự dễ dãi bản thân. Vì đường thênh thang thì nuông chiều bản thân và tính xác thịt. Đường thênh thang chỉ dẫn tới diệt vong. Còn đường hy sinh, đường từ bỏ mới giúp cho chúng ta chiến thắng sự yếu duối bản thân để nên thánh từng ngày trong cuộc sống.
Nhìn vào gia đình thánh gia, chúng ta thấy các ngài luôn đi vào con đường hẹp. Các ngài luôn sống công chính trước mặt Chúa. Sự công chính hệ tại ở việc để thánh ý Chúa được nên trọn trong cuộc đời các ngài. Chúa Giêsu hằng luôn tìm kiếm ý Chúa Cha và thực thi. Thánh Giuse đã đón nhận ý Chúa khi nhận Maria về nhà làm vợ. Mẹ Maria đã bỏ ý riêng để sống cho ý Chúa qua lời thưa xin vâng. Nếu Chúa Giêsu không đón nhận ý Chúa Cha thì chén đắng cứu độ sẽ không thể thực hiện. Nếu Mẹ Maria không từ bỏ ý riêng để sống cho ý Chúa thì mùa xuân của ơn cứu độ vẫn chưa thực hiện. Nếu thánh Giuse không bằng lòng đón nhận Mẹ Maria vì ý Chúa thì sự nguy hiểm thật ghê sợ có thể xảy đến với Mẹ. Thế nhưng, ý Chúa các ngài đã thực thi. Chương trình của Chúa Cha đã hoàn tất nhờ sự vâng phục của các ngài. Cũng nhờ sự chung lòng chung ý mà gia đình thánh gia luôn gìn giữ được sự bình an và hạnh phúc trong cuộc sống hằng ngày.
Thực vậy, nếu trong gia đình mà mỗi người một ý, gia đình ấy sẽ tan nát, chẳng ai nghe ai. Trong gia đình mà ai cũng đề cao ý riêng của mình, thì gia đình ấy sẽ là một hỏa ngục, vì lúc nào cũng xảy ra tranh cãi tương tàn. Nhưng nếu mỗi người biết bỏ ý riêng để ý Chúa được thực hiện, thì gia đình ấy sẽ có những giây phút bình an hạnh phúc. Chính khi biết từ bỏ ý riêng, con người mới khiêm tốn đón nhận nhau, yêu thương nhau hầu tránh được những bất hòa đổ vỡ. Nhất là biết đón nhận nhau vì Chúa, thì chắc chắn sẽ xây dựng được một gia đình thánh, một thiên đường hạnh phúc ngay ở cuộc đời này.
Thực thi ý Chúa không phải là lời mời gọi mà là luật buộc chúng ta, vì không phải những ai kêu lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời đâu mà là những ai thực thi lời Chúa mới được vào Nước Trời.
Có một câu chuyện kể rằng: Một nông dân nghèo được vào thiên đàng, ông nhìn thấy người ta mang những vật rất kỳ lạ vào trong nhà bếp. Ông thắc mắc và lên tiếng hỏi: Cái gì thế? Có phải để nấu súp không?
Không phải. Đó là những cái tai của con người. Khi sống ở trần gian, tai giúp họ nghe những điều tốt lành, nhưng họ không làm điều tốt lành đó. Khi chết, chỉ có tai của họ được vào thiên đàng thôi, những phần khác của cơ thể thì không được vào.
Một lát sau, người nông dân lại nhìn thấy người ta mang vào nhà bếp những vật kỳ lạ khác. Ông cũng lên tiếng hỏi: Cái gì thế? Có phải để nấu súp không?
Không phải. Đó là những cái lưỡi của con người. Khi sống trên đời, lưỡi khuyên bảo người khác làm điều tốt và sống tốt, nhưng chính họ lại không sống; không làm những điều tốt lành đó. Khi chết, chỉ có lưỡi của họ được vào thiên đàng thôi, những phần khác của cơ thể thì không được vào.
Gia đình nào cũng muốn được hạnh phúc. Gia đình nào cũng muốn thuận vợ thuận chồng để gia đình thăng tiến. Điều tiên quyết là mỗi người hãy để cho ý Chúa dẫn dắt. Hãy trở thành một khí cụ để thực hiện chương trình của Chúa. Hãy là những người không dừng lại ở lời nói lạy Chúa, lạy Chúa mà là những người luôn lắng nghe và thực thi Lời Chúa.
Ước gì, mỗi gia đình trong giáo xứ chúng ta đều là những gia đình thánh. Ước gì từng người luôn là thánh khi biết chết đi cái tôi của mình để sống cho gia đình và nhất là cho ý Chúa được thể hiện. Amen.
26.Bài giảng lễ Thánh Gia Thất
(Trích website ‘Giáo Phận Thái Bình’)
Khi chiêm ngắm những tấm ảnh gia đình Thánh Gia, chúng ta thường thấy một cảnh sống thật thanh bình: Đức Mẹ ngồi khâu vá, Thánh Giuse đang làm mộc, còn Chúa Giêsu đang quan sát cha làm việc. Nếu cứ nhìn vẻ bề ngoài như vậy, bất cứ ai cũng đều nghĩ rằng, đời sống gia đình Thánh Gia quả là một đời sống lý tưởng, bởi nhịp sống mỗi ngày cứ trôi đi một cách hoàn toàn phẳng lặng. Thế nhưng, trong thực tế, gia đình Thánh Gia cũng gặp phải những khó khăn, những sóng gió như bất cứ một gia đình nhân loại nào khác.
Gia đình là nền tảng của Xã hội và Giáo Hội. Thế nhưng một thực tế là, ở nhiều nơi, “cái nôi” đó đang bị đe dọa, đang bị lung lay tới tận gốc rễ. Gia đình đang mất dần vai trò là “tổ ấm” của mình do tình trạng lục đục trong hôn nhân của các cặp vợ chồng. Hậu quả của những đổ vỡ đó dẫn đến việc nhiều đứa trẻ phải sống trong cảnh thiếu tình cha, vắng tình mẹ; dần dà trở thành những nạn nhân của những tệ đoan xã hội.
Nhận thấy tầm quan trọng của gia đình trong việc Giáo dục con cái, Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong tông huấn về gia đình “Familiaris Consorto” đã khuyến cáo các bậc phụ huynh: “Cha mẹ phải nhìn nhận rằng, chính họ là những nhà giáo dục đầu tiên và trên tất cả đối với con cái. Vai trò giáo dục của họ quyết liệt đến nỗi thật khó tìm được bất cứ điều gì có thể đền bù vào sự thất bại của họ. Cha mẹ phải nhận trách nhiệm tạo bầu khí gia đình đầy linh hoạt trong tình yêu và tôn kính Thiên Chúa và mọi người, để sự phát triển hoàn mỹ về cá tính và xã hội được nẩy nở trong con người. Vì vậy, gia đình là trường học đầu tiên cho tất cả những đức tính Giáo hội và xã hội mà bất cứ xã hội nào cũng cần phải có”. Muốn được như vậy, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy cùng nhìn ngắm vào mẫu gương gia đình Nazarét.
Từ mẫu gương Gia đình Nazarét
Khi chiêm ngắm những tấm ảnh gia đình Thánh Gia, chúng ta thường thấy một cảnh sống thật thanh bình: Đức Mẹ ngồi khâu vá, Thánh Giuse đang làm mộc, còn Chúa Giêsu đang quan sát cha làm việc. Nếu cứ nhìn vẻ bề ngoài như vậy, bất cứ ai cũng đều nghĩ rằng, đời sống gia đình Thánh Gia quả là một đời sống lý tưởng, bởi nhịp sống mỗi ngày cứ trôi đi một cách hoàn toàn phẳng lặng. Thế nhưng, trong thực tế, gia đình Thánh Gia cũng gặp phải những khó khăn, những sóng gió như bất cứ một gia đình nhân loại nào khác.
Còn thử thách nào lớn hơn cảnh nghèo. Vì nghèo mà biết bao gia đình sinh ra bất hoà, ấy thế mà Thánh Gia đã phải trải qua những kinh nghiệm của kiếp nghèo. Ngay khi Chúa Giêsu chuẩn bị ra đời, gia đình Thánh Gia đã bị người ta xua đuổi, bị hất hủi đến nỗi phải trú ngụ trong chuồng bò lừa. Thê thảm hơn nữa, phải sinh con giữa bầy súc vật, không giường chiếu chăn màn.
Còn gì buồn hơn là bị thù ghét, bị săn đuổi? Thánh Gia sống hiền lành khiêm nhường, thế mà phải chịu đựng sự thù ghét của Hêrôđê. Vừa sinh ra, còn trẻ còn non nớt mà cha mẹ đã phải bồng bế con chạy trốn, xa quê hương đất nước, sống nơi đất khách quê người.
Còn cảnh nào bi đát bằng cảnh vợ chồng hiểu lầm nhau? Thế mà Thánh Giuse đã hiểu lầm Đức Mẹ khi Đức Mẹ thụ thai bởi quyền phép Đức Chúa Thánh Thần. Ai đã trải qua cảnh nghi ngờ bị phản bội sẽ hiểu Thánh Giuse đã bị giày vò đau đớn đến mức nào.
Còn gì khiến cha mẹ buồn hơn khi thấy con cái không ngoan ngoãn vâng lời, bỏ nhà ra đi? Vậy mà Thánh Giuse và Đức Mẹ đã phải chứng kiến cảnh đứa con ngoan ngoãn của mình tự động ở lại Đền Thờ mà không xin phép cha mẹ. Các ngài vất vả lo âu tìm kiếm thì ít, nhưng buồn phiền đau khổ thì nhiều. Làm sao các ngài tránh khỏi buồn phiền khi nghĩ rằng người con mà các ngài rất mực yêu quý đã không vâng lời cha mẹ?
Những sóng gió mà Thánh Gia đã phải đương đầu như thế có lẽ nhiều và nặng nề hơn những gia đình bình thường. Thế nhưng các ngài vẫn giữ được hạnh phúc gia đình. Vậy nhờ bí quyết nào các ngài đã vượt qua được biết bao cơn sóng gió như thế?
Trước hết các ngài luôn tìm thánh ý Chúa. Mỗi khi gặp gian nan thử thách, các ngài không tìm ý riêng mình, cũng không tìm ý thích của người đời, nhưng luôn đi tìm ý Thiên Chúa. Tìm ý Chúa mạc khải trong Kinh Thánh, qua các biến cố xảy đến. Tâm sự với Chúa trong giờ cầu nguyện. Hỏi ý kiến Chúa nơi các vị đại diện.
Khi biết được thánh ý Chúa, các ngài lập tức mau mắn vâng lời. Đức Mẹ muốn giữ mình đồng trinh, nhưng khi biết ý Chúa muốn cho Người làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Mẹ liền thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, tôi xin vâng lời thiên sứ truyền”. Thánh Giuse đang muốn bỏ đi, nhưng khi biết ý Chúa muốn cho Người ở lại, Người đã vâng lời ngay không ngần ngại.
Sau cùng, các ngài luôn quên mình vì hạnh phúc của mọi người trong gia đình. Thánh Giuse tuy là gia trưởng, nhưng đã hết tình phục vụ Đức Mẹ và Đức Giêsu. Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng lại xưng mình là tôi tớ của Thiên Chúa. Còn Đức Giêsu là Thiên Chúa, nhưng lại trở thành người con bé nhỏ nhất trong gia đình.
Đến Gia đình chúng ta
Ngày nay, nhiều gia đình gặp khủng hoảng, lâm vào cảnh cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, vì đã không biết áp dụng những bí quyết của Thánh Gia. Mỗi khi gặp khó khăn, thay vì cầu nguyện, đọc Phúc Âm để tìm ý Chúa thì lại đi tìm ý kiến ở những nơi mê tín dị đoan. Thay vì vâng lời Chúa qua các vị bề trên thì lại chỉ tìm ý riêng mình. Thay vì khiêm nhường quên mình thì lại kiêu ngạo tự ái, bắt người khác phải phục vụ mình.
Vậy đâu là phương thế giúp chúng ta có thể trở nên những gia đình mẫu mực như lòng Chúa ước mong? Lời Chúa trong thứ của Thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côlôxê (Cl 3,12-21) đã cho chúng ta biết: “Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia”. Người Việt Nam có câu: “Một sự nhịn, chín sự lành”. Trong đời sống gia đình, làm sao có thể tránh khỏi những lúc xô xát, cãi cọ… nhưng nếu, vợ chồng biết nhường nhịn nhau thì cửa nhà sẽ êm ấm. “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn” là vậy. Ở đây, lý do mà Thánh Phaolô đưa ra khiến ta phải tha thứ cho nhau là vì: Chúa đã tha thứ những lỗi lầm cho chúng ta (x. Cl 3, 13).
Tiếp đến, để giữ được mối thuận hảo trong gia đình, thì: “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,14). Lòng bác ái ở đây phải phát xuất từ con tim chân thành, không kiêu căng, không tự ái, như trong “Bài ca đức ái” mà thánh Phaolô đã dạy: Bác ái là tha thứ, là tin tưởng cậy trông tất cả. Là thông cảm và luôn thứ tha.
Sau cùng, thánh Phaolô khuyên chúng ta: “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3,17). Mỗi khi hành xử, chúng ta hãy đặt câu hỏi rằng: tôi làm điều này, nói điều kia có nhân danh Chúa hay không?
***
Đức Gioan Phaolô II đã viết: “Hôn nhân và gia đình là một trong những tài sản quí báu nhất của nhân loại” (Tông thư Familiaris consortio, số 1). Đã là tài sản quý, thì ai cũng phải có bổn phận giữ gìn, nâng niu và trân trọng. Mừng lễ Thánh Gia thất hôm nay, Giáo Hội ước muốn mỗi gia đình chúng ta hãy nhìn lên tấm gương của gia đình Nazarét để học biết cách gìn giữ hạnh phúc gia đình mình. Nguyện chúc cho tất cả các gia đình luôn sống trong sự bao bọc chở che của tình yêu Chúa, để mai ngày, mọi thành viên trong gia đình chúng ta sẽ được cùng hân hoan vui mừng đoàn tụ với nhau trên thiên quốc để ca tụng tình yêu Chúa muôn đời. Amen.
27.Cầu nguyện, sống còn của gia đình
(Suy niệm của Lm. Minh Anh)
Anh chị em thân mến,
Khi các bài ca của thiên thần ngưng bặt,
Khi những chòm sao trên nền trời Bêlem lặng khuất,
Khi ba vua đã trở lại quê nhà,
Khi các mục đồng cùng đoàn vật đã rút lui,
Thì bấy giờ, công việc Giáng Sinh lại bắt đầu
để tìm kiếm những gì đã mất,
để hàn gắn những gì đổ gãy,
để các tâm hồn được chữa lành,
để các nước được dựng xây trên công lý và hoà bình…
và để nhân loại được sống trong một nền văn minh mới, văn minh tình thương Kitô.
Vậy mà tất cả ấy lại được bắt đầu từ một mái ấm, từ một gia đình, gia đình Nazareth mà chúng ta quen gọi là gia đình Thánh Gia.
Như bao gia đình khác, Thánh Gia cũng đã trải qua những ngày nắng ấm, những chiều giông bão; cả những khoảnh khắc an vui lẫn những phút giây bồi hồi; nhiều lúc rộn rã tiếng cười, bao lần sùi sụt tiếng khóc.
Thử nhìn lại cái thuở ban đầu lưu luyến ấy của đôi bạn trẻ Giuse – Maria. Từ phút truyền tin, từ buổi đón nhau về cho đến ngày sinh con giữa đồng không mông quạnh, hay khi phải ẵm con đỏ hỏn làm khách trọ quê người…, Thánh Gia phải đương đầu với bao thử thách. Thử thách bên ngoài do hoàn cảnh, thử thách bên trong như các trình thuật Tin Mừng cho thấy, “Ông Giuse liền chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập”; “Con ơi, sao con làm thế, này cha con và mẹ phải lo lắng tìm con?”; “Cha mẹ không biết rằng con phải lo việc nhà Cha con sao?”… Đó là cả một khủng hoảng, một thử thách. Ngước nhìn lên hang đá, bóng thánh giá đã thấp thoáng ở đó.
Ấy thế, kính thưa Anh Chị em,
Gia đình ấy vẫn là một gia đình hạnh phúc nhất trần gian, gia đình ấy vẫn trở nên thước ngọc khuôn vàng cho mọi gia đình trong nhân loại. Bởi lẽ, gia đình đó là một gia đình kính sợ Chúa, một gia đình cầu nguyện, một gia đình mà con cái là tất cả của cha mẹ và cha mẹ là tất cả của con cái. Ở đó, cha mẹ là cả một bầu trời cho con cái và con cái là cả một bầu trời của cha mẹ.
Ở đó, có một người cha chăm chỉ làm việc, một người mẹ ít nói nhưng cầu nguyện nhiều và cả hai cùng ra sức làm gương tốt để nuôi dạy và giáo dục trẻ Giêsu nên người, nên thánh. Ở đó, người con Giêsu hằng vâng lời tùng phục cha mẹ mình.
Trước bao khủng hoảng của cuộc sống hôm nay, nền đạo đức luân lý gia đình đang hấp hối, không ít gia đình đang đối diện bên bờ vực đổ vỡ. Đời sống vật chất của một xã hội tiêu thụ và hưởng thụ đang chực nuốt chửng cái giá trị đạo đức truyền thống của gia đình. Cha mẹ ít có thời giờ cho nhau, chẳng có thời giờ để ở với con cái. Chưa bao giờ mà con cái vuột mất khỏi tầm tay cha mẹ như hôm nay. Cha mẹ mất con ngay khi con đang ở trong nhà. Gương lành gương tốt đang trở nên một cái gì xa xỉ và hiếm hoi. Đó là chưa nói đến gương mù gương xấu nhan nhản trên báo chí, trên phim ảnh, trên truyền hình…
Hỡi những người làm cha làm mẹ, cả những người làm con, hãy nhìn lên Thánh Gia. Hãy chiêm ngắm Giuse, Maria và trẻ Giêsu: những tấm gương ngời sáng của một người cha, một người mẹ và một người con hết lòng vì gia đình. Hãy làm sống lại truyền thống gia phong Á Đông của cha ông.
Chuyện kể về một người chuyên nuôi cá cảnh. Một hôm, trong kỳ hè, khi đang dạo chơi trước các quầy hàng dọc theo bờ biển, anh thấy một con cá ngũ sắc tuyệt đẹp trong một chậu thủy tinh ở quầy. Đó là một con cá nước mặn xinh xắn mà anh chưa từng thấy, anh quyết định mua về. Về đến nhà, anh ra sức chăm sóc nó và áp dụng những phương pháp tốt nhất của một nhà chuyên môn.
Trước hết, anh đặt cá vào chậu nước mặn, cá lội tung tăng trong môi trường quen thuộc. Thế nhưng, một tuần sau, với sáng kiến, anh thêm vào một ít nước ngọt, mỗi ngày một ít. Cứ thế, anh tăng dần nước ngọt cho đến khi chú cá quen hẳn với môi trường mới. Không dừng lại ở đó, anh tiếp tục luyện cá. Mỗi ngày, anh bắt đầu đổ vào chậu một ít bùn, và cứ thế, sau nhiều tuần, nhiều tháng, lượng bùn được tăng lên cho đến khi con cá quen hẳn với việc ngày ngày nằm trên mặt bùn đớp mồi như một loài bò sát. Chưa hết, anh tập cho cá ra khỏi chậu và lẽo đẽo theo anh như một con cún cưng. Anh đã thành công, vì mỗi lần anh đi đâu, con cá màu ngoan ngoãn theo sau. Cho đến một ngày kia, chuyện đã xảy ra khi anh có việc sang nhà một người bạn, có chú cá cùng đi. Lúc trở về, trời đổ mưa, anh phải chạy thật nhanh và quên mất chú cá. Sực nhớ, anh quay lại tìm, nhưng chẳng thấy đâu cho đến khi gặp một vũng nước trên đường, thì hỡi ôi, chú cá yêu quý của anh nằm chết trong đó vì nó không biết bơi.
Anh Chị em,
Câu chuyện khiến chúng ta rùng mình sởn ốc khi nhớ đến trách nhiệm và bổn phận của một người làm cha làm mẹ trong việc giáo dục và làm gương sáng cho con cái. Vì “nửa cuộc đời còn lại của một con người được hình thành từ những thói quen có được từ nửa cuộc đời trước đó”. Thói quen cầu nguyện, thói quen đạo đức, thói quen lễ phép, thói quen dùng thời giờ, thói quen học hành, thói quen dùng tiền…, nghĩa là giáo dục thế nào, kết quả thể ấy.
Muốn được như thế, gia đình chúng ta phải là một gia đình mà Thiên Chúa phải chiếm địa vị tối thượng tuyệt đối trong bậc thang các giá trị. “Không ai hơn Chúa, không chi bằng Chúa, Chúa trên hết, Chúa trước hết”. Bởi lẽ, gia đình được dựng xây và phát xuất từ gia đình yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi. Nếu Thiên Chúa không chiếm địa vị độc tôn tối thượng, mọi trật tự sẽ đảo lộn. Có Chúa, gia đình sẽ là một gia đình cầu nguyện. Nhưng để trở nên một gia đình cầu nguyện, để nuôi dưỡng đời sống đức tin, chúng ta phải lưu ý đến ba hình thức cầu nguyện:
1. Trước hết là hình thức cầu nguyện riêng tư, cá nhân. Mỗi người trong gia đình cầu nguyện riêng với Chúa. Đời sống đức tin phải được đặt nền tảng trên việc trải nghiệm cá nhân với Chúa. Một trong những món quà quý báu nhất mà cha mẹ có thể ban tặng cho con cái là tập tành dạy dỗ và làm cho chúng biết yêu thích cùng thưởng thức những giây phút cầu nguyện một mình. Không cách nào để thực hiện điều đó tốt hơn là dùng chính những gương sáng cầu nguyện của mình.
2. Hình thức thứ hai của việc cầu nguyện trong gia đình là cầu nguyện chung: kinh nguyện gia đình. Kinh nghiệm cho thấy, các gia đình bỏ kinh, bỏ cơm chung… là dấu hiệu cho thấy sự rạn nứt. Có hình ảnh nào dễ thương hơn khi mọi người được lắng nghe Lời Chúa trong những giây phút này. Hãy để Chúa Thánh Thần dạy dỗ mỗi khi đêm về nhiều hơn thay vì cả nhà ngồi chầu trước con quái vật một mắt để nghe con người dạy bảo.
Thống Tướng Douglas MacArthur, Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ Quân Đội Philippines thập niên 1930, người đã để lại một câu nói bất hủ: “In war, there is no substitute for victory”, “Trong chiến tranh, không có gì thay thế được chiến thắng”; vậy mà trong tiểu sử của ông còn có một câu nói bất hủ hơn: “Tôi là một quân nhân chuyên nghiệp, tôi hãnh diện về điều ấy. Nhưng tôi còn hãnh diện hơn, hãnh diện hơn rất nhiều vì được làm một người cha… và niềm hy vọng của tôi là: Khi tôi đã về bên kia thế giới, thì con tôi vẫn nhớ đến tôi không phải với những hình ảnh oanh liệt ở chiến trận mà là những hình ảnh ở nhà tôi, khi tôi cùng đọc với nó những lời kinh thường đọc hằng ngày: “Lạy Cha chúng con ở trên trời…”.
3. Cuối cùng, cầu nguyện với cộng đoàn, Nhà Thờ phải là ngôi nhà thứ hai của mỗi gia đình. Ở đó, cùng với cộng đoàn, mỗi người thờ phượng và tạ ơn Thiên Chúa, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và các Bí Tích cùng những sinh hoạt không thể thiếu khác với cộng đoàn dân Chúa.
Lễ Thánh Gia hôm nay là dịp để chúng ta tự vấn về việc cầu nguyện trong gia đình của mình. Cầu nguyện có phải là một phần sống chết của gia đình tôi không? Cụ thể hơn là chúng ta – cha mẹ, con trai, con gái – đã góp phần và làm gương sáng vào đời sống cầu nguyện trong gia đình thế nào?
Để kết thúc, chúng ta cùng hiệp thông cầu nguyện với Nguyên Soái Douglas McArthur khi ông đang ở chiến trường Philippines trong những ngày mở đầu cuộc chiến Thái Bình Dương.
“Lạy Cha, xin ban cho đứa con của con đủ sức mạnh để biết được lúc nào nó yếu đuối, đủ dũng cảm để đối diện với chính mình khi nó cảm thấy sợ hãi… Xin đừng để cho đứa con của con chỉ biết ước muốn mà không dám hành động… Xin đừng để nó đi vào con đường dễ dãi tiện nghi, nhưng hãy hướng dẫn nó đi vào con đường bắt buộc nó phải cố gắng vượt qua những khó khăn thử thách.
Xin hãy tập cho nó đứng vững trong bão tố, nhưng lại biết thông cảm với những ai gục ngã.
Xin hãy ban cho đứa con của con có một trái tim trong sạch, có một mục đích cao cả, biết tự chủ lấy mình trước khi muốn làm chủ người khác, biết lo lắng cho tương lai mà không bao giờ quên lãng quá khứ.
Và khi Chúa đã ban cho nó tất cả những điều ấy, xin cũng hãy ban cho nó có đủ tính hài hước để có thể luôn nghiêm nghị nhưng không bao giờ nghiêm nghị một cách quá đáng.
Như vậy, là cha nó, con dám tự nhủ rằng, con đã không sống một cách vô ích”.
Mừng kính Thánh Gia hôm nay, chúng ta cầu nguyện cho các bậc làm cha mẹ luôn ý thức tầm quan trọng của việc hình thành những chiếc khuôn giáo dục nhân cách, đạo đức cho con cái. Xin cho mọi thành phần trong gia đình luôn biết làm gương sáng cho nhau, gương sáng cầu nguyện, gương sáng yêu thương quên mình. Ở đó, tình yêu, chứng tá hùng hồn nhất của Tin Mừng luôn được hâm nóng và toả sáng cho mọi người chung quanh. Nguyện xin Thánh Gia luôn che chở, cầu bầu và ban bình an cho gia đình Anh Chị em trong Mùa Giáng Sinh hồng ân và suốt cả Năm Mới này. Amen.
(Tham khảo thêm New Sunday & Holy Day Liturgies by Flor McCarthy)
(Suy niệm của Trần Văn Ngữ, SJ.)
Để bước vào đời sống hôn nhân, các bạn trẻ cần chuẩn bị gì cho gia đình mới của mình? Đâu là lối sống và ước mơ để xây dựng một gia đình hạnh phúc? Làm sao để nuôi dạy cho con khôn lớn? v.v…… Đây chắc hẳn là các mối ưu tư chính đáng của những ai chọn sống ơn gọi gia đình.
Cha mẹ nào mà chẳng muốn tạo dựng một gia đình êm ấm và chu cấp cho những người con yêu quý của mình đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, nhưng giữa dòng đời, con thuyền gia đình luôn phải đối diện với nhiều cơn sóng dữ. Con thuyền gia đình sẽ dễ bị đánh chìm, nếu thiếu tình yêu, thiếu sự bao dung tha thứ và ít cảm thông…
Hôm nay, Giáo hội mừng lễ Thánh Gia Thất. Đây không chỉ là một ngày lễ đến sau ngày lễ mừng Chúa Giáng Sinh, mà còn là một thời khắc quan trọng để Giáo hội giới thiệu cho các gia đình Công giáo một mẫu gương về đời sống gia đình. Chiêm ngắm Gia đình Thánh gia chúng ta xác tín rằng: gia đình là món quà vô giá từ Thiên Chúa. Ngay từ thủa tạo dựng con người, Thiên Chúa đã chúc phúc cho người nam và người nữ. Ngài gắn kết họ thành một xương một thịt, và trao tặng những đứa con cho gia đình. Thiên Chúa trao gửi cho mỗi người một nhiệm vụ riêng để họ tương trợ lẫn nhau và cần tới nhau. Cho nên, gia đình là nơi đẹp nhất, diễn tả tình yêu của Thiên Chúa một cách trọn vẹn và cụ thể nhất.
Các tác giả Tin Mừng không kể nhiều về Gia đình Thánh gia. Nhưng chỉ với một vài câu ngắn ngọn, thánh sử Luca cho thấy: “Hài Nhi Giê-su ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa”. Hài Nhi được lớn khôn cả về thể chất lẫn tinh thần, vì được dưỡng dục trong một bầu khí gia đình tốt lành. Đây chắc hẳn là điều mà nhiều cha mẹ muốn dành tặng cho những đứa con của mình!
Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật mừng lễ Thánh Gia Thất hôm nay,[1] thánh Luca khéo léo vén mở cho chúng ta “bí quyết sống” của Gia đình Thánh gia:
Thứ nhất, Gia đình Thánh gia sống gần gũi với Thiên Chúa: “Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Mô-sê, bà Ma-ri-a và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem , để tiến dâng cho Chúa” (Lc 2, 22). Có thể nói, Gia đình Thánh Gia là một gia đình đạo đức. Ở những đoạn văn tiếp theo, chúng ta còn biết thêm rằng: “Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua….” (Lc 2, 41). Cũng như các gia đình cùng thời, Gia đình Thánh Gia đã tham dự những ngày lễ kỷ niệm các biến cố quan trọng trong nhịp sống đời thường. Mỗi ngày lễ là một cơ hội nhắc nhở cho các Ngài về việc xây dựng mối tương quan thường xuyên và thân mật với Thiên Chúa.
Thứ đến, Gia đình Thánh gia sống hết lòng theo những gì Luật Chúa dạy. Ngay từ những ngày đầu đời, Hài Nhi Giê-su đã được “cắm rễ sâu” vào Luật pháp của Đức Chúa Trời. Sau này, trong thời gian rao giảng công khai, Chúa Giê-su nhấn mạnh: “Anh em đừng tưởng rằng Thầy đến để bãi bỏ luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17). Thực vậy, những gì luật Mô-sê dạy là kế hoạch của Thiên Chúa trong thời Cựu Uớc để cứu sống dân Do Thái. Còn luật Chúa Giê-su đem đến trong thời Tân Ước là để cứu rỗi mọi người.
Có thể tóm tắt ngắn gọn, bí quyết sống của Gia đình Thánh gia là sống thân mật với Người tặng quà – chính là Thiên Chúa. Nhờ thế, món quà gia đình tràn đầy sức sống, vì được liên kết với Người cho quà. Ở đây, chúng ta cần phân biệt: sự gắn bó mật thiết với Thiên Chúa, không có nghĩa là Thiên Chúa sẽ cất đi khỏi gia đình chúng ta mọi khó khăn cũng như thử thách, nhưng nên hiểu là Thiên Chúa đảm bảo cho gia đình chúng ta sẽ nhận được những ân sủng cần thiết để vượt qua các sóng gió chông gai. Gia đình Thánh gia cũng như gia đình chúng ta, các Ngài cũng phải đối diện với những khó khăn của đời sống thường ngày.
Tuy không thấy các sách Tin Mừng kể về những khó khăn của Gia đình Thánh gia, nhưng chúng ta chắc chắn rằng, các Ngài là một gia đình nghèo. Của lễ dâng cho Thiên Chúa là “một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non”, cho chúng ta biết rằng Thánh Giuse và Mẹ Maria là những người nghèo. Chính Hài Nhi Giê-su đã được sinh ra nơi máng cỏ. Ngài đã bắt đầu cuộc sống và lớn lên trong một gia đình nghèo. Sau này, Chúa Giê-su sống gần gũi với người nghèo, và Ngài luôn ủng hộ người nghèo trong suốt sứ vụ của mình.
Gia đình thánh Giuse là một gia đình nghèo vật chất, nhưng rất giàu tình nghĩa với nhau và tình yêu với Thiên Chúa. Còn chúng ta ngày nay, nhiều gia đình dư thừa của cải, nhưng đời sống gia đình thì nghèo nàn và gặp nhiều khủng hoảng, vì thiếu mối dây liên kết với Thiên Chúa, hoặc không coi trọng những giây phút sống thiêng liêng trong gia đình.
Một nếp sống đạo rất đẹp trong các gia đình Công giáo là dành thời gian để cùng nhau cầu nguyện đang bị mai một. Những giây phút của các buổi đọc kinh chung trong gia đình đang dần dần bị những sinh hoạt khác lấn át với hàng ngàn lý do chính đáng khác nhau. Cơ hội để cùng nhau đi tham dự thánh lễ cũng bị mất dần. Hoặc có cùng nhau tham dự thánh lễ chung, nhưng lòng trí lo ra và bị chi phối bởi nhiều điều khác.
Để cuộc sống gia đình không bị nhấn chìm dưới những con sóng dữ giữa dòng đời, thiết nghĩ các bậc cha mẹ cần lưu tâm kiến tạo đời sống thiêng liêng trong gia đình. Biết trân quý những khoảng lặng trong cuộc sống để cùng nhau bày tỏ lòng biết ơn về các ơn lành mà chúng ta đã nhận được. Cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa, vì lòng nhân từ của Ngài. Cầu xin Thiên Chúa hướng dẫn và tha thứ cho những thiếu sót của mình với nhau. Các cha mẹ cần cầu nguyện chung với con cái, và dạy chúng cầu nguyện. Hãy để cho Chúa có cơ hội bước vào trong cuộc sống hàng ngày của mình. Bên cạnh đó, các gia đình nên gìn giữ những buổi dùng cơm chung với nhau. Chính nơi bàn ăn là cơ hội để thể hiện sự chia sẻ và quan tâm tới nhau.
Cuộc sống gia đình đầy sóng gió chông gai, nhưng cũng đầy tràn niềm vui và hạnh phúc. Thiên Chúa chúc phúc cho mọi gia đình và hứa ban những ơn cần thiết, để các gia đình vượt qua khó khăn thử thách và trở nên tổ ấm yêu thương. Ân sủng của Thiên Chúa không chỉ tỏ hiện trong ngày cử hành bí tích hôn phối, mà còn kéo dài trong suốt cuộc sống gia đình.
Mừng lễ Thánh Gia Thất, chúng ta không chỉ chiêm ngắm một Gia đình Thánh gia sống gương mẫu, mà chúng ta còn được mời gọi xây dựng một gia đình tốt lành như lòng Chúa mong ước. Amen.
—————————-
[1] Lc 2,22-40
(Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí)
Chúng ta cùng cả Giáo Hội Việt Nam dành năm 2014 cho việc nhìn lại đời sống gia đình để cùng nhau làm cho Tin Mừng trở nên mới mẻ và thành động lực sống cho gia đình. Lý do Giáo Hội Việt Nam và Giáo phận chúng ta chọn năm nay cho việc Sống và loan báo Tin Mừng là vì trong những năm vừa qua nhìn lại lại đời sống của các gia đình, nó đã mất đi nhiều vẻ đẹp và sự tươi sáng của một mái ấm, mà thay vào đó, gia đình đang chịu sức ép và sự công phá nặng nề bới các khuynh hướng của xã hội đưa đến sự đổ vỡ, bất hạnh và nạn nhân đầu tiên của các cuộc chiến trong gia đình chính là con cái.
Ai cũng biết rằng gia đình là tế bào đầu tiên của xã hội, là Hội Thánh tại gia, thế nhưng nhiều gia đình đã bỏ quên đời sống cầu nguyện, đã không còn phải là một tổ ấm hiệp nhất yêu thương, đã không còn là nơi an toàn cho con cái và sự sống, và mất đi nhiệt tâm sống đạo và giới thiệu về Chúa Kitô cho người bên cạnh.
Nhìn vào những bản thống kê gần đây thực sự đã gây lo ngại cho tương lai của các gia đình, các cuộc hôn nhân không tình yêu, hôn nhân vì kinh tế với người ngoại kiều gia tăng. Tình trạng hôn nhân tan vỡ đã lên đến mức báo động khoảng 40%, trong đó người Công Giáo khoảng 15%. Tình trạng bỏ quê lên thành phố hoặc vào Nam làm ăn khiến cho hàng chục triệu người phải ly tán xa gia đình vì công ăn việc làm. Con số ca nạo phá thai ở một số các bệnh viện lớn khoảng 300.000 ca trong một năm… và bao nhiêu vấn đề về kinh tế, lối sống khác nữa đang ảnh hưởng đến gia đình.
Trong bối cảnh ấy chúng ta mừng lễ Thánh Gia Chúa Giêsu Đức Mẹ và Thánh Giuse, đồng thời mừng các gia đình kỷ niệm giáp năm ngày thành hôn, đây là dịp tốt nhất để chúng ta nhìn vào mẫu gương gia đình của Chúa để soi rọi và điều chỉnh gia đình của mình.
Không phải chỉ ngày nay mới có nhiều khó khăn cho gia đình, nhưng có thể nói thời nào cũng có những khó khăn riêng của nó, và vì thế Giuse Maria cũng có những khó khăn riêng trong gia đình của các Ngài, nhưng các Ngài vẫn giữ gìn được sự bình an và làm cho gia đình mình trở thành một gia đình tuy nghèo nàn đơn sơ, nhưng rất ấm cúng, hạnh phúc và thánh thiện. Các Ngài đã làm cách nào?
Các Ngài đã biến gia đình mình trở thành một gia đình cầu nguyện. Nói như thế không có nghĩa là lúc nào họ cũng đọc kinh, mà là gia đình của các ngài luôn sống trong bầu khí cầu nguyện, luôn có tâm tình cầu nguyện. Vì Giuse Maria rất ý thức về sự hiện diện của Chúa trong gia đình của mình, Đức Giêsu vừa là con, song lại vừa là Thiên Chúa đang ở trong gia đình, nên mọi công việc, mọi lo toan trong gia đình, hai ông bà đã làm vì Chúa và làm mọi việc để cho Chúa được lớn lên trong gia đình. Chính vì thế họ dễ dàng nhận ra tiếng nói của Thiên Chúa qua lời mộng báo đem trẻ Giêsu và Mẹ Người trốn qua Ai Cập để tránh nguy hiểm cho Giêsu.
Chắc chắn nhìn vào khung cảnh của hang đá giáng sinh chúng ta đã có thể thấy được bầu khí đạo đức thánh thiện và yêu thương toát lên từ gia đình này. Gia đình này đã nêu gương cho tình tình yêu chung thủy. Có những lúc Giuse bị “cám dỗ” giải quyết vấn đề theo thói thường của xã hội, tức là chấp nhận một cuộc ly hôn, bỏ trốn một mình. Thế nhưng trong hoàn cảnh ấy, Giuse vẫn dằn vặt để mong tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa trong thử thách đầu đời cuộc sống gia đình của mình. Vì trăn trở và lo lắng cho Maria, nên Giuse đã không tố cáo Maria, mà lại đón nhận Maria về nhà theo lời của Sứ thần mộng báo. Điều đó chứng tỏ Giuse đã chọn để trung tín trong cuộc sống hôn nhân mà Chúa đã muốn, là đón nhận và yêu thương Maria như là vợ của mình.
Kế đến Gia đình Thánh Gia nêu gương bảo vệ sự sống. Sự sống là quà tặng của Thiên Chúa, thuộc chủ quyền của Thiên Chúa, con người không bao giờ được phép định đoạt cho đứa con này được sống, được sinh ra, đứa kia phải chết. Giuse và Maria ý thức rất rõ mầm sống trong lòng của Maria là chính Thiên Chúa nữa. Vì thế mà Giuse và Maria đã hết lòng để bênh vực và bảo vệ sư sống này. Khi vua Herode ra lệnh tiêu diệt tất cả các hài nhi trong vùng, thì Giuse đã dựa vào giải pháp của Thiên Chúa, đó là đem Hài nhi và Mẹ Người trốn qua Ai Cập. Một cuộc tẩu thoát như thế quả thật là nhiều nguy hiểm gian nan, nhưng bằng mọi giá, Giuse đã đem Maria và Hài nhi ra đi ngay lúc nửa đêm để tránh bàn tay độc ác của Herôđe và bảo vệ sự an toàn cho hài nhi. Rồi khi được lệnh trở về, Giuse cũng đã khôn ngoan để chọn vùng Nazaret là một làng quê bình yên để cư ngụ giúp cho sự an toàn của hài nhi và cả gia đình.
Sau cùng, Gia đình Thánh gia đã nêu gương cho chúng ta trong việc sống và loan báo Tin Mừng. Nếu hiểu Tin Mừng là tin vui cứu độ, tin giải thoát cho nhân loại và chính con người của Chúa Giêsu là Tin Mừng, Ngài đến từ Thiên Chúa để ở với con người, thì Giuse Maria quả thật đã trở thành tấm gương sống và loan báo Tin Mừng này. Giuse Maria đã sống Tin Mừng bằng cách mở rộng tâm hồn để cho Thiên Chúa, Đấng cứu thế bước vào tâm hồn và chi phối cuộc đời của mình. Cả Giuse và Maria không thể hiểu hết những lời giải thích của sứ thần về việc đầu thai của Hài nhi, của việc đón nhận Hài nhi và đặt tên là Giêsu, song ông bà đã xin vâng không hề nghi nan. Trong khung cảnh Giáng sinh thì chính Giuse và Maria đã giới thiệu Hài nhi mới sinh bọc trong khăn và đặt nằm nơi máng cỏ cho các mục đồng, cho các nhà đạo sĩ và chắc chắn các mục đồng các đạo sĩ không chỉ thờ lạy Hải nhi mà còn được ẵm bế hài nhi và tin rằng Ngài là tin vui cho toàn dân.
Thưa quý OBACE, với trách nhiệm làm cha mẹ, có khi nào chúng ta tự đặt vấn đề với nhau hoặc với chính mình để tìm nguyên nhân tại sao gia đình mình không hạnh phúc? Tại sao gia đình mình hay lục đục cãi vã…? Đừng tránh né sự thật hãy đặt vấn đề với chính lương tâm của mình chúng ta sẽ tìm được câu trả lời.
Nhiều gia đình hôm nay đã để cho cái ti vi và các chương trình trên đó thống lĩnh suốt ngày trong gia đình và khiến họ không còn giờ cho việc đọc kinh mỗi tối, không còn giờ để nói chuyện với nhau, và thậm chí bữa cơm gia đình mọi người cũng dán mắt vào cái tivi và không còn cười đùa được với nhau nữa. Vì không nói chuyện được với nhau, khiến họ cũng không thể hiểu nhau và không còn thông cảm yêu thương nhau được nữa.
Nhiều cha mẹ vì ích kỷ hẹp hòi, vì thiếu lòng quảng đại mà họ biến gia đình mình trở thành lò sát sinh, giết chết nhiều đứa con của mình. Một gia đình như thế sẽ không thể có bằng an trong tâm hồn và vì thế sẽ không thể nào có bình an trong gia đình, ngược lai chỉ có sự dằn vặt và cắu gắt mà thôi. Nhiều gia đình khác đã không biết phải dạy dỗ con cái thế nào, đã để cho công việc, ăn uống say sưa, cờ bạc, cá độ và bạn bè chiếm hết thời giờ của con cái, khiến cho con cái cảm thấy lạc lõng ngay trong gia đình.
Hãy tạ ơn Chúa vì hồng ân gia đình Chúa ban cho mỗi người, và tạ ơn Chúa vì món quà là vợ, là chồng, là con cái Chúa đã ban tặng cho gia đình. Hãy đón nhận nhau như là quà tặng của Thiên Chúa để biết trân trọng đối với nhau và nhất là trân trọng với Đấng đã trao tặng mình. Hãy nhìn vào gia đình Thánh gia để học ở nơi đó tấm gương của người chồng, người vợ thánh này, mà biết vun đắp cho gia đình mình trở nên một gia đình thánh thiện, ấm cúng, thuận hòa.
Điều chúng ta cần quan tâm không chỉ là gia đình chúng ta ăn cái gì, mua sắm cái gì, điều mà mọi người cần phải đầu tư nhiều hơn đó là gia đình chúng ta sống như thế nào, có hạnh phúc hay không. Đó mới là điều đáng hãnh diện và mơ ước. Khi vun đắp cho gia đình mình mỗi ngày như thế, thì chúng ta sẽ là gia đình sống và làm chứng về Chúa cho người chung quanh. Amen.
Đoạn Phúc âm được đề nghị với chúng ta hôm nay thuật lại những sự kiện khá đơn giản, xét về bản chất chúng ta. Nếu coi đó như một đoạn văn, không hơn không kém thì có thể đặt một vài câu hỏi, về chi tiết thôi, chẳng hạn: sau khi dâng Con trẻ Giêsu trong Đền thờ, ông Giuse và bà Maria có thể trở về Nazaret ngay không? Vụ lánh nạn sang Ai Cập xảy ra lúc nào? Chúng ta đừng tìm kiếm trong Phúc âm một thứ tự rõ ràng, chắc chắn, cho ngày tháng và sự kiện. Điều chắc là thời kỳ Con trẻ Giêsu hết là ‘bé thơ’, giờ là một ‘nhi đồng’, đang lớn lên về phạm vi thiêng liêng – hai ông bà đã trở lại Nazarét rồi. Nghiên cứu đoạn văn người ta có thể dừng lại ở hai nhận vật Simêon và Anna, để suy niệm về sự kiện tâm trông đợi Đấng Cứu Thế và cầu nguyện của hai vị về lời tiên tri Simêon, khiến cho Maria lo sợ một kết cục đau khổ (cuộc thương khó của Đức Giêsu). Tốt hơn, chúng ta hãy chọn một đề tài cao hơn, đó là một tư tưởng lớn nằm trong hạ tầng toàn bộ Phúc âm và được thánh Luca diễn tả như sau: Con trẻ lớn lên, thân thể phát triển và được ơn khôn ngoan sung mãn. Ý niệm lớn đó là ý niệm tăng trưởng.
1) Chúng ta gặp thấy sự tăng trưởng thiêng liêng trước hết ở bà Maria và ông Giuse. Maria được gọi là người có phúc lớn, vì đã tin, trong biến cố Truyền tin. Rõ ràng là ở giây phút ấy nàng tin vào đề nghị của Thiên Chúa yêu cầu nàng ưng thuận một sự kiện xảy ra lúc đó. Đức tin của nàng không cho nàng xem thấy trước phối cảnh tương lai của toàn thể lịch sử Đức Giêsu, lúc đó mới sinh ra trong lòng nàng. Do một sự ưng thuận mỗi ngày, liên tục, nàng tiến dần vào mầu nhiệm định mệnh đời mình. Niềm tin Maria là 1 niềm tin luôn luôn tăng trưởng. Lời tiên tri của Simêông cho nàng biết trước 1 đường đời đau khổ, nhưng không cho rõ chi tiết. Do sự ưng thuận ngày một đổi mới, nhắc đi nhắc lại, Trinh nữ Maria hiểu rõ thêm Thiên Chúa đòi hòi gì ở nàng, biết rõ thêm Con Trẻ Giêsu là ai. Đối với Giuse cũng vậy. Đây là một điều quan trọng đối với chúng ta. Dường như mầu nhiệm tăng trưởng nhân tính của Đức Giêsu có mục đích là nhờ đức tin đưa chúng ta tiến vào mầu nhiệm tăng trưởng thần tính của chúng ta. Sự tăng trưởng thần tính đó, Maria và Giuse là những người đầu tiên được hưởng. Thật là một điều tốt lành khi nghĩ rằng hai ông bà rất gần với chúng ta trong điểm đó. Vì đã trải qua nên biết rõ, hai ông bà cầu bầu cho niềm tin của chúng ta tăng trưởng tốt.
2) Con trẻ lớn lên… Điều ghi nhận này liên hệ trực tiếp đến sự tăng trưởng thể chất của Đức Giêsu. Đó là một sự kiện trong phần lịch sử đã qua, thật sự qua rồi. Tuy nhiên có một sự kiện khác thuộc lĩnh vực mầu nhiệm, được hoàn tất trong lịch sử của chúng ta, ngày nay Đức Kitô tiếp tục lớn lên. Thật vậy, Người không những là Giêsu, một người như những người khác, đã sống ở Palextin từ năm nào đến năm nào đó. Người còn là Con Thiên Chúa đã xuống thế để thần hoá nhân loại. Người tiếp tục lớn lên trong nhân loại. Thánh Phaolô nói đên sự xây dựng thân thể mầu nhiệm Đức Kitô cho đến khi chúng ta hết thảy đạt thấu sự duy nhất trong kính tin và am tường về Con Thiên Chúa, mà nên người thành toàn, đạt đến tầm vóc xứng với sự viên mãn của Đức Kitô (Eph.4,13). Như vậy, Đức Kitô lớn lên trong tâm khảm sâu thẳm của mỗi người chúng ta. Dịp lễ Thánh Gia Thất, Giáo Hội dùng một đoạn Phúc âm gợi lên một trong những mối quan tâm chủ yếu của mọi gia đình, đó là sự lớn lên của đứa con. Chúng ta có thể từ đó suy niệm về sự lớn lên của Đức Kitô trong đại gia đình loài người, nghĩa là trong tâm hồn mỗi chúng ta.
(Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển, S.S.P.)
Người ta thường nói: “Chúng ta có nhiều chốn để đi, nhưng chỉ có một nơi để về, đó là gia đình”. Tuy nhiên, thực tế ngày nay lại khác, bởi nhiều người đã không còn coi gia đình là mái ấm, lý do: nơi ấy thiếu tình yêu thương, trách nhiệm và cũng chẳng còn hấp dẫn nếu không muốn nói là đang ngày càng bị đe dọa!
Hôm nay, Giáo Hội muốn giới thiệu đến chúng ta một Gia Đình Thánh, đó là gia đình Thánh Gia. Qua đó, Giáo Hội muốn con cái mình noi gương bắt chước Mẹ Maria, thánh Giuse và Đức Giêsu trong việc xây dựng gia đình trên nền tảng tình yêu và trách nhiệm.
1. Thực trạng gia đình hiện nay
Nhà thơ Nguyễn Du đã từng nói: “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
Thật vậy, nhìn vào thực tế nhiều gia đình hiện nay, chúng ta không thể không lo ngại và thất vọng, bởi vì:
Có những điều mà ngày xưa người ta coi đó là quái gở, nhưng hôm nay lại là chuyện bình thường được diễn ra như cơm bữa hằng ngày!
Chẳng hạn như chuyện nạo phá thai. Đi ra ngoài đường, chúng ta thấy những trung tâm, phòng khám, nhan nhản mọc lên với những tấm biển nhìn mà thấy ớn lạnh như: “Phá thai an toàn, không đau”; “Siêu âm, hút thai bằng thuốc”.
Chính sự dễ dàng và công khai, cộng thêm chuyện yêu đương bừa bãi hoặc những người cha người mẹ không có tình yêu, thiếu trách nhiệm, nên họ sẵn sàng đang tâm giết chính đứa con vô tội của mình một cách bình thường mà không hề áy náy!
Mặt khác, cảnh ly dị đang dần trở thành thông lệ. Không chỉ những người đã xây dựng gia đình muốn ly dị, mà ngay cả những bạn trẻ chưa lấy vợ lấy chồng mà đã đi tìm “đường thoát hiểm”, cho ngày chia tay trong tương lai! Đây là một nỗi buồn tê tái, bởi vì những cặp vợ chồng ly dị, hậu quả khôn lường, bi đát sẽ đổ dồn lên đầu những đứa con thơ ngây, vô tội.
Hơn nữa, lại có nhiều gia đình ngày nay không dám sinh nhiều con, họ biện minh là không có điều kiện, thời gian…, nên chỉ sinh 1 hoặc 2 con.
Đây là một lựa chọn không thực tế do thói ích kỷ của các bậc làm cha mẹ, nên đã dẫn đến tình trạng bi đát nơi các gia đình.
Thật vậy, khi sinh ít con, bố mẹ thường hay chiều chuộng thái quá. Vì thế, xảy ra tình trạng như: chúng luôn nghĩ mình là thành phần quan trọng nhất trong gia đình, nên nó có quyền đòi buộc mọi người phải phục vụ và đáp ứng mọi nhu cầu. Nếu không, chúng có thể quậy phá, chửi bới, đánh đập…. Đã có biết bao nhiêu bậc cha mẹ bị con cái đánh, chửi, và ngay cả giết chết chỉ vì không đáp ứng đúng như yêu sách của chúng.
Cũng có khá nhiều bậc cha mẹ ít quan tâm đến con cái, mà chỉ lo kiếm tiền hay quá tập trung đến công việc…, mà quên đi tình yêu thương, bổn phận, trách nhiệm của mình với con cái. Vì thế, sau này, đứa trẻ lớn lên nó sẽ vô cảm và dửng dưng với chính bậc sinh thành!
Nguyên nhân dẫn đến chuyện bi đát ấy là: người ta ít coi trọng chữ tín và trách nhiệm với nhau. Từ đó, họ đâu còn để ý hay nâng niu tình yêu và chung thủy trong đời sống gia đình.
Bên cạnh đó, việc hội nhập những nền văn hóa ngoại lai cách vội vàng và thiếu lành mạnh, đã khiến cho chúng ta bị chới với và buông theo khi chưa phân định đúng đắn trong việc chọn lựa.
Trên đây chính là nguyên nhân dẫn đến chuyện bạo lực, ly hôn, ly dị và thiếu trách nhiệm nơi gia đình.
Đây cũng là nguyện nhân làm đảo lộn giá trị đạo đức tốt đẹp của các gia đình hiện nay.
2. Mẫu gương cho các gia đình
Trong khi xã hội và con người ngày nay ít chú tâm đến trách nhiệm cũng như sự chung thủy nơi các gia đình, thì phụng vụ Giáo Hội làm toát lên gương mẫu của gia đình Thánh Gia để cho các bậc cha mẹ và con cái noi theo.
Trước tiên, nơi Đức Mẹ và thánh Giuse, các ngài đã để lại cho các bậc cha mẹ mẫu gương tuyệt vời về hai chữ “trách nhiệm”.
Các ngài có trách nhiệm với Thiên Chúa, với nhau và với con cái. Vì thế, hai ông bà đã bồng ẵm Hài Nhi Giêsu lên đền thờ Giêrusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa, cũng như thanh tẩy cho Mẹ của Hài Nhi theo luật định.
Đây chính là quy định trong Luật của Môsê, và hai ông bà đã sẵn sàng chu toàn với đầy trách nhiệm trong lòng mến.
Trách nhiệm của Đức Mẹ và thánh Giuse còn được rõ nét khi hai ông bà đang đêm đem Hài Nhi trốn sang Aicập, rồi một thời gian sau lại từ Aicập trở về. Hơn nữa, năm Đức Giêsu lên 12 tuổi, khi lạc mất con trong đền thờ, hai ông bà đã lặn lội ngược xuôi để tìm cho kỳ được.
Đây là mẫu gương tuyệt vời của Đức Mẹ và thánh Giuse.
Còn với Đức Giêsu, ngài là một người con hiếu thảo, ngoan ngoãn, vâng lời. Vì thế, Kinh Thánh đã diễn tả như sau:
“Hài Nhi ngày càng lớn lên, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa”.
Đức Giêsu đã hiện diện và sống trong một gia đình coi trọng trách nhiệm và sự thủy chung, vì thế, Ngài cũng là một người con đầy trách nhiệm. Trách nhiệm trước tiên với Thiên Chúa, sau là với cha mẹ của mình. Vì thế, trước mặt Thiên Chúa, Ngài được tràn đầy ân sủng. Trước mặt Đức Mẹ và thánh Giuse thì Ngài hằng vâng phục các ngài.
Mẫu gương thứ hai cho các gia đình là mẫu gương về sự “chung thủy”.
Mặc dù nơi Đức Mẹ, thánh Giuse và Đức Giêsu, cả ba đều là thánh và sống đẹp lòng Thiên Chúa trọn vẹn. Nhưng nơi gia đình này, Thiên Chúa cũng không miễn trừ những khó khăn.
Tuy nhiên, những thử thách dồn dập xảy đến, nhưng nơi Đức Mẹ, thánh Giuse và Đức Giêsu vẫn bình an, hạnh phúc và chung thủy.
Có được điều này là bởi vì các ngài luôn yêu thương nhau bằng tình yêu tự hiến, luôn biết đón nhận những thử thách trong niềm tin và lòng mến, đồng thời biết thánh hóa những đau khổ ấy và biến nó thành niềm vui cứu độ.
3. Sứ điệp ngày lễ
Sứ điệp Lời Chúa và ngày lễ hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết noi gương Gia Đình Thánh Gia để sống có trách nhiệm với nhau nhằm xây dựng tổ ấm gia đình trong tình yêu và sự chung thủy.
Cần biết lượng giá những thứ tự ưu tiên trong việc vun đắp hạnh phúc gia đình.
Trước tiên, đó là phải cùng nhau xây dựng tình yêu. Gia đình chỉ có hạnh phúc thực sự khi mọi thành phần của gia đình biết quan tâm, chăm sóc nhau trong tinh thần trách nhiệm và yêu mến. Không có tình yêu, gia đình không có tiếng cười và sẽ biến thành hỏa ngục chốn trần gian!
Thứ hai, các bậc cha mẹ đừng quá quan trọng vấn đề cơm áo gạo tiền. Nhiều bậc cha mẹ đêm ngày lao mình vào cuộc chiến kiếm tiền, nên đã không còn coi trọng đến hai chữ tình yêu cũng như trách nhiệm với nhau và con cái. Vì thế, tình yêu phai nhạt, thất trung leo thang và cuối cùng là bị ngã gục trong sự ích kỷ, đổ vỡ….
Thứ ba, cần tôn trọng bạn đời của mình như một quà tặng vô giá mà Thiên Chúa trao ban cho mình. Mặt khác, cha mẹ biết yêu thương con cái như là kết quả của tình yêu dâng hiến mà hai người trao cho nhau.
Cuối cùng, muốn xây dựng gia đình hạnh phúc thực sự, các bậc cha mẹ và con cái hãy yêu mến những việc đạo đức, nhất là siêng năng tham dự thánh lễ cũng như các Bí tích và trung thành với giờ kinh tối gia đình.
Làm được những việc đó trong lòng mến và trách nhiệm, chúng ta mới mong có được một gia đình hạnh phúc, ấm êm, để cho mọi thành viên cảm thấy an vui mỗi khi ở trong gia đình, và mong muốn được trở về mỗi lúc đi xa.
Lạy Thánh Gia Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse, xin cho chúng con biết noi gương các Ngài để sống đẹp lòng Chúa, biết yêu thương nhau trong tinh thần trách nhiệm và thủy chung, để xây dựng một gia đình yên vui, hạnh phúc trong tình yêu và trách nhiệm theo khuôn mẫu của gia đình Thánh Gia. Amen.
(Giải thích bản văn Tin Mừng của Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến)
Đoạn 2,22-40 trình bày câu chuyện Chúa Giêsu được đem lên Giêrusalem trình dâng cho Thiên Chúa theo đòi hỏi của luật Môsê. Lề luật được dùng như cái khung trong đó các ngài thi hành bổn phận theo luật dạy: “hai ông bà đem Hài Nhi lên Giêrusalem” (cc. 22.27). Câu chuyện kết thúc khi các ngài đã thi hành đầy đủ điều luật dạy: “Khi đã xong mọi sự theo luật Chúa, ông bà trở về Galilê” (c. 39). Trong đền thờ Giêrusalem, Chúa Giêsu được trình dâng cho Thiên Chúa. Ngài là Đức Kitô của Chúa (c. 26), ơn cứu độ của Thiên Chúa (c. 30). Ngài là Đấng mà dân Ítraen trông đợi; Simêon (cc. 25-35) và Anna (36-38) là những đại diện (cc. 31.32). Họ trông đợi “niềm an ủi” (c. 25b), “ơn cứu chuộc” (c. 38) của Thiên Chúa; đó chính là Chúa Giêsu, “ánh sáng của muôn dân” và “vinh quang của dân Ítraen” (c. 32). Lời chúc tụng của Simêôn nói đến vai trò cứu thế của Chúa Giêsu Kitô; Đức Maria chia sẻ sứ mạng với Ngài (c. 34). Tại Galilê, Chúa Giêsu lớn lên trong ân sủng của Thiên Chúa (cc. 39-40), và Ngài sẽ lên đền thờ Giêrusalem khi Ngài lên mười hai tuổi (2,41-52).
Trình dâng con trai đầu lòng cho Thiên Chúa là một đòi hỏi của luật Môsê. Thánh sử Luca liên kết việc này với luật thanh tẩy của người mẹ. Đức Maria cùng với thánh Giuse lên đền thờ Giêrusalem, và các ngài mang Chúa Giêsu lên để trình dâng cho Thiên Chúa; như thế cả hai đều đến trình diện trước mặt Chúa (x. 1,19).
Luật Môsê qui định về con trai đầu lòng là phải được “thánh hiến cho Chúa” (Xh 13,2.12), và được người cha chuộc lại (Xh 13,15). Khi dẫn chứng luật này, thánh sử Luca thay thế “thánh hiến cho Chúa” bằng “được gọi là của thánh dâng cho Chúa” (c. 23), ám chỉ lời sứ thần đã nói với Đức Maria về người con mà Mẹ cưu mang và sinh hạ, Ngài “được gọi là Thánh, là Con Thiên Chúa” (1,35). Thánh sử Luca nói đến những của lễ mà người mẹ phải mang theo khi đến trình diện: một cặp chim gáy hay hai bồ câu tơ; một con để làm lễ toàn thiêu và một con làm lễ tạ tội (Lv 12,8). Việc các ngài làm theo luật cho thấy lòng trung thành của các ngài đối với Thiên Chúa. Sự trung thành với lề luật Môsê sẽ chuyển sang lòng trung thành với ý muốn của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu được trình dâng cho Thiên Chúa để hiến mình thực hiện công cuộc cứu độ của Người. Dân Ítraen đang mong đợi ơn cứu độ của Thiên Chúa, và Chúa Giêsu đến và tỏ mình cho họ như là “ơn cứu độ” của Thiên Chúa (c. 30). Ai đón nhận Ngài, sẽ được chỗi dậy, và ai chối từ Ngài, sẽ ngã xuống (c. 34).
Simêôn đại diện cho những người trông đợi niềm an ủi của dân Ítraen. Ông là người “công chính”, dikaios, và “mộ đạo”, eulabēs. Theo thánh sử Luca, người công chính là người “đi theo mọi điều răn giới luật của Chúa” và kính sợ Người (Cv 10,22) như Dacaria và Êlisabét (1,6); và người “mộ đạo”, là người tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa (Cv 22,12). Ông trông đợi: “niềm an ủi của Ítraen” (2,25), “ơn cứu chuộc của Giêrusalem” (2,38), Nước Thiên Chúa (23,51). Simêôn mong đợi và ông sẽ được tận mắt nhìn thấy Đấng Cứu Độ của Thiên Chúa.
Ông Simêôn chúc tụng Thiên Chúa về Hài Nhi (cc. 28-32). Simêôn không chỉ nói với tư cách cá nhân, mà còn nói đại diện cho dân Ítraen và muôn dân. Nội dung lời chúc tụng tập trung trên Chúa Giêsu Kitô. Simêôn chúc tụng Thiên Chúa vì Người làm thỏa mãn điều dân Ítraen trông đợi khi ban Chúa Giêsu Kitô làm Đấng Cứu Độ; việc chúc tụng luôn gắn liền với lòng biết ơn Thiên Chúa (1,64; 2,28). Nói về Chúa Giêsu Kitô, Simêôn gọi Ngài là “ơn cứu độ của Người (Thiên Chúa)”, sōtērion sou; chính Ngài đã được loan báo như là Đấng Cứu Độ, sōtēr (2,11).
Simêôn ngỏ với Đức Maria, nói về thái độ của những người sau này đối với Đức Giêsu Kitô. Hai cụm từ eis ptōsin, “để bổ nhào” và eis sēmeion, “làm dấu hiệu” tạo nên hai vế song song với nhau; câu 35b được hiểu như tiếp tục câu 34bc, và nói về thái độ từ chối hay đón nhận Chúa Giêsu. Chúa Giêsu được đặt như hòn đá làm cớ ngã nhào (x. 7,23; 20,18) và như dấu hiệu (11,30) để ý nghĩ tâm hồn phải bày ra. Chính Ngài sẽ nói về điều này: “Ta xuất hiện để ban bình an trên mặt đất ư? Không đâu! Ta bảo các ngươi, không gì khác ngoài sự chia rẽ…” (12,51-53). Và lời này Ngài nói trong ngữ cảnh bàn về cuộc thương khó mà Ngài sắp thực hiện.
Về Đức Maria, Simêôn nói đến một lưỡi gươm sẽ đâm thâu hồn Đức Maria. Hình ảnh “lưỡi gươm” ám chỉ lời phát xuất từ miệng của Chúa Giêsu Kitô “Này là lời phán dạy của Ðấng có thanh kiếm hai lưỡi bén” (Kh 2,17), Lời của Chúa Giêsu và cả hành động của Ngài làm phân bạch tâm hồn, và đôi khi gây đau đớn. Đức Maria cũng chịu ảnh hưởng bởi lời của Chúa Giêsu, như trong nhiều trường hợp được thuật lại trong Tin Mừng (2,48-49; 8,21; 11,27-28). Hơn nữa, lời tiên tri này cũng ám chỉ việc Đức Maria chịu đau khổ khi thông phần vào đau khổ của Chúa Giêsu trước việc người ta chống đối và giết Ngài; ngay từ đầu, số phận mẹ – con luôn gắn bó với nhau.
Câu 39 đóng lại khung cảnh trình dâng Hài Nhi đã hoàn tất theo luật trong đền thờ Giêrusalem, và tường thuật gia đình về lại Galilê, đến thành Nadarét (x. 7,1; Cv 13,29), nơi Chúa Giêsu sẽ ở đó và lớn lên (cc. 39.51) cho đến ngày Ngài khởi đầu sứ vụ công khai (4,14). Câu kết luận về Hài Nhi (c. 40) tương tự cách kết luận thời thơ ấu của Gioan (1,80); có thể được cảm hứng từ 1 Sm 2,21 và 2,26. Cụm từ “đầy khôn ngoan và ân sủng” được dùng cho người của Thiên Chúa (Cv 6,3.10). Chúa Giêsu đầy “khôn ngoan và ân sủng của Thiên Chúa” vì Ngài là Con của Người. Thiên Chúa luôn ở với Ngài và giao phó cho Ngài sứ mạng cứu độ (x. 1,30).
Chúa Giêsu là ơn cứu độ của Thiên Chúa ban cho muôn dân đang trông đợi. Ngài không được chuộc lại, vì Ngài hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, nhưng Ngài sẽ chuộc lại cho Thiên Chúa những người đang trông chờ ơn cứu độ.
33.Gia đình, cộng đoàn yêu thương
(Suy niệm của Lm Phanxicô Xavie Lê Văn Nhạc)
Lc 2: 22-40: Trong cuộc sống bình dị nhưng chất chứa bao tình thương ấy, Chúa Giêsu đã sống thân mật với Cha Ngài, đã sống thảo hiếu với cha mẹ trần thế của Ngài, đã sống chan hòa bác ái với những người chung quanh.
Khi gợi lại kỷ niệm đáng ghi nhớ về gia đình của mình, Đức cố Hồng Y Marty, nguyên Tổng Giám Mục Giáo phận Paris, đã nói: “Tôi đã bập bẹ những tiếng đầu tiên về Thiên Chúa, khi nhìn mẹ tôi và cha tôi đọc kinh cầu nguyện. Tôi đã học biết sự sống, học biết sự chết, tôi đã học biết thế nào là yêu thương trong cuộc sống hằng ngày, khi tôi giao tiếp với thân nhân và những người quen thuộc. Tôi yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Giáo Hội như đã yêu mến mẹ tôi. Tôi không học mà cũng biết người phụ nữ đó đã cho tôi sự sống và mạc khải cho tôi tình yêu”. Gương sáng của cha mẹ đã giáo dục cho con cái nhiều điều tốt.
Chúa Giêsu đã sinh ra trong một gia đình, mà lại là một gia đình nghèo. Ngài cũng có cha mẹ như bao trẻ thơ khác, như mỗi người chúng ta. Và cha mẹ Ngài cũng là những người lao động, phải sống bằng mồ hôi nước mắt như hầu hết các gia đình khác. Là Thiên Chúa, Ngài đã đến với loài người như một con trẻ, bé bỏng, cần đến sự đùm bọc, che chở của những người thân. Cũng như bao trẻ em khác, Ngài cũng bị những biến cố lớn nhỏ của gia đình và xã hội chi phối, đưa đẩy, ảnh hưởng.
Rồi những năm thơ ấu, những thời kỳ thơ ấu và thành niên, Chúa Giêsu đã sống bên cạnh Đức Maria, Mẹ Ngài và Thánh Giuse, cha nuôi Ngài. Ngài cũng đã phải tập đi, tập nói, tập đọc, tập viết. Ngài cũng đã phải học Thánh Kinh, Lề Luật. Ngài cũng đã phải tập lao động với những dụng cụ như cưa, bào, đục… trên những khúc cây, tấm ván. Ba mươi năm tại Nagiarét là một chuỗi ngày bình dị, như hàng trăm gia đình cùng thôn làng, như hàng triệu cuộc sống của con người qua các thời đại.
Đó là thời kỳ ẩn dật, vì Chúa Giêsu không để lộ chân tính đích thực của mình ra cho những người chung quanh biết. Đó cũng là thời gian chuẩn bị cho quãng đời công khai của Ngài, theo nghĩa là Ngài tích lũy cho mình những kiến thức và kinh nghiệm cần thiết cho việc rao giảng Nước Thiên Chúa sau này.
Dưới một khía cạnh khác, chúng ta có thể nói, đó là những năm tháng trao đổi, cho và nhận giữa Con Thiên Chúa và gia đình nhân loại, được đại diện nơi Thánh Giuse và Đức Maria. Nếu chỉ là Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế không cần phải nhận ở nhân loại một thứ gì cả. Nhưng vì Ngài là Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta, nên Chúa Giêsu đã nhận rất nhiều của những người thân, nhất là của Mẹ Maria: cưu mang, sinh đẻ, nuôi dưỡng, giáo dục. Ngài cũng đã nhận rất nhiều từ cộng đoàn Nagiarét, từ Hội đường Do Thái, từ cuộc sống của những người chung quanh, nhất là những người nghèo khổ, bệnh tật, lao động. Chúng ta khó hình dung được những điều đó, vì chúng ta có khuynh hướng đặt Thiên Chúa ở chốn cao xa mà quên điều hệ trọng là Thiên Chúa đã làm người, đã nhập thể và nhập thế.
Chúa Giêsu đã nhận rất nhiều từ gia đình nhân loại, nhưng thực ra Ngài còn cho nhiều hơn, vì Ngài đã cống hiến tất cả cho chúng ta, cả bản thể Thiên Chúa, cả năm tháng, cuộc sống và cái chết của Ngài, một cách âm thầm, khiêm tốn vô vị lợi.
Trong cuộc sống bình dị nhưng chất chứa bao tình thương ấy, Chúa Giêsu đã sống thân mật với Cha Ngài, đã sống hiếu thảo với cha mẹ trần thế của Ngài, đã sống chan hòa bác ái với những người chung quanh. Rồi cha mẹ Ngài là những người kính sợ Thiên Chúa cũng đã sống hết mình với Thiên Chúa, tận tụy và thương yêu con cưng của mình. Giữa Đức Maria và Thánh Giuse thì thật là một mối liên hệ có một không hai trong lịch sử loài người, chắc chắn tình yêu thương đậm đà và lòng tôn kính là những nét đặc thù nhất, khiến Thánh Giuse được gọi là người công chính, còn Maria là người có phúc hơn mọi người phụ nữ.
Sách Huấn ca hôm nay đã nhấn mạnh đến lòng hiếu thảo của người con đối với cha mẹ trong gia đình, khiến chúng ta dễ hình dung ra cách sống của Con Thiên Chúa làm người dưới mái nhà Nagiarét. Thư thánh Phaolô gởi tín hữu Côlôsê đề cập đến mối quan hệ giữa những người được Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn sống thành gia đình, gia đình của Thiên Chúa: đó là lòng từ bi, nhân hậu, là khiêm cung, ôn hòa, là nhẫn nại chịu đựng, chấp nhận nhau và tha thứ cho nhau. Gia đình của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse là một gia đình đã sống trọn vẹn hơn ai hết tinh thần ấy, vì các thành viên trong gia đình thánh này đều là những tôi tớ của Thiên Chúa, trong ý nghĩa là mỗi vị và cộng đoàn ba vị đều lãnh nhận từ Thiên Chúa một sứ mạng đặc biệt. Gia đình Nagiarét là gương mẫu, là lời mời gọi đối với mỗi người chúng ta, đối với mỗi gia đình Công giáo ngày nay.
Ngày nay, hơn bao giờ hết, với sự tiến bộ của ngành khoa học nhân văn và xã hội, con người càng khám phá ra chiều kích xã hội của mình và tầm quan trọng của cộng đoàn gia đình trong đời sống xã hội. Gia đình là cái nôi đầu tiên đón tiếp con người và cung cấp cho con người những điều kiện cần thiết của cuộc sống và hạnh phúc. Đối với các kitô hữu, gia đình còn mang một ý nghĩa khác nữa: đó là một cộng đoàn yêu thương phản ảnh cộng đoàn của Thiên Chúa, theo gương gia đình Nagiarét. Trách nhiệm thật lớn lao của các bậc làm cha làm mẹ. Chức năng nhiệm vụ ấy cha mẹ chỉ có thể hoàn thành được nếu biết yêu thương và tha thứ như chính Chúa Kitô đã yêu thương và tha thứ cho chúng ta. Đó là quy luật trọng yếu trong mối quan hệ giữa vợ chồng, giữa con cái và cha mẹ. Vì trong cuộc sống gia đình, con người có thể biến cuộc sống ấy thành thiên đàng hay hỏa ngục trần gian. Cuộc sống gia đình tạo cho cha mẹ những cơ hội quý báu để thực hiện tinh thần yêu thương quên mình, mưu tìm hạnh phúc cho người khác. Cuộc sống gia đình luôn luôn đòi hỏi cha mẹ phải dẹp bỏ ý riêng mình, quan điểm riêng của mình, để tôn trọng và giúp đỡ con cái phát triển về mọi mặt.
Do sự khác biệt về tính tình, môi trường giáo dục, tuổi tác và sở thích, nên chuyện xung đột, căng thẳng, là chuyện đương nhiên không thể tránh được giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái. Nhất là trong một vài hoàn cảnh khó khăn về kinh tế tài chính. Muốn vượt qua những cảnh xung đột, những giờ phút căng thẳng ấy, mỗi người, dù là vợ hay chồng, cha mẹ hay con cái, đều phải thấm nhuần tinh thần của Chúa Kitô: “Tôi đến để phục vụ chứ không để được phục vụ”. “Ai muốn làm đầu thì hãy làm tôi tớ phục vụ mọi người” (x. Mt 20,26-28). Ở đây, cha mẹ có trọng trách nêu gương cho con cái, vợ chồng có trách nhiệm làm chứng cho nhau tình yêu quảng đại và vô vị lợi của Thiên Chúa. Lời căn dặn của Thánh Phaolô phải là phương châm cho các bậc cha mẹ cũng như con cái trong gia đình: “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Đức Giêsu Kitô, và nhờ Ngài mà cảm tạ Chúa Cha”(Cl 3,17).
Như thế, gia đình kitô hữu, theo gương đời sống gia đình của Thánh Gia Thất, với tình yêu thương và tha thứ, với tinh thần phục vụ quảng đại và vô vị lợi, sẽ là ngọn đèn tỏa sáng, sẽ là cái nôi hạnh phúc và đem lại hạnh phúc cho anh em đồng bào trong xã hội chúng ta hôm nay.
Những biến cố chung quanh việc thụ thai và sự ra đời của Đức Giêsu đánh dấu rằng Người là một con trẻ đặc biệt, với một vận mệnh duy nhất. Thông qua Người, lời hứa đối với ông Apbraham sẽ được nên trọn. Người sẽ trở thành niềm hy vọng và an ủi của dân Israen, và là ánh sáng cho các dân tộc. Nhưng Tin Mừng cũng nói về sự khước từ Đức Giêsu, một sự khước từ sẽ gây ra một lưỡi gươm đâm thấu qua trái tim của Đức Maria. Cha mẹ chia sẻ niềm vui và nỗi đau khổ của con cái họ, và ngược lại.
Không có lý do gì để tin rằng Đức Maria và thánh Giuse hiểu biết rõ ràng trọn vẹn hoặc về vận mệnh vĩ đại của Con Trẻ Giêsu. Tuy nhiên, khi đón nhận Người vào trong cuộc đời của mình, và nuôi dưỡng Người trong lòng tin và tình yêu thương, các ngài đã góp phần trong việc giúp đỡ Người nhận ra vận mệnh của mình. Tin Mừng cho thấy rằng tại nhà Nagiarét, các ngài đã tạo ra một bầu khí mà trong đó, Đức Giêsu có thể phát triển đến khi trưởng thành.
Mỗi đứa con đều là một quà tặng của Thiên Chúa. Và mỗi đứa con đều có một vận mệnh duy nhất. Nhưng vận mệnh đó còn ẩn giấu đối với cha mẹ. Họ thắc mắc không biết con cái họ sẽ trở thành gì. Một cách tự nhiên, họ mong muốn điều tốt đẹp nhất cho chúng. Nhưng tất cả điều mà họ có thể làm được, đó là khai mở cho chúng trên con đường đời của chúng. Vượt lên trên tất cả, họ phải cẩn thận để không ngăn cản kế hoạch của Thiên Chúa đối với con cái.
Cha mẹ nên cầu xin Thiên Chúa hướng dẫn con cái của mình theo những chọn lựa mà chúng thực hiện. Nếu chúng ta phải hoàn tất điều mà Thiên Chúa muốn chúng ta hoàn tất, thì tất cả chúng ta đều cần sự hướng dẫn của Người.
Nói một cách lý tưởng, gia đình phải là một cộng đoàn yêu thương nhỏ bé. Bầu khí trong gia đình là yếu tố quan trọng nhất. Bầu khí đó được xác định do phẩm chất của các mối tương quan. Cha mẹ và con cái đều đóng góp vào việc tạo ra bầu khí đó.
Cuộc sống gia đình mang rất nhiều thử thách. Gia đình không chỉ biết tiếp nhận; mà còn phải biết cống hiến nữa. Những mối dây liên kết trong gia đình làm cho chúng ta được phong phú, nhưng cũng ràng buộc chúng ta. Chúng lôi kéo theo những ràng buộc của trách nhiệm và tình yêu thương.
(Suy niệm của R. Gutzwiller)
Thánh Luca không nói gì cho chúng ta về thời niên thiếu của vị tiền hô, tất cả thời tuổi trẻ của vị này đều chìm trong im lặng và cô đơn. Trái lại, thời niên thiếu của Chúa Giêsu được kể lại trong ba trường hợp. Trường hợp thứ nhất là lễ cắt bì, chỉ được kể lại trong có một câu. Sự cốt yếu của lễ này là đặt tên Giêsu, tên đã được Thiên thần nói trước, tên này nêu rõ bản tính của Hài nhi trong những ngày sắp tới. Chính do danh hiệu đó mà Giáo Hội mừng kính bằng một lễ đặc biệt, cũng chính danh hiệu đó mà biết bao người không ngớt chiêm niệm và đã là nguồn hân hoan vui sướng cho các nhà Thần bí: danh hiệu mà theo kiểu nói của Thánh Phaolô, mọi gối phải quỳ lạy ở trên trời, lẫn dưới thế và cả dưới hoả ngục.
Đang khi đó thì Thánh Luca lại viết lại cho chúng ta về lễ dâng Chúa trong đền thờ với nhiều chi tiết hơn và khiến ta phải lưu ý tới hai điều sau:
1. Những biến cố.
Nhìn bên ngoài, chẳng thấy có gì đáng lưu tâm. Hàng năm có cả trăm đôi cha mẹ trẻ bước lên Đền thờ tiến vào cửa trước dành cho các phụ nữ để được thanh tẩy theo nghi lễ và chuộc lại đứa con mới sinh. Luật buộc thanh tẩy vì sự thụ thai và sinh con đã liên kết chặt chẽ với tội lỗi và với đam mê hỗn độn. Theo chương trình của Thiên Chúa, cả hai việc đó, phải là cái gì mang tính chất bí tích vì đã chuyển đời sống siêu nhiên đồng thời với đời sống tự nhiên. Nhưng tội đã làm nào loạn nguồn mạch và như vậy, tội lẫn vào việc lành, ‘nhân loại đầy trần tục’ với thần thiêng. Lễ tế được đặt ra đối với người mẹ là bà cần phải thanh tẩy để có thể bước vào đền thờ. Đức Maria không có tiền để mua một con chiên làm lễ tế và phải đành lòng như bao người mẹ nghèo nàn khác, dâng một ccặp chim câu để làm lễ vật. Việc chuộc lại đứa trẻ trai được đặt ra vì tất cả những của đầu mùa, nơi ruộng nương, nơi đoàn vật và nhất là nơi con người đều đặc biệt thuộc về Giavê. Như vậy cậu con trai phải chuộc lại để có thể sống đời sống của mình. Tất cả những điểm đó chẳng có chi đặc biệt và đáng lưu tâm.
Tuy nhiên, nội dung của sự việc mới có khác biệt. Đức Maria rõ ràng là người Mẹ chẳng có dính bén chút gì để phải thanh tẩy. Mẹ đâu thụ thai bởi phàm nhân, mà do phép Chúa Thánh Thần. Mẹ cũng chẳng có một ước muốn xấu xa gì, vì Mẹ ‘không biết đến người nam’. Vì thế, việc chuộc lại Hài nhi chỉ mang hình thức bên ngoài. Chúa Giêsu xét là con đầu lòng của Chúa Cha, thì thuộc quyền sở hữu của Người. Nhưng Ngài sẽ chuộc lại những người khác và giá Ngài phải trả là giá máu của tim Ngài, chứ không phải bằng tiền bạc.
Như Đức Kitô tuân phục Lề luật Môisen hay sắc lệnh của Xêsarê, người Kitô hữu cũng phải phục tùng các quyền hành bên ngoài điều khiển nhân loại bằng ý muốn hay với phép của Thiên Chúa và tuân hành các quy luật như những người khác trong lãnh vực luật pháp. Bên ngoài chẳng có gì lạ kỳ đánh dấu sự hiện hữu và đời sống của người Kitô hữu. Vì không nhất thiết là sự biến đổi nội tâm trước nhan Chúa phải kéo theo sự cách mạng môi trường mình sống.
2. Những lời nói
Những biến cố này có thể qua đi mà ít được biết tới nếu không có một người đến gặp đôi vợ chồng trẻ để chào thăm Hài nhi với những ngôn từ lạ lùng. Ông này không phải là tư tế, mà chỉ là một người dân thường, một người thực công chính, đang chờ đợi ‘niềm an ủi của Israel’, chờ đợi Đấng Messia. Đầy Thần linh Thiên Chúa và nhờ ơn soi sáng, ông đã nhận ra Đấng Messia nơi Hài nhi do người Mẹ khiêm hạ này bồng trên tay.
Lời đầu tiên của ông là lời thân thưa với Thiên Chúa. ‘Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi’. Thiên Chúa là Chủ Tể, ai muốn phục vụ Ngài, là tôi tờ của Ngài. Đời sống của cụ già Simêon là một sự hiện hữu và là một công việc phục vụ Thiên Chúa, được kể như một cuộc phục dịch, nhưng bây giờ đã tới lúc nghỉ ngơi sau chuỗi ngày dài lao động. Sự chết là một cuộc nghỉ việc, một sự giải phóng trong an bình và về với an bình.
Hy vọng và ơn cứu độ là phần thưởng lúc trời chiều ngả bóng, đã nâng đỡ ông suốt thời gian thi hành nhiệm vụ khó khăn. Đấng Cứu độ đã đến, công việc đã có được ý nghĩa và đời sống dấn thân trên con đường cứu độ lời kinh ‘muôn lạy Chúa’ (Nunc dimittis) là lời kinh tối của Giáo Hội.
‘Mắt con đã nhìn thấy ơn cứu độ’. Cụ Simêon, con người ưu tư, suy nghĩ, hẳn phải đau khổ vì những cảnh vô đạo chung quanh. Chính đôi mắt này đã từng chứng kiến những cảnh tội lỗi và phản giáo, nay thấy Đấng mang lại ơn cứu độ và sự thánh thiện. Đức Kitô là thày thuốc sẽ chữa trị tất cả và là Đấng Thánh sẽ thánh hoá tất cả.
‘Chúa dọn ra trước mặt người trần’. Những chướng ngại hạn hẹp của Israel đã bị phá đổ, chiều kích của Giáo Hội phổ quát tỏ hiện. Israel ra đi mở rộng chân trời của Simêon và làm cho người ta nghĩ đến những khuôn khổ mới mẻ của tinh thần và con tim.
‘Ánh sáng rạng soi dân ngoại’. Những lời tiên tri của Isaia (đoạn 42 và 29) đã được nhắc lại ở đây. Dân ngoại không còn là người bị khinh khi, xua đuổi; không còn bị cái nhìn trịch thượng của những người đã được chọn ném xuống. Vì ánh sáng của Đức Kitô sẽ đâm thấu đêm đen, đuổi đi tất cả những bóng tối và đem đến một ngày mới không có chiều tà.
‘Còn Israel dân Chúa được vinh quang’. Nhờ Chúa Giêsu, cái cây của dân này sẽ triển nở sinh hoa kết quả. Israel xấu sẽ trở nên đối tượng của vấp phạm và tên nó sẽ bị nhiều người nhạo báng và ghét bỏ. Còn Israel chân thật sẽ là cánh đồng nơi các hoa mầu quý giá mọc lên, sẽ là núi đá vọt ra những dòng suối, sẽ là nền trời nơi mặt trời toả sáng; nên các tín hữu sẽ nhắc đến tên nó với lòng kính trọng và biết ơn.
Theo lời của Simêon, Israel đặt sự cao cả đã nhận được từ nơi Chúa, dưới chân Chúa nhập thể. Bài tang ca của Israel là một bài thánh thi cho Đức Kitô; Israel đã tàn lụi trong những tia sáng của luồng ánh sáng rạng rỡ hơn; Israel chết đi để được đưa vào một đời sống mới nhờ Đức Giêsu Đấng Thiên Sai.
Lời thứ hai của Simêon là lời nói với Đức Maria: ‘Hài nhi con bà sẽ được đặt lên để nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay chỗi dậy và làm dấu gợi lên chống đối’. Kitô giáo không cưỡng chế và cũng chẳng dùng sức mạnh để bắt buộc ai, trái lại chỉ là lời mời mọc và kêu gọi. Con người phải quyết định. Họ có thể nói nhận hay không. Nhờ lời ‘nhận’ họ sẽ đứng thẳng lên như người bị tê liệt được chữa khỏi, vì họ sẽ bước đi trên con đường của Thiên Chúa. Với tiếng ‘không’ họ tự mình chỗi dậy và tin rằng mình đã hoàn hảo: sự suy sụp của họ đã đến. Tất sẽ kết thúc bằng đổ vỡ và đồi bại.
Giữ một chỗ đối với Đức Kitô là quyết định số phận con người và nhân loại trước nhan Thiên Chúa. Đức Kitô đưa ra hai nẻo đường lớn dẫn tới cứu độ và sa ngã, dòng nước đôi ngả, sự nhận thức giữa chân và giả. Đối với Mẹ Ngài, việc biết được Đức Kitô, Đức Kitô đích thực, sẽ gặp chống đối và phản kháng hẳn phải là nỗi đau đớn ghê gớm trong đời Mẹ: ‘Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tim chị’. Vì tiếng ‘nhận’ và ‘không’ sẽ làm lộ nhiều tâm hồn trong Israel. Cái bị che dấu sẽ đưa ra ánh sáng. Cứng lòng, ý tưởng bất chính, ích kỷ cá nhân, kiêu ngạo và ghen tương… tất cả những gì là xấu xa, kẻ thù của Thiên Chúa, đều tỏ lộ ra. Tất cả những gì là bỉ ổi, suy đồi và hôi thối đều bị thấy rõ. Nhìn thấy các tư tưởng con người hệ ở chỗ vạch trần những giả dối và mở toang những nấm mồ quét vôi trắng. Nhưng trên hết phải là sự dửng dưng không tiếp nhận tình yêu Nhập thể, đó mới chính là mũi gươm đâm sâu vào trái tim người mẹ giầu tình thương này. Như vậy, ngay từ đầu đời Chúa Giêsu, người ta đã nhìn thấy ‘ Bà mẹ đau khổ’ là chính Người đứng dưới chân thánh giá, vào những giây phút cuối cùng với con bị đâm thấu tim, hoàn tất lễ hiến tế mạnh mẽ hơn lòng ghét ghen của nhân loại.
Khi Tin mừng nói rằng, ‘Cha và Mẹ Ngài ngạc nhiên về những gì nói về Ngài’ đã chứng tỏ cho ta thấy chính các vị cũng phải lần bước trong ánh sáng đức tin, đang khi luôn nhận thức và xác quyết những chân lý mới.
Hợp với ông già Simêon, có bà già khả kính Anna, đại diện cho cả dân tộc, nam cũng như nữ, ca tụng Thiên Chúa và mang tới một sứ điệp ‘cho những người đang trông đợi phúc cứu chuộc Israel’.
Người ta không thấy nhắc gì tới cái chết của ông già bà cả này. Các cụ đã làm tròn sứ mạng của mình và đã sang thế giới bên kia với tâm hồn bình an và vui sướng trong cũng một cảm nghĩ rằng Israel chân chính mới mẻ là người luôn cởi mở trong Đấng Messia.
(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
Tolstoy viết lời mở đầu cuốn sách “Anna Karenina”: Những gia đình hạnh phúc đều giống nhau, nhưng gia đình bất hạnh thì lại muôn màu muôn vẻ.
Vậy gia đình hạnh phúc có những điều nào giống nhau? Thực tế cho thấy rằng, một gia đình hạnh phúc là mẹ được ưu ái, cha được tôn trọng và con được tiếp nhận. Mẹ được chiều chuộng, gia đình càng hạnh phúc. Cha được tôn trọng sẽ càng yêu mẹ hơn. Con cái được tiếp nhận, gia đình mới thực sự là mái ấm.Gia đình là thế giới của mẹ, là vương quốc của cha, là khu vườn thần tiên của con trẻ. Đây chính là hình mẫu về một mái ấm hạnh phúc.
Gia đình là tổ ấm yêu thương cho từng thành viên. Trước ngưỡng cửa của đời sống hôn nhân gia đình, ai cũng muốn cho mình có được một cuộc tình êm xuôi, một gia đình hạnh phúc, trên thuận dưới hoà, con cái hiếu thảo, vợ chồng yêu thương nhau. Hôn nhân gia đình là một quyết định và là bước ngoặt lớn trong cuộc sống con người, nên người ta đặt vào đó cả niềm hy vọng và sự mong đợi lớn lao.
Đời sống hôn nhân gia đình có một ơn gọi và sứ mạng cao quý trong Giáo hội và xã hội. Chúa Giêsu đã sinh ra và lớn lên trong khung cảnh của một gia đình. Qua cuộc sống của Thánh Gia, “chúng ta hiểu cách sống trong gia đình. Nadarét nhắc chúng ta về ý nghĩa của gia đình, về sự hiệp thông tình yêu, vẻ đẹp đơn sơ và giản dị, tính thánh thiêng và bất khả xâm phạm của gia đình; Nadarét làm cho chúng ta thấy gia đình là một trường học ngọt ngào và không thể thay thế, dạy cho ta biết thế nào là chức năng tự nhiên của gia đình đối với trật tự xã hội” (ĐTC Phaolô VI, Diễn từ tại Nadarét)…Muốn có những con người tốt và những Kitô hữu thánh, gia đình phải tốt và thánh thiện; muốn đổi mới đất nước, xã hội và Hội Thánh, phải bắt đầu từ gia đình. “Gia đình là con đường của Hội Thánh” (Thánh Gioan Phaolô II, Thư gửi các gia đình, số 2).
Lễ Thánh Gia, Giáo hội mời gọi mỗi gia đình Công giáo hướng về gia đình Nadarét. Không phải lúc nào cũng màu hồng mà Tin Mừng cho thấy Thánh Gia đã trải qua những lận đận lao đao vất vả giữa bao hiểm nguy khó khăn thử thách trăm bề. Thánh Giuse khéo léo chống chèo vượt qua tất cả và cùng với Mẹ Maria Chúa Giêsu, xây dựng mái ấm hạnh phúc.
Thánh Gia là trường dạy cầu nguyện, dạy giáo lý, dạy lao động, dạy yêu thương đến hiến mình cho người khác, chuẩn bị cho Chúa Giêsu gánh vác sứ vụ Chúa Cha trao phó sau này.Chúa Giêsu đã vâng phục kỷ luật trường này, chấp nhận những vị thầy đầu tiên là cha mẹ và Người đã lớn lên chững chạc, trưởng thành, quân bình thể xác trí tuệ, tâm linh. Chúa đã sống học tập rèn luyện 30 năm để rao giảng 3 năm. Một năm Chúa Giêsu giảng đạo thì 10 năm Người ở với gia đình. Chúa ưu tiên và đề cao tầm quan trọng của gia đình biết bao.
1. Mái ấm gia đình
Có nhà hoạ sĩ kia cứ mãi mơ ước trong đời mình sẽ vẽ được một bức tranh đẹp nhất thế giới. Nhưng anh ta không biết phải vẽ thứ gì để bức tranh sẽ có được hình ảnh, màu sắc, và nội dung sâu đậm đáng trở thành bức tranh tuyệt vời nhất trần gian.
Chàng đã tìm hỏi với một linh mục về điều gì đẹp và ý nghĩa nhất. Vị linh mục trả lời ngay: “Niềm tin. Niềm tin là số một, niềm tin sẽ nâng cao giá trị con người. Niềm tin sẽ chữa lành và biến đổi mọi sự nên tuyệt vời.”
Chàng hoạ sĩ cũng đặt câu hỏi tương tự với một cô gái đang bước lên xe hoa về nhà chồng. Cô gái trả lời: “Trên thế gian này không có gì đẹp bằng tình yêu. Tình yêu là hơi thở, là sức sống, là hạnh phúc, là tất cả. Tình yêu biến cay đắng thành ngọt ngào, đưa tiếng cười vào nơi than khóc, đổi nghèo hèn tầm thường thành phú quí cao sang. Tình yêu thật tuyệt vời.”
Cuối cùng người hoạ sĩ gặp một anh thương binh vừa trở về từ tiền phương. Anh lính đã trả lời: “Hoà bình là điều đẹp nhất trần gian. Ở đâu có chiến tranh, ở đó có đổ nát, bất hạnh, khổ đau. Ở đâu có hoà bình, ở đó có cái đẹp.”
Ba câu nói của ba con người – vị linh mục, cô gái sắp lấy chồng và anh thương binh trẻ – đã làm cho người hoạ sĩ phân vân: không biết phải làm thế nào để trên bức tranh của mình có thể diễn tả cùng một lúc niềm tin, tình yêu, và hoà bình.
Đang suy nghĩ anh về đến nhà lúc nào không hay. Mấy đứa con anh ùa ra đón bố. Anh nhận thấy niềm tin trong ánh mắt của các con. Anh cũng cảm được tình yêu trong chiếc hôn chân thành của người vợ. Niềm tin của con cái và tình yêu của người vợ làm cho tâm hồn anh ta ấm áp và an bình lạ thường. Thế rồi một ý tưởng chợt loé lên trong đầu. Anh vội ngồi xuống khởi công vẽ tranh, và sau khi hoàn thành tác phẩm đẹp nhất thế gian, anh đã đặt tên cho nó: “Mái Ấm Gia Đình”.
Mái ấm gia đình chính là hình ảnh xinh đẹp và sống động nhất mà người ta có thể vẽ được về Nước Trời hay Thiên đàng ngay trên thế gian này. Mái ấm gia đình cũng sẽ là lời chứng tá hùng hồn nhất cho sự hiện diện của Đức Giêsu giữa dương gian.
2. Hạnh phúc gia đình
Theo Đức cha Bùi Tuần, có ba yếu tố làm nên hạnh phúc gia đình: Quy tụ gia đình; Lễ giáo gia đình và Tình nghĩa gia đình.
Quy tụ gia đình
Gia đình là nơi con người được “ở với nhau”. Các môn đệ đầu tiên không tìm đến với Chúa Giêsu như một vị thầy dạy học, nhưng như “Đấng ở với” (Ga 1,38). Chúa đã mời gọi các ông, trước tiên không phải là học một bài học, mà là xem chỗ Người ở và ở lại với Người (Ga 1,39). Cũng vậy các thành viên trong gia đình hiện diện cho nhau với toàn vẹn cái tôi của mình, được chấp nhận và chấp nhận người khác với toàn vẹn cái tôi ấy. Dưới ánh sáng đức tin Kitô giáo, gia đình là nơi chốn bình an cho tâm hồn mình; “Đấng Tạo Hoá đã đặt gia đình làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người nên gia đình trở thành ‘tế bào đầu tiên và sống động của xã hội’ (x.Tông huấn gia đình số 42).
Quy tụ là họp mặt, là gặp nhau, là nói chuyện với nhau, là gần gũi nhau, là chia sẻ với nhau. Quy tụ gia đình làm nên một bầu khí ấm áp thiêng liêng. Có thể nói, mọi quy tụ gia đình, dù thường ngày, dù bất thường, đều mang bầu khí đạo đức, có ánh sáng của đức tin và có hương thơm của đức ái.Quy tụ gia đình như thế sẽ có Chúa hiện diện. Nhờ có Chúa hiện diện, gia đình sẽ biết phân định điều gì là tốt cần làm, điều gì là xấu cần tránh, nhất là trong tình hình hiện nay tốt xấu lẫn lộn một cách quá phức tạp.
* Lễ giáo gia đình
Lễ giáo là nghi lễ và giáo dục gia đình. Gia đình là một cộng đoàn, một đời sống chung của những con người. Họ có những dây liên đới với nhau. Nên cần phải có những hình thức thể hiện những dây liên đới đó. Do vậy, mà phải được giáo dục, để có được lối sống liên đới tốt đẹp, trong trật tự. Liên đới thấp nhất thuộc nhân bản của cộng đoàn là biết diễn tả sự gần gũi nhau và có trách nhiệm đối với nhau. Biết siêng năng và lương thiện làm hết sức mình, để góp phần vào việc xây dựng hạnh phúc chung gia đình, đó là nét đẹp căn bản của lễ giáo gia đình.Biết chào kính, chào thăm, chào hỏi, với nhiều bình thức, là một nghi lễ đơn sơ chứng tỏ con người có giáo dục gia đình. Biết cảm ơn, biết xin lỗi cũng là những điều lễ phép thô sơ của con người có giáo dục trong cộng đoàn. Biết kính trên nhường dưới cũng là một biểu hiện lễ phép của nền giáo dục liên đới. Biết sống chân thành và trung thành trong các liên đới gia đình cũng là một giá trị của con người có giáo dục gia đình.
* Tình nghĩa gia đình
Tình nghĩa gia đình cần được vun trồng, cần được chăm sóc, cần được xây dựng với những tình tiết nhỏ. Người tình nghĩa đích thực là người biết xót thương như người Samari đó. Chúng ta chỉ có được một cách đích thực bằng tấm lòng bén nhạy và giàu tình xót thương với những tình tiết nhỏ, do trực giác đạo đức hơn là do lý luận.
3. Tình yêu gia đình
“Hôn nhân gia đình vốn là hình ảnh tiêu biểu của tình yêu. Những áp lực của đời sống xã hội đang làm rúng động tận nền tảng của đời sống gia đình, làm biến dạng ý nghĩa chân thực của tình yêu. Không kể những đổ vỡ trong đời sống gia đình, trên thế giới ngày nay còn xuất hiện và đang lây lan những mẫu gia đình kỳ lạ, gia đình đồng tính, gia đình tạm thời, gia đình ba hoặc bốn vợ/chồng…Kitô giáo không chấp nhận những mẫu gia đình kỳ lạ ấy, không phải chỉ chúng khác lạ, nhưng vì chúng phá vỡ ý nghĩa đích thực của tình yêu”. (x. Gia đình kitô hữu trước những thách đố thời đại, Nội san chia sẻ số 76).
Ngày nay, trong xã hội tiêu thụ, vì bận rộn với công việc kiếm tiền, một số cha mẹ không gần gũi, không dành thời giờ cho con cái. Vì thế, chúng cảm thấy bị bỏ rơi, thiếu tình thương. Theo mức độ, con cái sẽ lâm bệnh chán nãn, buồn phiền, không thích học nữa, lỳ lợm, xấc láo, ích kỷ, vô cảm, đua đòi thiếu suy nghĩ.Một số phụ huynh chỉ mong con mình học giỏi, thành đạt, kiếm được nhiều tiền. Họ ít quan tâm đến đời sống đạo đức của con, không lo giáo dục đức tin cho con. Có cha mẹ quan niệm, lo cho con được Xưng Tội, Rước Lễ, Thêm Sức là đủ rồi; vì thế có những em sau khi Thêm Sức là bỏ nhà thờ. Sự đa dạng của vi tính và internet quá hấp dẫn lôi kéo con cái chúng ta ra khỏi thực tế và lao vào thế giới ảo, lối sống ảo. Lối sống hiện đại cũng dễ đánh mất bầu khí mái ấm. Mỗi người có một phòng riêng, một thế giới riêng nên mọi người ít quan tâm đến nhau, ít giúp đỡ nhau.
Các bậc phụ huynh xin hãy nhớ, sức mạnh của sự quy tụ các thành viên trong tình nghĩa và với lễ giáo gia phong sẽ làm thành mái ấm gia đình cao quý. Chính đức tin và tình yêu từ mái ấm sẽ làm trổ sinh hoa trái cho đời sống gia đình.
Ở các nước Âu Mỹ, có một câu ngạn ngữ nổi tiếng nhà nhà đều biết: “Happy wife happy life”, nghĩa là “Vợ vui lòng, cuộc sống vui vẻ”. Câu này nên trở thành kim chỉ nam của mỗi một ông chồng.Một người phụ nữ được chiều chuộng sẽ rất rạng rỡ, ấm áp, mềm mại như ngọc. Một người đàn ông được tôn trọng sẽ có thần thái, phong độ ngời ngời. Chồng càng yêu thương vợ, vợ lại càng tôn trọng chồng. Vợ càng tôn trọng chồng, chồng lại càng yêu thương vợ. Tình cảm hài hoà, cha mẹ tôn trọng ý nguyện của con cái, quan tâm và tán dương con cái, gia đình thật hạnh phúc, chan hòa niềm vui tình yêu.
Đức Thánh Cha Phanxicô nói : “Niềm vui của tình yêu trong đời sống của các gia đình cũng là niềm vui của Hội Thánh” (Tông huấn Niềm vui tình yêu, số 1).
Theo gương Thánh Gia, mỗi gia đình hãy nỗ lực thực thi lời mời gọi của HĐGMVN : “Ngày nay, dù phải đối diện với nhiều lo toan trong cuộc sống, xin anh chị em cố gắng duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Công Giáo”. Hạnh phúc gia đình khởi đi từ tình yêu, niềm tin và hoà bình. Gia đình sẽ là “vườn ươm” các nhân đức, là “nơi đào tạo” nhân bản và tâm linh cho con cái, để trở thành một Hội Thánh tại gia.
(Suy niệm của Lm. Trầm Phúc)
Trong niềm vui của lễ Chúa giáng sinh, Giáo hội muốn cho chúng ta nhìn về thánh gia để thấy Chúa Giêsu làm người như thế nào. Ngài sống như mọi người. Sinh ra, thân phận bé bỏng, phải cần bàn tay của mẹ để sống và lớn lên. Ngài làm người thật trong khi Ngài vẫn là Thiên Chúa thật. Ngài là Thiên Chúa đã tự hủy cho con người. Ngài muốn mang lấy trọn vẹn thân phận con người, không loại trừ một gánh nặng nào. Ngài phải cần cha mẹ như mọi trẻ em. Ngài nhận lấy một dòng tộc, là người Do Thái. Vì thế Ngài được cha mẹ đem đến Đền thờ dâng cho Chúa như mọi trẻ em đầu lòng của người Do Thái: “Mọi con trai đầu lòng thuộc về Ta”, Chúa phán như thế. Ngài phải chịu cắt bì là dấu hiệu thuộc về Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã nói: “Khi tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới lề Luật…”
Hai bài đọc Kinh Thánh nhắc đến gia đình của ông Abraham, xem như hình ảnh của gia đình Nadaret vì trong đó có đứa con của lời hứa là Isaac. Chúa Giêsu cũng là đứa con của lời hứa. Bà Sara không còn có thể có con vì bà đã già. Ông Abraham than thở với Chúa: “Chúa không ban cho con một dòng dõi”… Nhưng Chúa đã bảo ông nhìn lên trời đếm các vì sao và hứa sẽ cho ông một dòng dõi đông như sao trên trời, như cát bãi biển. Abraham tin vào lời hứa của Chúa và Chúa đã thăm viếng bà Sara và cho ông một con trai. Chúa cũng đã hứa từ xa xưa sẽ ban cho dân Chúa một Đấng cứu thế, và Ngài đã giữ lời hứa và thăm viếng Mẹ Maria, và đã ban Con Một mình cho chúng ta.
Gia đình Nadaret là một gia đình như mọi gia đình khác. Nhưng lại không giống như gia đình khác vì trong gia đình đó, trẻ Giêsu là Con Thiên Chúa, nó mang tên Giêsu, nghĩa là Chúa cứu. Nó được ông già Simêon, khi bồng em trên tay đã nhìn nhận em bé này là ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân, là ánh sáng soi đường cho muôn dân, là vinh quang của Israen.
Gia đình này không thể như gia đình khác, vì Giuse và Maria không đi ngang qua thử thách của xác thịt. Giuse yêu Maria như mọi thanh niên khác, nhưng ông là người công chính, ông biết mình đang làm gì, đang giữ những kho tàng nào và tuyệt đối trung thành. Tình yêu của ông đã chuyển hướng. Ông trở thành người đầy tớ trung thành của Thiên Chúa.
Maria, nữ tỳ vừa nhỏ hèn vừa cao cả của Thiên Chúa, cũng yêu Giuse như một người vợ yêu chồng, nhưng nàng đã hiểu được giá trị của tình yêu và đã thăng hoa tình yêu đến một mức độ tuyệt đối. Tất cả cuộc đời của nàng chỉ biết sống cho Đứa con thần linh của mình và phục vụ gia đình trong khiêm tốn và tận tụy.
Trong gia đình này, tình yêu tràn ngập và Giáo hội xem như gương mẫu của mọi gia đình, là “Hội thánh tại gia”, như Đức Gioan-Phaolô II đã nói. Trong gia đình này Thiên Chúa là trung tâm, là tất cả. Tất cả là của Chúa, tất cả là cho Chúa.
Gia đình Nadaret nghèo như mọi gia đình nghèo. Giuse chỉ là một ông thợ mộc nhà quê, làm mướn kiếm ăn. Nhưng hạnh phúc biết bao! Giêsu lớn lên cũng học nghề của cha, cũng làm thuê làm mướn để kiếm sống. Thánh Luca, tóm kết cuộc sống của Chúa Giêsu chỉ trong một câu: “Con trẻ luôn vâng lời cha mẹ”.
Chúng ta cầu xin cho các gia đình hôm nay biết cố gắng noi theo gương yêu thương như gia đình Nadaret, vì ngày nay gia đình đang ở trong tình trạng nguy hiểm, chịu nhiều áp lực tứ phía vì nhiều kẻ thù muốn tàn phá gia đình, hủy hoại hạnh phúc gia đình. Những kẻ thù đó mang nhiều hình thức khác nhau rất độc hại là ly dị, phá thai, tự do luyến ái, ngoại tình, và biết bao nhiêu hình thức khác. Người ta chỉ nghĩ đến lạc thú, không cần tình yêu, không cần hạnh phúc. Các Đức Giáo Hoàng đã nhiều lần lên tiếng bảo vệ gia đình nhất là Thánh Gioan-Phaolô II. Ngài không thôi lo lắng về gia đình, kêu gọi mọi người tôn trọng giá trị của gia đình, bảo vệ giá trị của tình yêu. Tông huấn nền tảng của Ngài: “Cộng đoàn gia đình” vẫn là tiếng gọi bảo vệ những giá trị căn bản của gia đình vẫn còn là một tiếng gọi khẩn thiết mà chúng ta, những gia đình Kitô hữu phải chú ý lắng nghe. Đọc lại các thư của thánh Phêrô, thánh Phaolô, chúng ta thấy sự ân cần của các ngài đối với gia đình Kitô hữu. Chúng ta không nên bỏ qua những lời răn dạy thực tế và tốt đẹp đó.
Những người thiện chí vẫn biết rằng gia đình là nền tảng của xã hội. Tàn phá gia đình là tàn phá xã hội. Nhưng hình như nhiều người không muốn tự ràng buộc mình trong một gia đình, người ta chỉ muốn tự do để sống theo ý thích, theo đam mê nhục dục. Chỉ cần hưởng thụ. Họ vẫn có gia đình, nhưng đó chỉ là trạm dừng chân sau khi đã tung hoành theo bản năng. Vì muốn sung sướng, người ta không muốn có con, xem con cái như là một của nợ. Gia đình trong xã hội hôm nay tan rã rất nhiều vì những tệ nạn xã hội. Người ta giết thai nhi như một vật thừa thãi.
Các gia đình Công giáo phải vững tin vào lòng thương của Chúa. Chúng ta không thể sống hạnh phúc nếu chỉ nghe theo bản năng. Gia đình vẫn là một gánh nặng, nhưng là một gánh nặng êm đềm, vì tình yêu vẫn là một bảo đảm cho cuộc sống. Con người cần hạnh phúc chứ không cần giàu sang. Tình yêu mới mang lại hạnh phúc chứ không phải chỉ có khoái lạc. Những người chạy theo khoái lạc, một ngày nào đó cũng sẽ thấy chán chường, tâm hồn trống vắng. Và một ngày nào họ cũng nếm mùi của bệnh tật. Những nhà tỷ phú vẫn bị ung thư, vẫn bị nhiều thứ đau khổ. Không ai tránh khỏi đau khổ. Gia đình mới có thể bảo đảm cho con người một cuộc sống bền vững, những nâng đỡ cần thiết khi gặp bệnh hoạn gian nan.
Gia đình Kitô giáo cũng là cái nôi cho sự sống, là đền thờ của sự sống, như thánh Gioan-Phaolô đã nói, xem con cái là hồng ân của Chúa chứ không là một món nợ không tránh khỏi. Con cái là kết quả của tình yêu chứ không là một điều tai hại. Các gia đình quảng đại đón nhận con cái luôn được Chúa chúc phúc, mặc dù gánh nặng vẫn có nhưng với sự trợ lực của Chúa, gia đình vẫn có thể vượt qua mọi khó khăn.
Hãy tin như Abraham. Ông chỉ có một đứa con duy nhất, nhưng khi Chúa bảo ông sát tế đứa con yêu quí, ông vẫn vâng phục, vì ông tin rằng Chúa có thể giữ lời hứa của Ngài. Chúng ta phải tin và quảng đại đón nhận con cái theo ý Chúa. Chúng ta không tạo được con, chúng là hồng ân, và Chúa không bao giờ bỏ quên những người dám tin vào tình yêu của Ngài.
Gia đình là nơi sự sống phát triển, và cũng là nơi giáo dục, trường học đầu tiên về đạo đức. Cha mẹ chuyển thông cho con cái niềm tin và những đức tính tốt. Và như thế, khi con cái khôn lớn, được lớn lên trong tình yêu chứ không lớn lên trong tội, sẽ là nguồn hạnh phúc cho cha mẹ. Việc giáo dục con cái là một gánh nặng đòi hỏi cha mẹ nhiều hy sinh, nhiều kiên nhẫn. Ngày nay, trẻ em lớn lên trong môi trường xã hội bị ô nhiễm vì những lối sống vô luân, học đường và các phương tiện truyền thông xã hội và gương mù gương xấu khắp nơi. Cha mẹ cảm thấy như bất lực. Nhưng những cha mẹ kiên trì dạy dỗ con, nhất là bằng gương sáng sẽ nhận thấy thành quả tốt đẹp của những cố gắng của mình và ơn Chúa sẽ nâng đỡ.
Nguyện xin thánh gia thất luôn chuyển cầu cho thiện chí của các gia đình luôn cố gắng đi theo đường lối của Giáo hội, làm phát triển trong gia đình những giá trị của tình yêu, đặt Chúa làm trung tâm của gia đình, góp phần vào việc thánh hóa gia đình, và như thế làm cho Giáo hội thêm tươi đẹp nhờ tình yêu gia đình. Các gia đình thánh thiện là bông hoa tươi tắn mà Chúa chúc phúc và là niềm hãnh diện của Giáo hội.
Các gia đình càng thêm thánh thiện khi cùng nhau đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, là nguồn sống mãnh liệt cho mọi người trong gia đình. Mọi người đều chia sẻ tấm bánh Tình Yêu sẽ đủ can đảm để yêu nhau trọn vẹn hơn. Tất cả đều bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa và sẽ kết thúc trong tình yêu vĩnh cửu của Chúa.
(Suy niệm của Lm Giuse Đỗ Văn Thụy)
Tin mừng Lc 2: 22-40: Gia đình là một vườn ươm thuận lợi để làm phát triển các đức tính tốt cho con trẻ như yêu thương, vâng lời, phục vụ, hiền hòa, hy sinh, nhịn nhục, tha thứ.
Phong trào gia đình công giáo đã có từ thế kỷ 16, nhưng đến cuối thế kỷ 19, Đức Giáo Hòang Lêô XIII cỗ vũ mạnh và đặt ra lễ Thánh Gia nhằm thúc giục mọi người theo gương Thánh Gia Thất mà sống trên thuận dưới hòa để tạo lập những gia đình hạnh phúc. Năm 1994 Liên hiệp quốc cũng như Giáo Hội đã chọn làm năm quốc tế về gia đình.
Ngày nay, gia đình đang gặp cơn khủng hỏang trầm trọng, đang trên đà xuống dốc. Gia đình là nền tảng của xã hội mà nền tảng đã lung lay thì xã hội cũng sụp đổ. Do đó, Giáo Hội muốn chúng ta mừng lễ Thánh Gia là để đề cao vai trò của gia đình và đưa ra một tấm gương tuyệt hảo cho mọi người bắt chước, hầu củng cố gia đình và giúp cho xã hội thêm vững mạnh. Gia đình là một vườn ươm thuận lợi để làm phát triển các đức tính tốt cho con trẻ như yêu thương, vâng lời, phục vụ, hiền hòa, hy sinh, nhịn nhục, tha thứ… một trong những yêu tố quan trọng để làm cho gia đình được hạnh phúc là mỗi phần tử trong gia đình phải có một tình yêu vô vị lợi.
Chúng ta thấy thánh Giuse và Đức Maria không bao giờ bận tâm về tư lợi của mình mà bỏ quên ích lợi của Chúa Giêsu. Trái lại, chúng ta chỉ thấy các ngài hòan tòan quên mình, coi nhẹ sở thích riêng tư. Tâm trí và ánh mắt các ngài luôn để ý đến những nhu cầu nhỏ bé, những mong ước đơn sơ của người khác, vì hạnh phúc là gì nếu không phải là làm cho người khác được hạnh phúc.
Hạnh phúc gia đình luôn luôn đòi hỏi phải biết quên mình, hy sinh cho kẻ khác.
Những tấm gương của gia thất trong đời thường:
1. Tài tử Galicopter và người vợ
Một trong những ngôi sao điện ảnh nổi tiếng nhất thập niên 50 là nam tài tử Galicopter. Ông nổi tiếng không những vì tài nghệ diễn xuất mà còn vì cuộc sống hôn nhân mẫu mực của ông. Vào khỏang cuối đời, quằn quại trong thể xác, ông đã nói về Rochi, người vợ đã chung sống với ông gần 30 năm như sau :“Rochi là một người đàn bà tuyệt vời. Nàng là một người vợ đã biết thích nghi với tính khí và công việc của tôi. Nàng cũng biết cảm thông với những lỗi lầm của tôi. Nhất là nàng đã biết ở cạnh tôi khi nàng có thể, mỗi khi tôi cần đến nàng. Nàng là người vợ đích thực”.
Những lời khen tặng trên đây của tài tử Galicopter là một khẳng định rằng: người nắm giữ hạnh phúc gia đình, người nắm vai chủ động trong việc xây dựng hạnh phúc hôn nhân chính là người vợ. Dĩ nhiên, sự thành công của hôn nhân là do sự hợp tác của hai vợ chồng, nhưng người vợ vẫn giữ vai trò chủ yếu: “đàn ông dựng nhà, đàn bà xây tổ ấm”
2. Bà mẹ thánh thiện và đảm đang thành Luân Đôn
Đầu thế kỷ XX này, tại Luân Đôn, có một gia đình công nhân vừa nghèo khó lại vừa đông con: cả thảy 13 đứa! Bố của chúng phải đi làm việc suốt ngày ở xí nghiệp. Bà mẹ ở nhà làm nghề phụ và lo việc nội trợ. Dù đầu tắt mặt tối, bận rộn suốt ngày suốt đêm, nhưng bà Vaughan vẫn vui vẻ thay mặt chồng dạy dỗ con cái học giáo lý, tập luyện chúng có tinh thần đạo đức, khuyên chúng chịu khó học tập, lao động, và đặc biệt trưa nào rửa chén bát xong bà Vaughan cũng đến nhà thờ chầu Chúa một giờ.
Láng giềng ai cũng lấy làm lạ và hỏi bà: “một bầy con 13 đứa, bận rộn sáng tối, mà sao trưa nào chị cũng đi chầu Thánh Thể?” Bà tươi cười bảo: “thấy một bầy con lúc nhúc, ăn bữa mai chạy gạo bữa hôm, tôi lo lắm. Hơn thế chúng còn đến trước trường học, theo bạn bè rủ rê đi chơi hoặc ra phố phường xa hoa, do đó nhiều nguy hiểm, tôi càng thao thức hơn. Thành thử mỗi ngày dầu bận việc đến đâu, tôi cũng bỏ ra một giờ để chầu Chúa, sốt sắng xin Người ban ơn cho vợ chồng tôi nuôi nấng các cháu hằng ngày dùng đủ và dạy dỗ chúng nên người đạo đức”.
Chúa đã nhận lời và ân thưởng cho lòng tin cùng sự hy sinh của bà Vaughan: trong 13 người con, một người làm Hồng Y Tổng Giám Mục giáo phận Luân Đôn, một người khác làm Tổng Giám Mục, hai người làm Linh mục, hai nam tu sĩ, hai nữ tu sĩ, còn 5 người ở thế gian lập gia đình lưu truyền nòi giống, sống cuộc đời đạo đức thánh thiện.
3. Nhà bác học Louis Pasteur
Ngày 14/07/1883, hội đồng thành phố Dole quyết định đặt tấm đồng ghi danh trên cửa nhà mà Pasteur đã sinh ra. Hôm ấy, trong bài đáp từ cao thượng, nhà bác học trứ danh đã để lòng trào ra lòng biết ơn cha mẹ: “ôi, hỡi cha con, mẹ con! Ôi, hỡi những người thân yêu đã chết! Các ngài đã sống bình dị quá trong căn nhà nhỏ bé này, con đã chịu ơn các ngài. Những nhiệt tình của người, hỡi người mẹ can đảm của con, mẹ đã chuyển nó cho con. Nếu con bao giờ cũng đã nối kết vinh quang khoa học vào vinh quang tổ quốc, chính là vì con đã thấm nhuần những tình cảm mà mẹ phấn khích ở trong con. Và hỡi người cha thân yêu, trong đời sống cũng như nghề nghiệp, cha đã tỏ cho con biết đức kiên nhẫn trong cố gắng lâu dài có thể làm được những gì… con xin chúc tụng cả hai, hỡi cha mẹ thân yêu, cho cuộc sống các ngài, và xin để cho con hướng về các ngài cái vinh hạnh mà người ta hiến lên căn nhà này ngày hôm nay.”
“Theo luật Môsê… cha mẹ dâng con cho Chúa”.
Một ông vua muốn thử tài phán đoán của các con, ông đưa ra hai viên ngọc quý, một viên thật, một viên giả, viên ngọc thật ông gói trong giấy báo cũ, còn viên giả ông để trong một hộp thật đẹp. Ông gọi người con đầu tới và bảo anh chọn lấy một viên. Anh bỏ qua gói giấy xấu, lựa lấy viên trong hộp đẹp. Thế là anh đã chọn viên ngọc giả. Đến lượt người con thứ, vua cha cũng bảo như thế, anh này vốn là đứa con hiếu thảo, anh nói: “Thưa cha, con xin cha lựa giùm con”. Dĩ nhiên vua cha lựa cho anh viên ngọc thật.
Chúa Cứu Thế đến trần gian cũng ví được như một ngọc quý nhưng được che phủ trong dáng vẻ bình dị, tầm thường, ít người nhận ra. Muốn nhận ra Chúa Cứu Thế phải có ơn đặc biệt, phải chuẩn bị tâm hồn xứng hợp.
Chúa Giáng Sinh chẳng những như một em bé bình thường, mà còn kém các em bé bình thường nữa. Chúa cũng tuân giữ luật lệ như mọi người, dù em bé Giêsu là Thiên Chúa, dù Đức Maria vô cùng tinh sạch, Mẹ cũng bồng Chúa lên đền thờ làm nghi thức thanh tẩy và dâng lễ vật chuộc Chúa về. Một cặp chim, đó là lễ vật của nhà nghèo. Gia đình Chúa lên đền thờ như một gia đình nghèo khó thi hành luật định. Chúa như là viên ngọc dấu kín, thế nhưng đã có ông Simêon và bà Anna nhận ra Người.
Trong đền thánh có bao nhiêu người giỏi giang, thông thái như các tư tế, các luật sĩ. Họ am tường Kinh Thánh, hiểu rõ các lời ngôn sứ tiên báo về Chúa Cứu Thế, nhưng họ không nhận ra Chúa, vì Chúa quá nghèo khó bình dị. Trong khi ông chỉ là một ông lão nghèo. Bà Anna chỉ là một quả phụ, bần cùng yếu đuối, không quyền hành trong xã hội. Nhưng họ vốn là những người con hiếu thảo của Thiên Chúa: khiêm tốn, đạo hạnh, biết thờ Chúa với tất cả tấm lòng tin yêu phó thác vào quyền năng và tình thương của Thiên Chúa. Họ giống như người con thứ của vua trong câu chuyện kể trên. Họ đã được Chúa Thánh Thần soi sáng để nhận ra Chúa Cứu Thế qua dáng vẻ tầm thường của một hài nhi. Họ đã được đón nhận Chúa Cứu Thế, như những người nghèo hèn bé nhỏ được Chúa chúc phúc vậy.
Simêon và Anna nghèo khó đã hân hạnh được bồng ẵm Chúa Cứu Thế, được thay mặt nhân loại nói lời đầu tiên tung hô Chúa đến.
Simêon cũng đã tiên báo Chúa Cứu Thế sẽ là một báu vật được giấu kín giữa lòng thế nhân. Vì vậy có người nhận ra nhưng đa số vẫn từ chối Ngài, thậm chí còn chống đối Ngài. Do đó Ngài sẽ là duyên cớ cho nhiều người vấp ngã. Và thái độ họ sẽ như một lưỡi gươm đâm thấu trái tim Đức Maria, sẽ làm Mẹ tan nát cõi lòng như ta thấy về sau.
Chu toàn bổn phận theo luật định xong, gia đình Chúa Giêsu trở về Nagiarét. Ở đó, Chúa Giêsu lớn khôn, học hành, tập nghề thợ mộc như các bạn thiếu nhi. Cuộc sống Chúa vạch rõ tầm quan trọng của gia đình, cái nôi cần thiết cho mọi người. Chúa sống ở trần gian 33 năm, thì đã sống 30 năm bình thường trong gia đình nghèo khó.
Xin Chúa giúp chúng con theo gương Chúa sống trung hiếu với Cha trên trời, thảo kính ông bà cha mẹ ở trần gian và sống tình huynh đệ với mọi người. Biết vâng giữ luật Chúa, luật Hội Thánh và các luật lệ chính đáng trong xã hội.
GIA ĐÌNH GIUSE – MARIA – HÀI NHI GIÊSU
Đề tài “gia đình” là một đề tài xưa như trái đất, mà cũng rất thời sự như “tình yêu”, “tình yêu và tuổi trẻ”, “dự bị hôn nhân”, “thăng tiến hôn nhân”, vân vân và vân vân…
Ai cũng biết rằng tất cả các tạo vật – giống nào theo giống đó – có một mối tương quan rất chặt chẽ, một sự hỗ tương tác dụng để “sinh sôi nẩy nở” (Kn 1,22) và lan tràn khắp mặt đất, bầu trời lẫn biển khơi. Riêng loài người thì được Đấng Tạo Hóa ban cho quyền năng “sinh sôi nẩy nở và nên đầy dẫy trên mặt đất, và làm bá chủ muôn loài” (Kn 1,28-31). Đó là “tính xã hội” của muôn loài nói chung, của loài người nói riêng = xã hội loài người thành hình.
Quả thật “không ai là một hòn đảo” (Thomas Merton), mặc dầu dưới một góc độ nào đó, “mỗi người là một hòn đảo” (Carl Rogers). Tựu trung, có lẽ ngoại trừ ông Adong và bà Eva [và cả hài nhi Giêsu? – ai muốn kiểm chứng thì hỏi hài nhi Giêsu đi!] còn hết thảy chúng ta, ai cũng có lổ rốn. Phải chăng lổ rốn là dấu chứng rõ nét nhất của mối tương quan giữa các tạo vật, giống nào theo giống đó, đặc biệt là giống người? = nhân tố của xã hội loài người: gia đình.
Trong chiều hướng đó, Ngôi Lời mặc xác phàm đến ở-với-chúng-ta trong một gia đình – một gia đình rất đặc biệt, có thể nói rằng gia đình duy nhất ở trần gian biểu hiện nếp sống hoàn toàn phù hợp với ý định của Đấng Tạo Hóa khi tạo dựng loài người, và là mẫu mực cho tất cả mọi gia đình của nhân loại trong tiến trình đón nhận ơn cứu độ, ơn canh tân đổi mới để đạt đến sự viên mãn của “Bình An dưới thế cho người Chúa thương”.
Chúng ta đã suy niệm và hân hoan ca hát: “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời – Bình An dưới thế cho người Chúa thương”. Và chúng ta cũng biết rằng Đêm Giáng Sinh chỉ là khởi điểm của chương trình “tạo dựng mới” mà Thiên Chúa đã hứa ban cho loài người ngay sau khi tổ tông phạm tội.
Tiến trình canh tân đổi mới này phải có “hợp đồng hai chiều” giữa Thiên Chúa và loài người, như thánh Augustinô đã nói: “Thiên Chúa tạo dựng chúng ta mà không hỏi ý kiến chúng ta, nhưng Thiên Chúa sẽ không cứu độ chúng ta nếu không có sự đồng tình của chúng ta”. – Ai không muốn kiểu “hợp đồng hai chiều” này thì “thương lượng lại” với Đấng Tạo Hóa đi!!!
Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa đầy quyền năng, là Cha rất nhân từ hằng yêu thương hết mọi người (đọc lại Matthêu, 5-7) – Người không để chúng ta thiệt thòi trong “hợp đồng hai chiều” này đâu! Trái lại, như một nhà giáo dục tuyệt vời, Người còn mách lối chỉ đường cho chúng ta, không chỉ bằng Lời giảng dạy, mà nhất là bằng gương mẫu nếp sống cụ thể của chính Ngôi Lời ở-với-chúng-ta trong một gia đình bằng xương bằng thịt như chúng ta: gia đình Giuse-Maria-Giêsu.
Trước khi vào nếp sống gia đình, cô nàng thùy mị Maria đã phải đương đầu với một cuộc thương lượng gay go: hợp đồng với Thiên Chúa để bắt đầu thực hiện chương trình canh tân đổi mới tạo vật bất chấp mọi dư luận thế gian trần tục? [chưa cưới mà mang thai!]
Trước khi vào nếp sống gia đình, anh chàng Giuse đã phải ký kết hợp đồng với Thiên Chúa, một hợp đồng mà xét theo con mắt trần tục, phần thua thiệt chua cay đau khổ thì Giuse hoàn toàn lãnh đủ!
Vừa bước vào “nếp sống gia đình” (nếp sống gia đình trong dấu ngoặc kép), cả hai Giuse và Maria đều vỡ mộng: lời hứa hẹn của thiên sứ, nào là “Người sẽ làm vua”, nào là “Người sẽ cứu dân độ thế”… hóa ra là lời hứa cuội. Tìm chỗ trú ẩn tầm thường để Maria sinh ra “vua cả trời đất” mà cũng chẳng ai thèm cho!
Ngày “vua cả trời đất” sinh ra, họa chăng có vài mục tử nghèo hèn đến viếng thăm. Rồi nghe đâu có ba (3) nhà hiền sĩ từ phương Đông tò mò đến như thể để kiểm chứng sự khám phá “ngôi sao lạ” vừa xuất hiện trên bầu trời.
“Hoàng Nhi” vừa thôi nôi mã đã có người tìm giết cho bằng được. Giuse lại phải đương đầu với hợp đồng ông đã ký kết với Thiên Chúa: dẫn “hiền thê” và “Con đầu lòng” đi trốn sang Ai-Cập, nơi mà hơn 1000 năm trước, các tổ phụ của Giuse đã bị bắt làm nô lệ…
Thời đó chắc chưa có chính sách tị nạn, nghĩa là chưa có “green card” hoặc “thi nhập quốc tịch”, Giuse lại phải tiếp tục chấp hành đúng theo điều cam kết trong hợp đồng với Thiên Chúa: đem “hiền thê” và “Hoàng Nhi” về quê cũ.
Ôi! con đường Thiên Chúa dẫn dắt gia đình Giuse-Maria-Giêsu đến sự “Bình An dưới thế cho người Chúa thương” thật kỳ lạ, vượt xa mọi tư tưởng và cảm nhận của người trần thế!
Đấng Tạo Hóa “khôn” lắm! Người biết thế nào chúng ta cũng so đo phàn nàn về “hợp đồng hai chiều” mà phần thua thiệt – dưới con mắt trần tục của chúng ta – bảo đảm chúng ta phải lãnh đủ, nên gần 500 năm trước khi Ngôi Lời mặc xác phàm đến ở-với-chúng-ta, Người đã dùng miệng ngôn sứ Isaia báo trước: “Quả thế, ý nghĩ của Ta không phải là ý nghĩ của các ngươi, và đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi… Vì trời cao hơn đất (bao nhiêu), cũng vậy, đường lối của Ta vượt hơn đường lối của các ngươi, và ý nghĩ của Ta vượt hơn ý nghĩ của các ngươi.” (Is. 55:8-9)
Trong suốt 30 năm Ngôi Lời mặc xác phàm ở-với-chúng-ta, gia đình Giuse-Maria-Giêsu hầu như im hơi lặng tiếng – chỉ một lần lúc Giêsu lên 12 tuổi (tuổi “có trí khôn” theo quan niệm thời bấy giờ?), Thiên Chúa hé mở cho chúng ta thấy thế nào là nếp sống gia đình gương mẫu, một nếp sống trông rất bình thường nhưng vượt trên mọi sự bình thường:
+ Giuse thì luôn luôn LẮNG NGHE và THI HÀNH tiếng nói của lương tri, của Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn trong mọi biến cố của cuộc đời;
+ Maria thì luôn luôn “suy niệm trong lòng”, nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa qua mọi biến cố và XIN VÂNG;
+ Giêsu thì luôn luôn “ở nơi nhà Cha” (Luca 2:49), tùng phục cha mẹ, và “lớn lên [bình thường như mọi người] càng thêm tuổi, càng thêm khôn ngoan và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta” (Luca 2:51).
Quả là một cuộc thách đố Đấng Tạo Hóa “trêu” con người!
Nhưng “vui mừng và hy vọng” thay! Chương trình tái tạo muôn loài nhờ Ngôi Lời mặc xác phàm ở-với-chúng-ta đã thành tựu = gia đình Giuse-Maria-Giêsu làm chứng điều đó, và trải qua gần 2000 năm nay, biết bao nhiêu gia đình – cộng đoàn tu sĩ nam nữ cũng là những gia đình trong ý nghĩa trọn vẹn của gia đình – đã noi theo gương Thánh Gia làm chứng điều đó.
Phần chúng ta hôm nay, bây giờ, gia đình chúng ta có muốn theo gương các vị tiền nhân, ký kết “hợp đồng hai chiều” với Thiên Chúa để mỗi một chúng ta: cha mẹ, con cái, anh chị em chúng ta đạt đến sự viên mãn của “Bình An dưới thế cho người Chúa thương” không? – Nhờ ơn Chúa hợp với tâm tình LẮNG NGHE và THI HÀNH tiếng nói của Thần Khí Thiên Chúa của chúng ta, chắc chắn chúng ta sẽ thu lợi trong “hợp đồng” này.


Tìm Hiểu Ơn Gọi
Ý Cầu Nguyện
Liên hệ
Tin cùng chuyên mục:
Chuyến Viếng Thăm Mục Vụ Của Cha Bề Trên Tổng Quyền Tại Miền Dòng Việt Nam
Thánh lễ Truyền Chức Phó Tế và Linh Mục Dòng Linh Mục Thánh Tâm Chúa Giêsu
Thông báo Truyền chức Phó tế và Linh mục ngày 17 tháng 10 năm 2026
Cha Martino Capelli và sức mạnh của sự tha thứ