Suy tôn Thánh Giá

Chân – Thiện – Mỹ…

 

Trong giây phút đau khổ tột cùng trên Thập giá, Thầy Giêsu đã kêu lên: « Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha bỏ con? » (Mc 15, 34; Mt 27, 46). Sau khi chịu những nhục mạ và những cực hình tàn bạo của con người, Thầy cảm thấy bị bỏ rơi đến mức tột cùng, cảm thấy một sự trống rỗng: hoàn toàn vắng bóng Thiên Chúa, không còn cảm giác về sự hiện diện của Cha, Đấng mà Thầy gọi là Abba.

« Eli! Eli! Lamma sabacthani? ». Tiếng kêu than trong ngôn ngữ Do Thái diễn tả một trải nghiệm kinh khủng về Thiên Chúa từ bỏ Con Thiên Chúa. Thầy Giêsu dường như đã không còn là Ngôi Hai Thiên Chúa nữa khi bị tước đoạt tất cả. Kinh nghiệm bị bỏ rơi tỏ lộ một Giêsu đang ở trong tột cùng của mọi nỗi cô đơn: bị loài người từ bỏ và dường như cũng bị Cha chối từ. Chính lúc trải qua những giây phút cuối cùng như hoàn toàn xa rời Thiên Chúa, Ngài đã trải nghiệm thế nào là sự hủy hoại và độc hại của sự dữ gây ra. Trong giây phút kinh hoàng, đen tối và rùng rợn đó, Thầy đã xem như mình bị đồng hóa với nhân loại tội lỗi, vì « Thiên Chúa đã biến Ngài thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta » (2 Cr 5, 21).

Trong nỗi đớn đau và cô đơn khủng khiếp, Thầy đã đền tội thay cho ba lối sống: người từ chối Thiên Chúa, người nghi ngờ sự hiện diện của Thiên Chúa và người lãnh đạm với Thiên Chúa với hậu quả bi thảm:

– Khi từ chối Thiên Chúa, đời sống của con người trở thành hư vô, và mọi sự trong đó chỉ còn phi lý và vô nghĩa.

– Khi nghi ngờ sự hiện diện của Thiên Chúa, con người trở nên nghi ngờ chính mình. Không thể thiết lập và giữ được mối tương quan với Thiên Chúa, thì tương quan với nhau chỉ còn là giả tạo, ý nghĩa và giá trị cuộc sống bị lung lay, bản thân dễ trở thành miếng mồi ngon cho sự dữ hoành hành.

– Khi đã lãnh đạm với Thiên Chúa thì cuộc sống và mọi cái trong đó đều trở nên trống rỗng. Trong sự lãnh đạm-vô cảm đó, tình yêu không thể phát sinh nên hạnh phúc cũng không thể hình thành. Trong tâm trạng đó mọi cái đều trở nên vô hồn, hoang vu và cuối cùng, con người trở nên sự bế tắc cho chính mình.

Trong đại dịch virus Tc, nhiều kitô hữu cũng cảm nghiệm sự vắng mặt của Thiên Chúa, Eli! Eli! Lamma sabacthani?, khi không được tham dự trực tiếp kỷ niệm, tưởng niệm các biến cố đỉnh điểm cuộc đời dương thế của Thầy Giêsu; không còn được giữ những thói quen sống đạo với những cử hành hoành tráng. Nhiều kitô hữu, trong đó có cả một số đấng bậc, có lẽ do cách ly nên « rảnh », đã sống theo kiểu « holy see – thánh soi » trở thành « thánh chém » để góp ý, lên tiếng bầy đàn chỉ trích cách công khai khắp nơi về những sai sót của nơi này, người kia. Và như với chính nghĩa nơi mình, với ngọn cờ của chân lý và thiện chí, họ mạnh dạn dấn thân để mong muốn thổi luồng gió mới canh tân đời sống đức tin. Đúng/sai, sự thật/giả dối, thiện chí/ác tâm chỉ cách nhau một làn ranh nhỏ nên dễ dàng rơi vào và bị cuốn hút theo lối sống lấy lý do biện minh cho hành động.

Quay cuồng sống cách ly vì đại dịch, cảm nghiệm sự vắng mặt của Thiên Chúa không phải để chất vấn nhau mà để chất vấn chính mình. Quay trở về bản thân và tự hỏi tôi đã làm gì, đã sống thế nào trước cái khát của Thầy Giêsu trên thập giá : « Ta khát » (Ga 19, 28). Cơn khát ập đến sau những làn roi, đinh đóng chân tay đau đớn, sau những chỉ trích, chê trách, cạm bẫy, kích động, sỉ vả, nhạo cười, lăng nhục, chế giễu : « có giỏi thì xuống khỏi thập giá mà cứu mình đi ! » (Mc 15, 30 ; Mt 27, 40.42 ; Lc 23, 35.37). Thầy Giêsu đến ngày nay vẫn Khát, khi mỗi người sống theo kiểu « gà cùng một mẹ cứ hoài đá nhau ». Cùng sống trong gia đình nhân loại, đại dịch Virus Tc đã giúp con người nhìn nhận được nhiều vỏ bọc được khoác vào chiếc áo của công lý, của chân lý và cả thiện chí giả tạo : lợi dụng lòng tốt của nhau để kiếm lời như ngay trên những món hàng được viện trợ, cụ thể Trung Quốc bán lại dụng cụ y tế cho Ý mà trước đó chính Ý viện trợ giúp ; lấy tiếng viện trợ chống dịch nhưng lại bán kém chất lượng ; trong đời sống đạo thì lên tiếng kêu gọi quyên tiền thuê đài truyền hình để trực tuyến thánh lễ với cái bẫy thách thức được che giấu tinh vi ; kitô hữu, môn đệ của Thầy Giêsu, nhưng chẳng theo Thầy mà làm và sống theo ý mình, thỏa mãn những thầm kín cá nhân… Tất cả như làm Thầy Giêsu càng ngày càng Khát hơn, khi mà « thay đồ ăn chúng trao mật đắng, con khát nước lại cho uống giấm chua » (Tv 69, 22).

Cảm nghiệm sự vắng mặt của Thiên Chúa, không phải là để trách nhau, nhưng là trách chính bản thân khi sống vô cảm, ích kỷ và cả cao ngạo. Cũng sống theo sự thật/chân lý, cũng mang danh thiện chí nhưng lại sống thiếu Mỹ như Thầy : « Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm » (Lc 23, 34).

Một cách tự nhiên vào giờ hấp hối, tự đáy lòng con người bộc lộ những lời tha thiết với người thân yêu, người lân cận. Thầy Giêsu trong bao đau đớn và tủi nhục, lời đầu tiên cất lên là xin Cha tha thứ cho những kẻ bách hại, kết án, lăng nhục và đóng đinh Người. Còn đối với các tội nhân chịu án phạt, triết gia Xênêca thuật lại : người bị treo trên thập giá thường trù ẻo cha mẹ, nguyền rủa ngày sinh tháng đẻ, mắng nhiếc lý hình, thậm chí còn khạc nhổ vào bất cứ ai qua lại đứng ngồi dưới chân cây thập giá. Các lý hình, luật sĩ, biệt phái chờ đợi tiếng la hét, mắng nhiếc, nguyền rủa của người bị đóng đinh đang hấp hối. Nhưng, Thầy tự đáy lòng thốt lên một lời nguyện đầy êm ái về lòng bao dung : « Lạy Cha xin tha thứ cho họ vì họ chẳng hiểu biết việc họ làm ».

Đỉnh điểm của Mỹ, của sống đẹp là đây, là trở thành Đấng Bảo Hộ/Luật Sư cho những ai giết, chế giễu, châm chọc, thách thức, khích bác mình : Tha thứ vì họ không biết. Nếu họ biết tội họ phạm lớn thế nào khi kết án tử cho Đấng ban sự sống; nếu họ biết rằng họ đang đổ máu Thầy Giêsu để cứu chuộc chính họ thì sẽ ra sao ?

Sống tuyệt đỉnh của Chân – Thiện – Mỹ mới có thể như Thầy Giêsu cất vang câu nói : « Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha » (Lc 23, 46). Thầy đã quy hướng mọi sự về Cha, đã trao phó tất cả cho Cha, và cuối cùng dâng trong tay Cha chính sự sống của mình, rồi « Người gục đầu xuống và trao Thần Khí » (Ga 19, 30). Tâm tình hiếu thảo của Thầy Giêsu đã đạt đến mức độ tối hảo trong việc làm vinh danh Cha. Trên thập giá, Thầy kêu lên một tiếng lớn rồi trút linh hồn. Trong Tin Mừng Gioan không dùng những từ đó nhưng cho biết trước khi chết, Thầy đã hô vang : « Thế là đã hoàn tất » (Ga 19, 30). Trong tiếng Hy Lạp chỉ có một chữ τετέλεσται/tetélestai, đây là tiếng reo vui của một người chiến thắng sau trận chiến đấu; là tiếng hân hoan của một người đã hoàn tất công việc sau bao gian khổ; là tiếng ca vang của một người đã vượt ra khỏi bóng tối để bước vào ánh sáng. Tiếng kêu cuối cùng Thầy Giêsu trên Thập giá bày tỏ Thầy đã chết như một người chiến thắng sự Chết, mở ra vinh quang sự Sống cho tất cả những ai tin và bước theo Thầy.

Hãy sống Chân – Thiện – Mỹ như Thầy để đáp trả lại cơn Khát của Thầy…