CN.IV.MC.A

Đôi mắt….
(1 Sm 16, 1b.6-7.10-13; Ep 5, 8-14; Ga 9, 1-41)

Nhạc sĩ Xuân Hồng có sáng tác bài Đôi mắt với lời nhắc nhớ cần nên sử dụng như thế nào: Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời, để nhìn đời và để làm duyên; Đời cho em đôi mắt màu đen, để thương để nhớ, để ghen, để hờn; Đôi mắt em là cửa ngõ tâm hồn, là bài thơ hay nhất, là lời ca không dứt, là tuyệt tác của thiên nhiên. Bên cạnh đó, đôi mắt được coi là cửa sổ của tâm hồn, bởi vì từ đôi mắt sẽ nhận ra con người ấy như thế nào theo như ông bà xưa thường nói: người khôn con mắt dịu hiền, người dại con mắt láo liên nhìn trời; những người ti hí mắt lươn, trai thì trộm cướp gái buôn chồng người; con lợn mắt trắng thì nuôi, con người mắt trắng đánh rồi đuổi đi. Dù thế nào, đôi mắt giúp mỗi người để nhìn, để ngó, để trông, để ngắm, để dòm, để liếc; bên cạnh đó là để khóc: khóc òa, khóc thét, khóc gào, khóc nức nở, khóc thầm, khóc thút thít, khóc vụng trộm, khóc ti tỉ, khóc tỉ tê, khóc nỉ non, khóc mùi, khóc như ri, khóc như mưa, khóc như cha chết, khóc đứng khóc ngồi… Nói cách khác, đôi mắt được dùng để diễn tả những tình cảm vui buồn, tức giận, nghi ngờ, thất vọng hay là những thông điệp của tình thương yêu dùng thay cho lời nói, bày tỏ đủ vị “hỷ nộ ái ố” của mỗi người.

Chính vì vậy, nếu bị khiếm thị, bị mù đều là mất mát lớn. Mù có thể do bẩm sinh, do tai nạn, do bệnh tật với các cấp độ khác nhau: quáng gà, mắt không phải mù mà không trông thấy rõ khi chập tối, giống như gà vậy; thong manh làm cho mắt không thấy đường tuy con mắt vẫn mở như người thường; mù tịt không trông thấy gì, không những không thấy những vật chung quanh mà lúc nào cũng như ở trong đêm tối.

Rung cảm trước khiếm thị, Thầy Giêsu chạnh lòng thương, chủ động dừng bước chân đến gặp người mù bẩm sinh. Đặc biệt hơn nữa, anh ta không biết Thầy là ai, lúc Thầy lấy bùn xức vào mắt anh, anh cũng chẳng biết Thầy làm như thế để lảm gì. Rồi khi Thầy bảo anh đứng dậy đi tới suối Siloac mà rửa, anh cũng chưa biết đi rửa như thế có ăn thua gì không. Vậy mà anh cứ đi và sau khi anh rửa, mắt được sáng ra và nhìn thấy được. Anh hạnh phúc nhưng vẫn chưa biết rõ người đã mở mắt cho mình là ai. Anh chỉ biết lờ mờ “Người tên là Giêsu” (Ga 9, 11), đó cũng là tất cả những gì anh biết về Thầy. Ngoài ra Người ở đâu, anh không biết, Thầy là người như thế nào anh cũng chẳng hay. Thế nhưng, tự trong cõi lòng, anh từng bước nhận diện ra Thầy. Khi anh được người ta tra vấn về nguyên do anh được sáng mắt, trong lúc người ta tìm mọi cách để kết án Chúa thì anh lại dõng dạc tuyên bố: “Người là một vị ngôn sứ” (Ga 9, 17), rất thẳng thắn và cũng rất chân thành, không có gì là úp mở cả. Rồi khi người ta dùng áp lực để dọa cha mẹ và tiếp sau là đe dọa cả anh thì lúc ấy anh trở nên can đảm lạ thường. Dường như anh không còn biết sợ là gì nữa, thái độ của anh khác hẳn với thái độ của cha mẹ. Anh thẳng thắn dõng dạc tuyên bố trước mặt mọi người: “Chúng ta biết Thiên Chúa không nhậm lờì những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người thì Người nhậm lời kẻ ấy” (Ga 9, 31-33).

Anh đã được mở mắt, đã thấy được sự thật và đã dám gắn bó với sự thật đó, cho dù anh có phải trả một giá rất đắt nhưng cũng sẵn lòng. Trước kia anh mù, cuộc sống đã đầy tràn khổ cực. Bây giờ được sáng mắt tưởng như cuộc sống sẽ thuận lợi hơn, ai dè ngay cha mẹ anh không dám bênh vực, xã hội cũng chẳng giúp được gì. Chỉ còn một chút hy vọng vào cộng đoàn tôn giáo thì người ta lại trục xuất, đưa anh trở lại với cuộc sống còn cô đơn và bất hạnh hơn trước. Thế nhưng, ngay lúc bơ vơ nhất, anh được Thầy mở rộng vòng tay đón nhận và dẫn đưa anh đến đỉnh điềm của niềm tin. Thầy không phải là một ngôn sứ, nhưng là Đấng Cứu Độ: “Thưa Ngài, tôi tin” (Ga 9, 38) và phủ phục trước mặt Người.

Can đảm sống và tuyên tín vào sự Thật, anh đã từng bước vượt qua mọi chông gai để nhận biết Thầy, từ người mù đến thấy thể lý, tiến xa hơn nữa thấy tâm hồn, được sáng mắt và được sáng lòng. Mỗi kitô hữu được mời gọi sống can đảm, theo sự Thật như anh khiếm thị, đừng sống theo kiểu “có mắt như mù”:

Tính ích kỷ làm ta mù không thấy nhu cầu của tha nhân.
Tính vô cảm làm ta mù không thấy những việc bản thân làm đau lòng người khác
Tính tự phụ làm ta mù không thấy tha nhân cũng có nhân phẩm như mình.
Tính kiêu căng làm ta mù không thấy khuyết điểm của bản thân.
Những thành kiến làm ta mù không thấy sự thật.
Sự hối hả làm ta mù không thấy vẻ đẹp chung quanh.
Khuynh hướng duy vật làm ta mù không thấy những giá trị thiêng liêng.
Sự hời hợt làm ta mù không thấy giá trị thật của con người mà ta hay lên án.
Tính tục hóa làm ta mù không thấy Thầy Giêsu đang đứng bên ta…