Các bài suy niệm Chúa nhật XI năm A

1D 1 800x445 1

Bài đọc: Xh 19:2-6a; Rm 5:6-11; Mt 9:36-10:8.

1/ Bài đọc I (Xh 19:2-6a)2 Họ đã nhổ trại rời Rơ-phi-đim tới sa mạc Xi-nai và dựng trại trong sa mạc. Thiên Chúa hứa ban giao ước.

3 Ông Mô-sê lên gặp Thiên Chúa. Từ trên núi, ĐỨC CHÚA gọi ông và phán: “Ngươi sẽ nói với nhà Gia-cóp, sẽ thông báo cho con cái Ít-ra-en thế này:

4 Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai-cập thế nào và đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta.

5 Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta.

6 Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư-tế, một dân thánh. Đó là những lời ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en.”

2/ Bài đọc II (Rm 5:6-11)6 Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta.

7 Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng.

8 Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.

9 Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.

10 Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hòa giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hòa giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy.

11 Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hòa giải chúng ta với Thiên Chúa.

3/ Phúc Âm (Mt 9:36-10:8)36 Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.

37 Bấy giờ, Người nói với môn-đệ rằng: Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít.

38 Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”

1 Rồi Đức Giê-su gọi mười hai môn-đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

2 Sau đây là tên của mười hai tông-đồ: đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông;

3 ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô;

4 ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người.

5 Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng:

6 Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.

7 Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần.

8 Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong cùi được sạch bệnh và khử trừ quỷ thần. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.


GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Các tiến trình trong Kế-hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa.

            Con người ở mọi thời rất dễ lẫn lộn và khi lẫn lộn họ không biết mình phải làm gì. Vì thế, Giáo Hội luôn cần những nhà rao giảng sáng suốt và nhiệt thành để lãnh đạo và biết cách để đưa những tín hữu đã lạc xa Thiên Chúa trở về. Một trong những điều cần thiết là các nhà rao giảng phải biết tổng quát các tiến trình trong Kế-hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa. Theo Kế-hoạch này, Thiên Chúa chọn hai ông Mô-sê và A-ha-ron để thành lập một Dân Riêng theo giao ước tại Sinai. Mục đích của việc thành lập Dân Riêng này là chuẩn bị cho Đấng Thiên Sai tới. Các ngôn-sứ của Thời Lưu Đày và Hậu Lưu Đày không ngừng chuẩn bị tâm hồn dân để đón chờ Đấng Thiên Sai. Kế tiếp, Đức Ki-tô là Đấng được Thiên Chúa sai đến để thành lập một giao ước mới, ký kết bằng chính Máu của Ngài. Song song với việc mặc khải Tin Mừng Cứu Độ, Ngài thành lập Nhóm Mười Hai và một số đông môn-đệ, huấn luyện và sai họ đem Tin Mừng Cứu Độ đến cho mọi người.

            Các bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy những nét đại cương của Kế-hoạch Cứu Độ. Trong bài đọc I, Đức Chúa, qua sự lãnh đạo của Mô-sê và A-ha-ron, dẫn đưa con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập vào chân núi Sinai, để thiết lập với họ một giao ước. Với giao ước này, Ngài trở thành Thiên Chúa của họ và họ trở thành một Dân Riêng của Ngài. Trong bài đọc II, Thiên Chúa sai Đức Ki-tô vào trần gian. Ngài trở thành trung gian của một giao ước mới. Với giao ước này, ơn cứu độ được mở rộng đến cho mọi dân tộc, người Do-thái cũng như Dân Ngoại. Tất cả những ai tuyên xưng niềm tin của mình vào Đức Ki-tô đều trở thành Dân của Thiên Chúa, sẽ được giao hòa với Thiên Chúa và được hưởng ơn cứu độ muôn đời. Trong Phúc Âm, Chúa Giê-su kêu gọi và huấn luyện 12 tông-đồ, như 12 chi tộc của một nước mới, Nước Thiên Chúa. Ngài ban quyền cho các ông và sai các ông đi rao giảng về Nước Thiên Chúa và chữa lành dân chúng.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC

1/ Bài đọc I: “Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư-tế, một dân thánh.”

1.1/ Thành lập một Dân Riêng là hoàn toàn do ý định của Đức Chúa: Trong Sách Sáng Thế, Đức Chúa đã hứa với các tổ-phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp là sẽ ban cho các ngài một dòng dõi, Đất Hứa và phúc lành. Trong Sách Xuất Hành, Đức Chúa thực thi tất cả những gì Ngài đã hứa. Bắt đầu với việc Ngài bảo Mô-sê vào xin vua Pha-ra-ô để dân vào gặp Ngài trong sa mạc… Sau khi đã vượt qua Biển Đỏ, họ dừng chân tại chân núi Sinai. Tại đây, Đức Chúa đã tỏ mình ra cho dân tộc Ít-ra-en và lập một giao ước với họ.

            Vì dân không thể chứng kiến uy quyền của Thiên Chúa bày tỏ, nên họ xin Đức Chúa nói với Mô-sê và Mô-sê chuyển sứ điệp lại cho họ. Ông Mô-sê lên gặp Thiên Chúa. Từ trên núi, Đức Chúa gọi ông và phán: Ngươi sẽ nói với nhà Gia-cóp, sẽ thông báo cho con cái Ít-ra-en thế này: “Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai-cập thế nào và đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta.” Đức Chúa muốn cho ông Mô-sê và con cái Ít-ra-en nhớ rõ: Việc đưa toàn dân ra khỏi đất Ai-cập là chuyện không thể đối với con người; nhưng đó là chuyện Thiên Chúa đã làm. Ngài đã mang họ ra khỏi Ai-cập như chim bằng cõng con trên cánh vì yêu thương và giữ lời đã hứa với các tổ-phụ của họ.

1.2/ Bổn phận của dân tộc Ít-ra-en: Theo giao ước Đức Chúa đã ký kết với dân tộc Ít-ra-en qua trung gian của ông Mô-sê, Đức Chúa sẽ bảo vệ dân và ban cho 12 chi tộc Ít-ra-en Đất Hứa làm sản nghiệp. Phần con cái Ít-ra-en, họ phải nghe tiếng Đức Chúa dạy dỗ họ qua các nhà lãnh đạo và phải giữ giao ước của Đức Chúa, biểu hiện qua Thập Giới. Đức Chúa truyền cho ông Mô-sê phải nói những lời này cho con cái Ít-ra-en: “Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư-tế, một dân thánh.”

            Con cái Ít-ra-en rất hãnh diện là Dân Riêng của Đức Chúa, được Ngài thân hành hiện ra để ban Thập Giới. Họ được Đức Chúa kêu gọi để trở nên thánh thiện như Đức Chúa là Đấng Thánh và bổn phận của họ là phải yêu mến và thờ phượng Đức Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn.

2/ Bài đọc II: “Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.”

2.1/ Chúng ta được giao hòa với Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su Ki-tô: Thánh Phao-lô là người hiểu rất rõ về Kế-hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa, vì Ngài đã có kinh nghiệm bản thân về điều ngày trên đường đi Đa-mát. Trước khi té ngựa, ngài vẫn nghĩ Kế-hoạch Cứu Độ chỉ dành cho người Do-thái và không tin Đức Ki-tô là Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa. Sau khi bị mù, Phao-lô thay đổi hoàn toàn: Ngài tin Đức Ki-tô là Đấng Cứu Độ và Kế-hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa giờ đây được mở rộng tới mọi người và cho mọi dân tộc. Trong trình thuật hôm nay, ngài tuyên bố với các tín hữu Rô-ma, phần đông là những người Dân Ngoại: “Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.”

            Đức Ki-tô đổ máu ra là cho tất cả mọi người: Do-thái cũng như Dân Ngoại, vì cả hai đều có tội và cần được trở nên công chính. Khi con người có tội, họ phải xa lìa Thiên Chúa; nhưng nếu máu Đức Ki-tô đã rửa sạch tội, họ được trở nên công chính nhờ niềm tin vào Đức Ki-tô. Hậu quả là họ được giao hòa với Thiên Chúa và tránh khỏi cơn thịnh nộ của Ngài.

2.2/ Chúng ta được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa nhờ máu của Chúa Giê-su Ki-tô đổ ra cho chúng ta: Các tín hữu không những được rửa sạch và được giao hòa với Thiên Chúa, nhưng họ còn được thông phần sự sống thần linh của Người Con ấy. Phao-lô có lẽ muốn nói tới những ơn thánh mà các tín hữu nhận được qua công cuộc cứu độ của Đức Ki-tô.

3/ Phúc Âm: Chúa Giê-su đến để thiết lập một dân mới đặt trên một giao ước mới.

3.1/ Mục đích của việc thiết lập là quy tụ tất cả các chiên tản lạc về cùng một mối: Nhiều người thắc mắc: Tại sao tất cả mọi người đều do Thiên Chúa dựng nên, thế mà Ngài chỉ chọn dân tộc Do-thái làm Dân Riêng của Ngài? Hỏi tức là trả lời, Thiên Chúa không thể chỉ chọn dân tộc Do-thái, nhưng Ngài chọn họ trước để chuẩn bị cho Đức Ki-tô đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ mở rộng Kế-hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa cho mọi người. Bắt đầu trình thuật hôm nay, thánh Mát-thêu tường thuật: “Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.”

            Lòng thương xót dân chúng của Chúa Giê-su là động lực thúc đẩy Ngài lo việc cứu vớt dân chúng. Bầy chiên không người chăn dắt có thể vì nhiều lý do:

            (1) không có mục tử chăn dắt: Điều này vẫn đang xảy ra vì nhiều lý do: chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng thụ vật chất, hiện tượng ngừa thai và sinh ít con của các gia đình…

            (2) không có mục tử nhiệt thành: Thay vì nhiệt thành rao giảng Lời Chúa và chăm sóc chiên, các mục tử lại để ý đến lông chiên hay thịt chiên, thay vì lo xây dựng đền thờ tâm hồn cho dân chúng, các mục tử lại chỉ lo lắng đến việc xây cất đền thờ vật chất…

            (3) có mục tử nhưng không biết cách chăn dắt: Thay vì nuôi dưỡng chiên bằng Lời Chúa và các bí-tích, lại cho chiên ăn tất cả những gì không phải là Lời Chúa và ơn thánh.

            Chúa Giê-su nói với môn-đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.” Lòng thương xót dân chúng và tình yêu dành cho Thiên Chúa phải là động lực thúc đẩy mọi công cuộc truyền giáo. Các tín hữu phải cầu nguyện cho có nhiều người hăng say rao giảng và chính họ cũng phải hăng say hoạt động và đóng góp công sức trong cánh đồng truyền giáo.

3.2/ Chúa Giê-su thành lập Nhóm Mười Hai để thi hành mục đích: Chúa Giê-su lo cho chiên có người chăn, bằng cách dùng con người và huấn luyện họ thành những chủ chăn nhiệt thành và có khả năng, trước khi sai họ vào cánh đồng truyền giáo.

            Danh từ “apostolos” đến từ động từ “apostellein” có nghĩa là được sai đi. Tất cả các ông đều được chọn bởi chính Chúa Giê-su và được sai đi, không có ai trong số 12 tình nguyện theo Chúa Giê-su cả. Tính tình của các ông khác nhau đến độ xung khắc: Phê-rô nhiệt thành và mau nói ở với Gio-an thâm trầm và suy tư, Si-môn thuộc nhóm Quá Khích (đây là Nhóm rất ghét những ai làm tay sai cho ngoại bang) ở với Mát-thêu, người thu thuế cho ngoại bang. Nhưng các ông đã ở với nhau để cùng chung lo cho sứ vụ mở mang Nước Thiên Chúa.

            Nhóm Mười Hai không có ai nổi bật, nếu không nói là hèn kém theo tiêu chuẩn thế gian. Điều này chứng minh quyền lực và khôn ngoan của Thiên Chúa. Ai ngờ những con người ít học, sợ sệt, ham danh vọng này lại trở thành những con người hăng say rao giảng, chinh phục thế giới và xây dựng một Giáo Hội vững chắc hơn 2,000 năm qua!

3.3/ Ngài sai các ông đi với một chỉ thị: Rao giảng Nước Trời đã đến gần: Tại sao Chúa Giê-su ra chỉ thị: “Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en?” Trước khi Kế-hoạch Cứu Độ được lan tràn đến mọi người, Thiên Chúa chọn dân tộc Ít-ra-en là Dân Riêng để huấn luyện họ. Chúa Giê-su cũng theo cách lãnh đạo rất khôn ngoan của Thiên Chúa: Trước khi Tin Mừng bành trướng ra toàn thế giới, Ngài huấn luyện nhóm nhỏ và rao giảng từng chỗ, bắt đầu với các chiên lạc của nhà Ít-ra-en trước. Sau này, Ngài chọn Phao-lô và Ba-na-ba để sai hai ông rao giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại, vì hai ông đã có nhiều kinh nghiệm trong một thế giới rộng lớn hơn. Con người vẫn sử dụng cách thức huấn luyện nhóm nhỏ rất hiệu nghiệm trong mọi lãnh vực ngày nay.

            Chỉ thị của Chúa Giê-su rất rõ ràng: Lên đường và lo sao cho mọi người được biết Tin Mừng Cứu Độ vì Nước Trời đã đến gần. Ngài ban cho các ông quyền năng chữa lành để khơi mào niềm tin. Ngài truyền cho các ông: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.” Vì Tin Mừng được Chúa Giê-su ban tặng cho các ông cách nhưng không, Ngài truyền cho các ông cũng phải rao giảng cách nhưng không.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG

            – Chúng ta cần học hỏi để biết Kế-hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa. Hiểu biết Kế-hoạch này sẽ giúp chúng ta biết ý định của Thiên Chúa để thi hành và tránh được những thái độ quá khích với các dân tộc hay thái độ phe đảng.

            – Đức Giê-su Ki-tô là trung tâm Kế-hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa. Ngài đến để làm trọn tất cả ý định của Thiên Chúa và thiết lập một dân mới cho Nước Thiên Chúa.

            – Mỗi người chúng ta được Thiên Chúa cho hiện hữu trong cuộc đời là cho một mục đích: làm sao cho mình và cho mọi người được hưởng ơn cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta đừng bị phân tâm đến những hoạt động khác mà quên đi bổn phận chính yếu là rao giảng Tin Mừng.

1.Người chạnh lòng thương

Suy Niệm

Đức Giêsu thấy đám đông theo Ngài, vất vưởng bơ vơ như chiên không người chăn dắt. Người chạnh lòng thương.

Lòng thương bắt nguồn từ con tim biết nhói đau trước nỗi khổ của người khác.

Đức Giêsu đã làm tất cả để xoa dịu, đỡ nâng và mời gọi các môn đệ cộng tác trong công cuộc ấy.

Trước một thế giới buồn, Ngài sai họ rao giảng Tin Mừng về Nước Trời gần đến.

Trước một thế giới bệnh hoạn, Ngài cho họ khả năng chữa lành.

Trước một thế giới bị nô lệ cho thần ô uế, Ngài cho họ quyền đem lại tự do.

Trước một thế giới đầy chết chóc, Ngài cho họ quyền trả lại sự sống.

Đức Giêsu sai các môn đệ đi vào cuộc đời, đi hai người một để nâng đỡ nhau. Ngài không chọn những người giỏi giang, học thức, nhưng chọn những người đánh cá đơn sơ và quảng đại.

Trước hết, Ngài sai họ đến với chính dân tộc của họ, để rồi sau này đến với cả thế giới.

Đức Giêsu muốn họ cho đi tất cả những gì đã nhận mà không đòi hỏi chút quyền lợi hay đặc ân nào.

Hôm nay, Đức Giêsu mời chúng ta nhìn thấy đám đông gần 6 tỉ người trên mặt đất. Ngài mời chúng ta thấy 50 ngàn trẻ em chết đói mỗi ngày. Từ 12-18 triệu người chết đói một năm. 1,3 tỉ người sống trong cảnh đói nghèo cùng cực. 800 triệu người thất nghiệp, một tỉ người lớn mù chữ.

Ngài mời chúng ta thấy những trẻ em bị sida ở Châu Phi, những người trẻ trí thức bị bơ vơ ở Nhật, những sa đọa và hưởng thụ, ma tuý và tội ác, những hố sâu hơn giữa các nước giàu và nước nghèo, giữa người giàu và người nghèo, ngay cả trong các nước tiên tiến.

Ngài mời chúng ta nhìn thế giới này bằng đôi mắt của Ngài, nhìn thấy mà chạnh lòng thương. Chính cái nhìn đầy chạnh thương đưa ta lên đường.

Thế giới hôm nay cũng như hôm qua, vẫn là một thế giới cần đến ơn cứu độ. Người nghèo cần được tôn trọng phẩm giá, người giàu cần mở ra để thấy đời mình có ý nghĩa.

Chúng ta không bi quan trước thế giới hôm nay mênh mông nỗi đau, tràn ngập sự ác.

Tôi phải làm gì để chữa lành một thế giới bị thương?

Tôi phải nói gì với một thế giới không biết mình nô lệ?

Chỉ xin lên đường với Chúa Giêsu trong tin yêu, và xin Cha cho có nhiều người cùng tiếp bước.

Gợi Ý Chia Sẻ

Thế giới hôm nay là một thế giới mang nhiều vết thương và đổ vỡ. Bạn phải làm gì để hàn gắn và chữa lành chúng trong khả năng của bạn?

Khoa học kỹ thuật giải quyết được một số vấn đề, nhưng lại đưa đến những vấn đề mới, phức tạp hơn. Bạn có thấy như vậy không? Làm sao để sự tiến bộ về vật chất không làm bạn bị thụt lùi về tinh thần?

Cầu Nguyện

Lạy Cha, thế giới hôm nay cũng như hôm qua

vẫn có những người bơ vơ lạc hướng vì không tìm được một người để tin;

vẫn có những người đã chết từ lâu mà vẫn tưởng mình đang sống;

vẫn có những người bị ám ảnh bởi thần ô uế, ô uế của bạc tiền, của tình dục, của tiếng tăm;

vẫn có những người mang đủ thứ bệnh hoạn, bệnh hoạn trong lối nhìn, lối nghĩ, lối sống;

vẫn có những người sống bên lề xã hội, dù không phải là người phong…

Xin Cha cho chúng con nhìn thấy họ và biết chạnh lòng thương như Con Cha.

Nhưng trước hết, xin cho chúng con nhìn thấy chính bản thân chúng con.

2.Chúng ta là dân được sai đi

(Suy niệm của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm – Trích dẫn từ tập sách ‘Giải Nghĩa Lời Chúa’)

Chúng ta họp nhau lại đây để dâng Thánh lễ, tức là để nghe Lời Chúa hướng dẫn chúng ta đi vào mầu nhiệm giao ước mới, ký kết trong Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, hầu trở thành Dân Thiên Chúa ở giữa trần gian một cách hoàn toàn hơn. Như vậy thì những bài đọc Thánh Kinh vừa nghe rất thích hợp để suy nghĩ về quá khứ, hiện tại và tương lai của chúng ta.

A. Quá Khứ, Chúng Ta Là Dân Ðược Tuyển Chọn

Quả vậy, trước đây chúng ta là gì? Chúng ta không tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn hay sao? Chúa Yêsu đã nhìn thấy chúng ta như thế. Và Người thương chúng ta, như lời bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe đọc.

Chúng ta có thể kiểm chứng một cách dễ dàng. Trước khi vào nhà thờ này, chúng ta không phải mỗi người một ý hay sao? Tâm trí chúng ta khác nhau hết thảy. Và tâm hồn chúng ta thật lộn xộn bơ vơ. Hằng trăm ưu tư lo lắng dày vò chúng ta mỗi người mỗi cách. Một lũ chiên bơ vơ có lẽ còn ít vấn đề và ít khác nhau khác nhau hơn là chúng ta. Bởi vì những con chiên vô linh tính kia không có những lương tâm xâu xé như tâm hồn đôi khi nhiều tội lỗi của chúng ta. Thánh Phaolô viết: trước đây chúng ta là những kẻ có tội. Phải, không nhiều thì ít quá khứ của chúng ta đã có nhiều nét buồn thảm. Chúng ta không khác dân Dothái bao nhiêu, hồi họ còn ở Aicập. Cuộc đời nô lệ lam lũ của họ là hình ảnh của lúc chúng ta sống trong tội lỗi.

Nhưng như bài sách Xuất hành hôm nay nói: chính chúng ta đã thấy Chúa làm những gì cho chúng ta ở trong quá khứ. Ðối với dân Dothái, Người đã bồng họ lên đôi cánh phượng hoàng mạnh mẽ của Người để đưa họ ra khỏi Aicập. Còn đối với chúng ta trước đây sống trong tội lỗi, thì thư thánh Phaolô nói, Chúa Yêsu đã phải giang hai cánh tay chịu chết trên Thánh giá để cứu chúng ta ra khỏi tội lỗi. Và Người đã phải thiết lập Giáo hội các Tông đồ để xua trừ ma quỷ, phục sinh chúng ta và đưa chúng ta vào nếp sống mới.

Quả thật, quá khứ của chúng ta không tốt đẹp bao nhiêu. Dĩ vãng của mỗi người được mô tả trong dĩ vãng của Dân Chúa. Và quá khư của Giáo hội hay giáo xứ chúng ta được phác họa trong lịch sử dân Dothái. Xưa kia họ là những tên nô lệ bị bóc lột đến tận xương tủy. Vất vả lầm than và nhục nhã ê chề. Họ không biết nhau cũng chẳng hề biết tới một vị thủ lãnh nào có thể tập họp và ban sức mạnh để họ có thể ra khỏi chốn lưu đày khổ sở. Nhưng chính Chúa đã có sáng kiến; Người sai Môsê đến kêu gọi họ ra khỏi cảnh lầm than. Thoát ách nô lệ, họ còn là mớ người khố rách áo ôm đi lang thang trong sa mạc. Từ đỉnh núi Sinai, Chúa lại hiện xuống nói với Môsê tập họp họ lại, ban cho họ một giao ước để họ làm thành dân, một dân đặc biệt giữa muôn dân nước.

Lịch sử đó là lịch sử của mỗi người và của tất cả chúng ta trước khi được nhận vào Giáo hội và một phần nào đó, trước khi vào nhà thờ này để cử hành lễ giao ước. Chúng ta thật như chiên lạc bơ vơ, lo lắng mỗi người mỗi lối. Nhưng Thiên Chúa đã tập họp chúng ta lại ở đây, làm thành Giáo hội, làm nên Dân của Người để hiện tại chúng ta không còn như trước nữa, và tương lai lại còn huy hoàng hơn nhiều. Chúng ta hãy cùng nhau nhìn vào hiện tại.

B. Hiện Tại, Chúng Ta Là Dân Ðược Sai Ði

Ở đây hình ảnh dân Dothái trong quá khứ cũng giúp chúng ta hiểu biết thân phận của mình. Sách Xuất hành viết, ở dưới núi Sinai, Thiên Chúa đã phán với dân Dothái: nếu các ngươi nghe và giữ Lời Ta, các ngươi sẽ là kỷ phần của Ta ở giữa các dân tộc. Các ngươi sẽ là một nước tư tế và một dân thánh thiện của Ta.

Những lời thật rõ ràng và cương quyết. Giao ước Sinai chỉ gồm những câu khẳng định này: nếu Dân giữ Lời Chúa thì họ sẽ là phần đặc biệt của Người giữa các dân tộc. Họ sẽ là dân tư tế và thánh thiện của Người. Chúng ta tạm không nói tới điều kiện Chúa đòi hỏi Dân phải nghe và giữ Lời Chúa. Chúng ta tìm hiểu Chúa đã hứa gì với họ.

Người sẽ coi họ là phần riêng của Người ở giữa các dân tộc. Nghĩa là đang khi mọi dân tộc đều thuộc về Chúa và là của Người hết thảy, Người sẽ cho Israel một chỗ đứng riêng biệt; Người coi họ là phần riêng, là gia sản độc đáo của Người. Người sẽ đổ dồn tình thương và ân sủng xuống nơi họ, không phải để các dân tộc không còn được gì nữa, nhưng để mọi dân nước chỉ được chúc phúc với Abraham và dòng dõi ông.

Chúng ta thử suy nghĩ! Israel trước đây là những tên nô lệ chẳng có một chút giá trị nào. Thế mà bây giờ được thành dân ưu việt, không những hơn mọi dân khác, mà còn trở nên nguồn mạch phúc lành của Chúa các dân tộc ban cho mọi dân nước.

Tuy nhiên địa vị ưu việt sánh với các dân vẫn không đáng kể bằng giá trị của Israel ở trước mặt Thiên Chúa. Ðó là con cưng của Người. Là dân tư tế. Là dân thánh thiện. Phải có cả lịch sử sau này mới triển khai được những vinh dự phong phú ấy. Hiện tại chúng ta thấy Israel là Dân được Chúa săn sóc đặc biệt, khác mọi dân ngay cả về tổ chức. Ðang khi các dân có vua quan cai trị, những người đứng đầu Dân trong nếp sống trung thành với Giao ước. Thế nên Samuel đã khó chịu khi thấy Dân muốn một vị vua lên cai trị Dân để giống như mọi dân khác. Vì giống như các dân thì không còn là dân ưu việt nữa.

Ðồng thời dân ưu việt cũng là dân thánh thiện, tức là thuộc về Ðấng Thánh và tham dự vào sự sống siêu đẳng của Người. Nhưng chúng ta biết, dân Dothái đã không nghe và giữ Lời Chúa. Họ muốn tổ chức như các dân khác và như vậy cũng đã trở thành dân tội lỗi như mọi dân. Ðến nỗi khi Ðức Yêsu Kitô đến, Người đã nhìn thấy cảnh tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn. Và bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Người đã thiết lập chúng ta nên Dân Mới của Người.

Người gọi 12 môn đệ đến, tượng trưng cho tổ phụ của 12 chi họ trong Dân Mới. Người cho họ quyền làm được công việc mà Môsê xưa đã làm một cách bề ngoài. Vì chúng ta biết, trước khi tập họp Dân đến dưới Sinai để đón nhận giao ước, ông đã làm lễ thanh tẩy cho Dân. Bây giờ Chúa Yêsu ban quyền cho 12 môn đệ xua được xua đuổi tà thần và chữa lành mọi bệnh tật là hình ảnh tội lỗi dơ nhớp tâm hồn.

Chúa đặt họ làm Dân Mới, làm người đứng đầu Dân Mới của Người với sứ mạng đi rao giảng Nước Trời. Họ sẽ không trị dân như vua quan nơi mọi dân nước. Họ là hàng tư tế thánh. Họ sẽ làm nên một dân thánh thiện vì họ sẽ ra đi chữa lành ngay cả những người phung và phục sinh kẻ chết, chứng tỏ họ sẽ tạo nên một nếp sống mới, thánh thiện ở mọi nơi.

Tất cả những gì Thiên Chúa đã muốn làm cho dân Israel và họ đã để mất, thì nay Người làm cho Giáo hội và cho chúng ta. Giờ này chúng ta đã được triệu tập lại đây để nghe Lời Chúa. Người sẽ ký kết Giao ước mới với chúng ta trong Máu Thánh của Con Người để chúng ta trở nên Dân được chọn làm sở hữu; chúng ta tham dự vào lễ tế của Ðức Kitô và chịu lấy Mình Thánh Người để chúng ta là dân tư tế, được nuôi sống, lãnh đạo nhờ sứ vụ tư tế ở trong Giáo hội; chúng ta trở nên thánh thiện, tham dự vào mầu nhiệm thánh, lãnh nhận các ơn thánh để ra đi thánh hóa các dân tộc.

Ở Sinai, Lời Chúa đã nhấn mạnh đến việc giữ Giao ước. Còn ở đây, Chúa sai chúng ta ra đi ban phát nhưng không những gì chúng ta đã đón nhận nhưng không ở nơi này, tức là ơn thánh hóa đời sống và tâm hồn, ơn tham dự vào mầu nhiệm lễ tế của Ðức Kitô Thượng tế, ơn trở thành Dân ưu việt của Thiên Chúa chúng ta.

Hiện tại chúng ta là thế, còn ngày mai sẽ thế nào?

C. Tương Lai Chúng Ta Ðã Ðược Bảo Ðảm

Thánh Phaolô trong bài thư hôm nay không hồ nghi tí nào về tương lai của Giáo hội và của chúng ta. Niềm tin của người có cơ sở vững vàng. Người nói khi chúng ta còn là tội lỗi mà Thiên Chúa cũng đã chết cho chúng ta thì huống hồ bây giờ khi chúng ta đã được công chính hóa, ắt chúng ta sẽ được cứu độ trong sự sống của Ðức Yêsu Kitô.

Chúng ta không thể nào không đồng ý với lập luận của thánh Tông đồ. Khi chúng ta còn trong tội lỗi, Thiên Chúa đã chứng tỏ một lòng nhân nghĩa lạ lùng. Người ta có thể chết cho một lý tưởng và hy sinh đời mình cho một bậc cao trọng, chứ chẳng có ai lại nhận chết cho một người có tội. Thế mà Thiên Chúa đã làm công việc như thế cho chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân.

Người đã yêu thương chúng ta khi còn tội lỗi, thì không lẽ Người lại không quý chuộng chúng ta hơn nữa lúc chúng ta đã được công chính hóa nhờ sự chết của Con Một Người.

So sánh như vậy đã cho phép thánh Phaolô đi sang một so sánh thứ hai. Trước đây lòng nhân nghĩa của Thiên Chúa đã biểu lộ ra trong sự chết của Ðức Yêsu Kitô để công chính hóa chúng ta, thì bây giờ lòng nhân nghĩa ấy phải được diễn tả ra trong sự sống của Ngài: nghĩa là nếu chúng ta đã được giải thoát khỏi tội lỗi nhờ việc Ðức Kitô chết trên Thập giá, thì bây giờ chúng ta phải đáng được sống trong ơn của mầu nhiệm Ðức Kitô phục sinh nơi vinh quang Thiên Chúa.

Về sự sống phục sinh này, biết nói làm sao cho hết và diễn tả thế nào được bằng ngôn ngữ loài người? Thánh Phaolô chỉ biết nói rằng chúng ta sẽ được vinh hiển trong Thiên Chúa, vì sự sống hiện tại của Ðức Kitô phục sinh là sự được vinh hiển trong vinh quang thần tính. Dĩ nhiên có nhiều đoạn văn Kinh Thánh khác đã cố gắng mô tả vinh quang để dành cho chúng ta sau này trong tương lai. Nhưng tất cả vẫn chỉ là niềm tin. Và giá trị của niềm tin ấy căn cứ vào hạnh phúc hiện tại chúng ta đang nắm giữ: đó là đã được giao hòa với Thiên Chúa trong Máu Ðức Kitô để trước đây chúng ta như chiên bơ vơ lạc lõng nhưng bây giờ chúng ta đã nên phần riêng của Thiên Chúa, trở thành dân tư tế và thánh thiện của Người. Chúng ta là lúa chín mà Chúa đã sai các Tông đồ đến gặt để đưa vào gia sản của Thiên Chúa.

Mà thực vậy, giờ đây chúng ta sắp được thu lại để dâng lên bàn thờ. Chúng ta mỗi người mỗi khác và có thể nói rời rạc bơ vơ. Nhưng tất cả chúng ta, đời sống chúng ta, buồn vui của mỗi người, ưu tư của mọi cá nhân, sẽ được dâng lên trên đĩa thánh, sẽ được đem pha vào chén rượu như giọt nước để cùng với Ðức Kitô chúng ta được trở nên một thân thể, làm thành một Dân Chúa. Sự sống và phúc lành chan chứa của Thiên Chúa sẽ được trao sang cho chúng ta, để chúng ta là Dân được tuyển chọn, là Dân tư tế được Chúa dẫn dắt, là Dân thánh thiện được Ngài sai đi. Không phải chúng ta sẽ làm được gì cho người khác, nhưng nếu chúng ta để Lời Chúa, sự sống của Chúa, tình yêu của Chúa thoát ra trong đời sống ngôn ngữ và hành động của chúng ta, thì chắc chắn sự sống của Ðức Kitô phục sinh, tức là ơn Chúa Thánh Thần sẽ chảy ra từ lòng chúng ta, làm cho chúng ta cảm thấy đời mình không những êm ái mà còn phong phú, bảo chứng hạnh phúc tương lai đã khởi sự ngay từ hiện tại. Chúng ta hãy sốt sắng dự lễ trong niềm tin ấy.

3.Đức Yêsu động lòng xót thương

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, S.J.)

Tình yêu không chỉ hệ tại nơi lời nói, nhưng chính yếu qua việc làm (1Ga.3, 18; LT.230). Thiên Chúa đã yêu chúng ta đến độ chết cho chúng ta ngay lúc chúng ta còn là tội nhân, và Ngài đã làm mọi sự vì yêu thương chúng ta.

Nếu các ngươi giữ giao ước của Ta…

Giữ giao ước là giữ giới răn của Chúa, giữ thập giới.

Nếu dân Dothái giữ giới răn Chúa, dân Dothái sẽ là “của riêng” của Chúa, sẽ được tách biệt khỏi mọi dân, sẽ là một dân thánh, dân tư tế. Dân tư tế là dân đại diện mọi dân khác để dâng lễ tế lên Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương dân, cưng chiều dân, như đang mang dân trên cánh phượng hoàng!

Ngày nay, Hội Thánh là dân riêng của Chúa. Chúng ta là dân thánh, dân tư tế!

Ngay trong lúc chúng ta là tội nhân, Đức Kitô đã chết vì chúng ta.

Hành vi tội làm biến dạng con người! Ngay trong lúc mình là tội nhân, nghĩa là, lúc mình đang “xấu như quỷ”, thì Đức Yêsu cũng đã vẫn chết cho mình! Ôi tình Chúa yêu thương mình tuyệt đến như thế nào!

Tại sao Thiên Chúa yêu thương con người đến như vậy? Con người có gì đẹp mà Thiên Chúa vẫn yêu thương dù con người đang ở trong tình trạng tội? Chắc hẳn con người phải có nét đẹp nào đó, đến nỗi Thiên Chúa yêu thương như vậy, vì chỉ có “nét đẹp” mới đáng yêu thôi! Con người được tạo dựng “giống hình ảnh Thiên Chúa”! Thiên Chúa tuyệt mỹ, vậy hình ảnh Thiên Chúa “cũng đẹp”!

Con người “rất đẹp”, có lẽ Thiên Chúa là Đấng đầu tiên và cuối cùng biết con người đẹp đến thế nào! Ước gì chúng ta nhận ra nét đẹp của con người, khi nhìn Đức Yêsu trên thập giá. Đức Yêsu là Đấng tuyệt đẹp, và con người cũng đẹp vì nếu không, Thiên Chúa đâu chết cho con người?!

Tất cả cho con người

“Đức Yêsu thấy đám đông dân chúng, tất tưởi bơ vơ như chiên không người chăn”! Người thương họ, “Ngài động lòng thương xót họ”. Ngài đã triệu tập môn đệ, sai các ông đi, để họ xua đuổi thần dữ và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền!

Đức Yêsu đã đến trần gian vì con người. Ngài sai các môn đệ đi cứu giúp con người. Ngài yêu con người đến chấp nhận cái chết, đến độ ban mình máu người làm của ăn cho người. Ngài yêu con người dù có bị con người phản bội, từ chối! Trái tim bị đâm thâu, là bằng chứng tình yêu vô cùng của Thiên Chúa nơi Đức Yêsu.

Hôm nay, Chúa mời gọi tôi cộng tác để phục vụ con người! Các môn đệ tài năng như thế nào mà được Chúa dùng, Chúa sai đi? Họ đã làm được gì? Hôm nay tôi có sẵn sàng để Chúa sai tôi đi chăng? và tôi sẵn sàng làm điều gì để phục vụ con người? tôi có sẵn sàng để Chúa dùng tôi vào bất cứ việc gì để phụng sự Chúa nơi con người ngày nay không?

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

1. Được Chúa coi là “của riêng”, thì được gì?

2. Xin bạn kể những nét đẹp của con người!

3. Gần đây, có bao giờ bạn rung động trước nỗi khổ của con người không? Bạn có thể làm gì để phục vụ họ?

4.Được sai đi

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, S.J.)

Dân chúng khao khát nghe Đức Yêsu giảng dạy. Đức Yêsu đã động lòng thương, Ngài giảng dạy họ; và hơn nữa, Ngài đã sai các tông đồ đi rao giảng: “Nước Trời đang đến gần”.

1. Dân chúng hoang mang và bị bỏ rơi

Dân chúng từ nhiều nơi tuôn tới nghe Đức Yêsu rao giảng. Qua sự kiện này, người ta nhận ra con người của mọi thời đại vẫn tốt. Ngày xưa, dân chúng tìm đến với Đức Yêsu, để mong được nghe Ngài giáo huấn, để mong tìm được của ăn tinh thần, để được định hướng đời mình, để an bình trong cuộc sống.

Mỗi thời đại, đều có những tiên tri và thày dạy giả hiệu, đã làm dân chúng hoang mang và bấn loạn. Người ta sống bất an, không biết đâu là đúng đâu là sai. Sứ mạng của các tiên tri và những bậc thầy chân chính của mọi thời đại, là hướng dẫn dân chúng, giúp họ nhận ra sự thật, giúp họ sống bình an hạnh phúc.

Điều gây hoang mang, luôn luôn là điều có vẻ là đúng. Nếu rõ ràng là sai, chẳng có ai theo, và cũng chẳng làm người ta hoang mang bấn loạn. Những tiên tri và thầy dạy giả hiệu, là những người “đánh lộn con đen”, lèo lái dư luận, làm dân chúng không nhận ra điều đúng thật. Ở thời Đức Yêsu, những hình thức nô lệ lề luật mà không giữ tinh thần luật làm dân chúng không được tự do và hạnh phúc thật sự. Đức Yêsu không đến để huỷ bỏ lề luật, nhưng để làm nên trọn. Ngài không muốn con người “thờ phượng Thiên Chúa bằng môi bằng miệng, nhưng lòng lại xa Chúa”.

2. Đức Yêsu động lòng thương

Đức Yêsu đã động lòng thương dân. Lòng “thương cảm”, là nét của Thiên Chúa. Đức Yêsu thấy dân chúng tốt lành, vì họ khao khát chân lý và đi tìm. Họ không thoả mãn với những gì họ có, họ mong ước được nghe một vị thầy dạy chân chính, với hy vọng được bình an hạnh phúc hơn.

Qua những thao thức khắc khoải của dân chúng, người ta nhận ra những nỗ lực đi tìm sự thật. Những ước vọng này có thể bị mê hoặc bởi những thần tượng giả hiệu, những hướng dẫn sai lầm. Hậu quả là họ mất bình an, hoang mang lo sợ, mất niềm tin vào Thiên Chúa và con người, không hạnh phúc. Tuy vậy, qua sự kiện dân chúng khao khát đi tìm sự thật, người ta cũng nhận ra Thánh Thần Thiên Chúa vẫn luôn tác động nơi lòng con người, làm họ khao khát và đi tìm chân lý. Thiên Chúa vẫn luôn ở với con người trong mọi thời và mọi hoàn cảnh.

Đức Yêsu thương cảm con người. Họ như chiên không người chăn. Họ không được hướng dẫn đúng đắn. “Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống”. Lối sống của Đức Yêsu là đường; lời dạy của Đức Yêsu giúp con người nhận ra sự thật, và làm cho con người được sống.

3. Đức Yêsu sai các môn đệ đi rao giảng

Đức Yêsu giảng dạy những người tìm đến với Ngài; và Ngài còn thương cảm cả những người không có cơ hội tới với Ngài, để họ mở lòng đón nhận sự thật. Ngài đã sai các tông đồ đi rao giảng.

Các tông đồ rao giảng: “Nước Thiên Chúa đang đến gần”. Các tông đồ rao giảng điều gì nữa, hay chỉ đơn sơ có thế? Người ta có thể rao giảng bằng lời, nhưng người ta cũng có thể rao giảng bằng chính cuộc sống của họ. Khi Đức Yêsu và các tông đồ rong ruổi hết nơi này tới nơi khác, thì chính cách sống và hành vi rong ruổi của các ngài cũng là một lời rao giảng, và là lời rao giảng có sức thuyết phục nhất.

Chúa cũng sai mỗi Kitô-hữu rao giảng về Chúa cho những người sống chung quanh mình. Có những người được ơn để rao giảng bằng lời; nhưng mỗi người đều có bổn phận phải rao giảng bằng chính cuộc sống của mình. Lời rao giảng của Kitô-hữu gặp phản chứng nếu đời sống của họ không thể hiện Tin Mừng của Đức Yêsu. Là Kitô-hữu, mỗi người phải sống vui tươi và an bình trong mọi hoàn cảnh. Các Kitô-hữu sơ khai, tuy dù bị bách hại, vẫn an bình và vui tươi. Chính cách sống như vậy đã lôi cuốn sự chú ý và có sức thuyết phục người khác đón nhận Tin Mừng Đức Yêsu Kitô.

Câu hỏi gợi ý chia sẻ

1. Bạn có nhận ra nét đẹp của con người ngày nay không? Xin cho ví dụ.

2. Ngày nay, dân chúng bị hoang mang và bấn loạn về điều gì?

3. Theo bạn, đâu là điều Thiên Chúa muốn những bậc thầy dạy và tiên tri hướng dẫn dân trong hoàn cảnh này?

5.Việc Tông Đồ

Bây giờ chúng ta hãy thử nhắm mắt lại và tưởng tương ra một cánh đồng bao la với những bông lúa chín vàng, nhấp nhô theo gió. Mùa màng thật trúng, thế mà vì không có thợ gặt, nên những bông lúa ấy bị rơi rụng. Và chúng ta tiếc xót cho bao công lao vất vả, bao mồ hôi nước mắt đổ xuống trên ruộng đồng.

Có một chiếc thuyền  đánh cá ra khơi vào một đêm tối trời, chẳng may gặp dông bão. Những con sóng bạc đầu cùng với những trận gió giận dữ của trận cuồng phong đã làm cho con thuyền ngâp nước và chìm dần, Những người trên thuyền hốt hoảng và tuyệt vọng. Có lẽ chúng ta không bao giờ thấy được một cảnh tượng kinh hoàng và khiếp hãi như vậy.

Đã hai ngàn năm, Chúa Giêsu đến trong trần gian và công bố Tin mừng Phúc âm, thế nhưng nhân loại vẫn còn chìm trong tăm tối, vẫn còn là như một cánh đồng bát ngát thiếu những người thợ lành nghề là những vị tông đồ nhiệt thành đến gặt những bông lúa chín vàng, rồi chất vào kho lẫm của Thiên Chúa. Cho tới ngày hôm nay, nhân loại vẫn còn kêu cứu giữa những cơn phong ba bão táp trần gian. Hằng tỷ người vẫn còn lầm lũi bước đi trong lầm lạc. Mỗi phút giây có hàng  ngàn người chết đi mà vẫn chưa nhận biết Đức Kitô. Cho tới ngày hôm nay, lời Chúa vẫn còn nói lên một thực trạng đen tối: Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít.

Cho tới ngày hôm nay, lời Chúa vẫn còn là một lệnh truyền thôi thúc chúng ta lên đường, thôi thúc chúng ta dấn thân cho việc tông đồ truyền giáo: Các con hãy đi giảng dạy cho muôn dân…

Thế nhưng nói đến việc tông đồ, chúng ta thường mường tượng ra những vị thừa sai rời bỏ quê hương để đi tới những vùng đất xa xôi hẻo lánh mà truyền bá giáo lý của Chúa cho những sắc dân man di mọi rợ… hay ít nữa, chúng ta nghĩ rằng đó là việc dành riêng cho các linh mục, tu sĩ, chứ còn chúng ta, nhưng người giáo dân bình thường, suốt ngày những quần quật làm ăn, kiếm sống cho bản thân và gia đình thì làm sao có thời giờ dành cho những công việc truyền giáo. Thế nhưng việc tông đồ không phải là việc dành riêng cho một  số người nào đó, trái lại còn là bổn phận của mỗi người chúng ta, còn là việc chung của mọi phần tử trong Giáo Hội, bởi vì bất cứ trong hoàn cảnh nào, chúng ta đều có thể và phải là những tông đồ nhỏ của Chúa Giêsu. Vậy để trở thành những tông đồ nhỏ, chúng ta phải làm gì?

Phương thế thứ nhất để trở nên tông đồ nhỏ của Chúa Giêsu đó là hãy cầu nguyện và hy sinh. Thực vậy, cầu nguyện là phương thế thông thường để lãnh nhận ơn Chúa. Và hy sinh cũng là một phương thế không kém hiệu nghiệm. Chúa Giêsu đã đổ máu ra để cứu chuộc chúng ta, nếu không có đổ máu, thì không thể có chuyện tha tội. Vì thế,  chúng ta có thể cộng tác với Chúa trong công cuộc cứu độ bằng cách hòa trộn những giọt máu hy sinh của chúng ta với giòng máu cao cả của Chúa Giêsu trên thập giá.

Giữa bốn bức tường nhà kín, thánh nữ Terêxa đã âm thầm cầu nguyện và chịu đựng những hy sinh thay cho các vị thừa sai, để những cố gắng của Giáo Hội trên cánh đồng truyền giáo gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp. Chỉ mình Chúa mới biết được những ơn ích mà thánh nữ đã thực hiện. Nhưng chúng ta có thể nhân ra tầm mức rộng lớn khi thấy Giáo Hội tuyên phong thánh nữ làm bổn mạng các xứ truyền giáo. Theo tương truyền thì số người trở lại do lời cầu nguyện và những hy sinh của thánh nữ cũng đông không kém những người trở lại của thánh Phanxicô Xaviê, một người đã dành suốt cả đời mình lăn lộn trên cánh đồng truyền giáo tại Á châu.

Năm 1683, Chúa Giêsu đã hiện ra với thánh nữ Magarita và xin thánh nữ cầu nguyện cho những tội nhân biết ăn năn trở lại. Ngài nói với thánh nữ:

– Một linh hồn công chính có thể xin ơn tha thứ cho hàng ngàn kẻ tội lỗi.

Khi hiện ra tại Lộ Đức, Mẹ Maria cũng đã nói với chị Bernadette:

– Phải cầu nguyện cho các tội nhân.

Cùng với lời cầu nguyện, chúng ta hãy thêm vào đó những hy sinh. Có một ông đại úy hồi hưu sống trong tình trạng khô khan nguội lạnh. Khi ông lâm bệnh nặng và không còn hy vọng sẽ qua khỏi, vị linh mục mời ông xưng tội, nhưng ông đã từ chối một cách dứt khoát. Lần sau, vị linh mục lại tìm đến nhưng người ta đã cấm không cho vào. Trở về nhà, bỗng vị linh mục nảy ra một ý định là dâng một gìơ  kinh và hy sinh một ly cà phê thường lệ ở bữa ăn sáng để cầu nguyện cho bệnh nhân. Và vị linh mục đã thực hiện như thế. Một vài ngày sau, điện thoại reo vang, người ta mời vị linh mục đến giải tội cho ông đại úy vì ông ta đã đổi ý.

Sự hy sinh tự nó không quan trọng, nhưng sẽ đem lại những hậu quả to lớn, nếu chúng ta biết hy sinh vì Chúa, biết kết hiệp với những đớn đau của Chúa Giêsu trên thập giá.

Những chiếc rễ mặc dù nhỏ bé và chúng ta không nhìn thấy, nhưng  lại rất cần thiết vì chúng hút nhựa sống từ lòng đất làm cho cây cối được lớn lên, đâm bông và kết trái. Cũng thế, những lời cầu nguyện và hy sinh là như những chiếc rễ nhỏ làm cho Giáo Hội không ngừng được phát triển và sống động.

Phương thế  thứ hai để trở thành tông đồ nhỏ của Chúa Giêsu đó là hãy làm gương sáng. Thực vậy muốn rao giảng Tin mừng, chúng ta không cần phải làm Linh mục hay tu sĩ, nhưng chúng ta vẫn có thể và phải rao giảng bằng chính đời sống gương mẫu của chúng ta vì như tục ngữ đã bảo:

– Lời nói như gió lung lay,

 việc làm như tay lôi kéo.

Biết đâu nhờ đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương của chúng ta mà làm cho người khác trở về cùng Chúa, hay ít nữa cũng đặt ra trong đầu óc họ một câu hỏi: Tại sao chúng ta lại dễ thương đến thế?

Ngày kia, thánh Phanxicô Assie gọi một thày dòng đến và bảo:

– Này thày, chúng ta cùng nhau đi giảng đạo nhé.

Hai cha con ra đi, rảo qua các đường phố một vòng rồi trở về. Thày dòng bỡ ngỡ và hỏi:

– Thưa cha, bao giờ chúng ta mới đi giảng đạo?

Thánh nhân trả lời:

– Chúng ta đã đi giảng đạo rồi đó.

Thày dòng thắc mắc:

– Lạ thật, mới chỉ  đi một vòng phố, có nói lời nào đâu?

Nhưng thánh nhân đã cắt nghĩa:

– Chúng ta đã giảng đạo bằng chính thái độ nghiêm trang và tề chỉnh của chúng ta.

Thế giời hôm nay không thiếu những bài diễn văn hùng hồn và nảy lửa. Thế nhưng những bài diễn văn ấy là như tiếng nhạc chúng ta nghe thoảng ngoài tai, nhưng không đủ sức thúc đảy chúng ta hành động. Thế giới hôm nay không thiếu những nhà hùng biện tài ba, nhưng thiếu rất nhiều nhưng người làm gương sáng.

6.Thương dân

Thời Chúa Giêsu, dân Do thái sống trong cảnh không có người đứng đầu phần đời cũng như phần đạo. Thực vậy, chính quyền thuộc về đế quốc Rôma. Họ vô cùng đau đớn và nhục nhã phải thờ hai chủ: chủ đế quốc và tay sai của đế quốc là bè phái Hêrôđê, Sađốc, và bọn biệt phái.

Phái Hêrôđê gồm tất cả con cháu, họ hàng vua Hêrô đe đại đế người xứ Dumê phía nam Do thái. Phái Sađốc thuộc giòng dõi thượng tế Sađốc từ vua Salômon truyền lại. Họ là hàng quý tộc, thượng tế với tư tế. Họ độc quyền thu hoa lợi của đền thờ và liên kết với đế quốc để thống trị, bóc lột nhân dân. Tuy họ giữ luật Môisê nhưng lại sống phóng khoáng giao du với dân ngoại, nhiễm tinh thần văn hóa thần tượng Hy Lạp và Rôma. Trái lại, bọn Biệt phái hoàn toàn biệt lập, bài ngoại và bài đế quốc. Họ giữ luật cổ truyền, nhất là những tập tục của tiền nhân. Họ coi tập tục tiền nhân hơn luật Môisê. Họ cắt nghĩa luật truyền khẩu rất tỉ mỉ và bắt dân giữ rất khắt khe. Họ tự coi mình là tiến sĩ bảo tồn lề luật của tiền nhân. Họ cho đó là cách bảo vệ tôn giáo và đất nước tốt nhất. Thực sự họ đã chồng chất lên dân chúng những gánh nặng gông cùm dưới danh nghĩa tôn giáo. Họ đã biến tôn giáo thành thứ quốc giáo cuồng tín, hẹp hòi, kích động lòng ái quốc mù quáng. Sống giữa cảnh lãnh đạo mù quáng và mâu thuẫn, chống đối và  thù hận nhau của phái Sađốc và Biệt phái. Dân chúng thật bơ vơ, lạc hướng. Có lần Chúa Giêsu đã cảnh cáo họ: “Mù dắt mù xuống hố”, “các ông thật lầm lạc”.

Để thực hiện chương trình cứu độ, Chúa Giêsu khuyên các môn đệ, ít nữa là phải thương dân.Thương dân không được đàn áp bóc lột như phái Hêrôđê. Họ dùng quyền sai lính bắt dân làm đầy tớ cho họ sống vinh thân phì gia: “Một người làm quan cả họ được nhờ”. Đáng lý ra, ở địa vị chính quyền, họ phải lo sống chân chính chăm lo hướng dẫn, giúp dân sống sung túc văn minh tiến bộ. Người xưa như Aristote và Khổng tử đã khuyên chính quyền phải là người hiền đức biết mưu hạnh phúc tốt nhất cho nhân dân: “Quý dân như con đỏ”, tôn trọng dân hơn việc làng xã: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi”. Thương dân, tránh thái độ tời ơ lãnh đạm của phái Sađốc. Họ chỉ lo bảo vệ địa vị, quyền lợi cụa họ và chỉ tìm lợi lộc cá nhân, đến nỗi họ đã biến “nhà Cha ta thành chọ búa, thành hang trộm cướp”. Dân nghèo đói, khổ sở, sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi. Thương dân, môn đệ phải theo gương Thày lăn lộn với dân chúng nghèo khổ, bệnh tật, nhất là những chiên lạc bị sói rừng hãm hại trong tội ác, đem tin mừng nước trời đến cứu chữa họ. Thương dân, không chất trên vai dân những gánh nặng tập tục của loài người như những biệt phái giả hình bên ngoài. Nhưng môn đệ sẵn sáng vác gánh nặng, để gánhnặng của người dân trở nên êm ái nhẹ nhàng, nhất là những gánh nặng của tội lỗi. Con người đến không phải để được phục vụ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống để cứu cuộc nhiều người.

7.Thợ gặt

Thánh Phanxicô Xaviê, trong một bản tường trình đã viết như sau:

“Nhiều người ở đây đã không thể trở thành Kitô hữu, chỉ vì chẳng có ai được chuẩn bị để đảm nhận sứ vụ giảng dạy cho họ. Con cảm thấy bị thôi thúc muốn đến các đại hoạc Âu Châu, đặc biệt là đại học Sorbonne ở Paris, để la lên, như một gã điên, cho những người giàu trí thức hơn là thiện chí, yêu cầu họ xử dụng trí thức của họ làm sao cho lợi ích. Phải chi trong khi nghiên cứu các môn nhân văn, họ cũng nghiên cứu sổ kế toán về những điều Thiên Chúa sẽ đòi hỏi họ qua tài năng Ngài đã ban cho họ. Lúc đó nhiều người hẳn sẽ xúc động kêu lên:

– Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con phải làm gì?”

Lá thư trên khiến cho chúng ta nhớ tới lại Chúa phán:

– Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của mình (Lc 10,2).

Lời phán dạy này, cho đến hôm nay, vẫn còn mang tính cách thời sự nóng bỏng của nó. Tuy nhiên, trước khi đi vào sứ mạng truyền giáo, chúng ta nên tìm hiểu về mùa gặt và thợ gặt.

Vậy trước hết mùa gặt là gì? Tôi xin thưa mùa gặt, hay lúa chín là tất cả những người hiện đang tìm kiếm Chúa, tìm kiếm chân lý, tìm kiếm mục đích và ý nghĩa cuộc đời.

Còn thợ là những ai? Tôi xin thưa là tất cả chúng ta, bởi vì mỗi người chúng ta đều có thể và phải là một người thợ gặt được sai đến trên cánh đồng truyền giáo.

Thế nhưng, tại sao ngày hôm nay lại có quá ít thợ gặt như vậy?

Lý do thứ nhất là vì chúng ta không thực hành điều Chúa đã truyền: Hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của mình (Lc 10,2). Thực vậy, có bao nhiêu người trong chúng ta, thường xuyên cầu nguyện xin Chúa thôi thúc tâm hồn các bạn trẻ để họ nghiêm chỉnh đáp trả ơn gọi của Chúa. Có bao nhiêu người trong chúng ta thường xuyên cầu nguyện xin Chúa thôi thúc tâm hồn những người đã lập gia đình để họ nghiêm chỉnh dấn thân vào mùa gặt bằng lời cầu nguyện và bằng những giúp đỡ tài chính hoặc làm bất cứ việc gì.

Lý do thứ hai khiến ngày nay có ít thợ gặt liên quan đến các gia đình. Liệu gia đình chúng ta có còn là thửa vườn ươm trồng ơn gọi hay không? Là những bậc cha mẹ, chúng ta đã nói cho con em chúng ta về việc chọn lựa đời sống tu trì như thế nào?

Sau cùng, lý do thứ ba liên quan đến cá nhân mỗi người chúng ta, đó là chúng ta có sẵn sàng hiến dâng cho Chúa trong nếp sống tu sĩ, khi chúng ta còn là một thanh niên hay không? Còn nếu như đã lớn tuổi thì liệu chúng ta đã làm gì để dấn thân vào mùa gặt. Có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc phải làm một điều gì đó để trực tiếp giúp cho việc truyền giáo.

8.Ánh mắt cứu độ

(Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt. 9, 36 – 10,8

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt. Nhưng ngày nay người ta ít có thời giờ nhìn nhau, nên tình yêu không đến. Người ta quá bận rộn vì cuộc sống ngày càng vội vã. Ra đường là đi như chạy để tranh thủ thời gian. Nên không có thời giờ nhìn, hỏi han, trò truyện, thông cảm. Và vì bận rộn nên nhiều lần ta lẩn tránh không muốn nhìn những thảm cảnh chung quanh, ngay trước mắt ta.

Chúa Giêsu thì không như thế. Người nhìn thấy đám đông và chạnh lòng thương. Nếu nhìn một đám đông thoáng qua thì khó mà chạnh lòng thương. Chạnh lòng thương là tức là đã nhìn kỹ từng người, thấy rõ hoàn cảnh đáng thương của từng người. Đứng trước một đám đông, Chúa vẫn có thời giờ nhìn kỹ từng người, vì Chúa quan tâm đến số phận của từng người.

Khi nhìn ngắm kỹ lưỡng, sẽ hiểu rõ. Khi hiểu rõ sẽ dễ chạnh lòng thương. Tuy nhiên từ ánh mắt đến trái tim là một khoảng cách rất gần mà cũng rất xa. Trái tim con người thật khó hiểu. Khi mở ra thì bao la ngàn trùng. Nhưng khi khép lại thì vô cùng chật hẹp. Một hạt bụi cũng khó lọt qua. Khi thao thức thì vô cùng nhanh nhậy, chỉ một thoáng nhìn, chỉ một âm thanh mơ hồ cũng đã đủ làm xao xuyến, rộn ràng. Nhưng khi ngủ yên thì vô cùng chai cứng, chậm chạp, dù có đập vào mắt, dù có la vào tai, cũng lạnh lùng dửng dưng. Trái tim Chúa Giêsu luôn thao thức về con người, luôn rộng mở đón nhận con người, nên dễ chạnh lòng thương trước cảnh bơ vơ, khốn cùng của con người.

Tình thương của Chúa Giêsu không phải là thứ tình mơ mộng viển vông, than mây khóc gió, nhưng là một tình thương mãnh liệt dẫn đến những hành động cụ thể. Khi nhìn thấy đám đông tất tưởi, bệnh tật, đói khát, Người lập tức an ủi, chữa lành, nuôi dưỡng. Việc Người an ủi, chữa lành, nuôi dưỡng đám đông không chỉ là những hoạt động do cảm tính nhất thời, nhưng là cả một kế hoạch rộng lớn, lâu dài. Chính vì thế, Người đã chọn mười hai Tông đồ, huấn luyện, sai họ đi nối tiếp sứ mệnh của Người.

Với bài Tin Mừng hôm nay, Chúa muốn dạy tôi ba bài học.

Bài học thứ nhất: hãy biết nhìn người khác bằng ánh mắt cảm thông. Ở Việt Nam phong trào đô thị hoá ngày càng mạnh. Các thành phố ngày càng phình ra vì dân cư từ quê đổ ra tỉnh tìm đường làm ăn sinh sống. Thành phố trở nên đông đúc chật chội. Người sống trong thành phố đang trở thành những con số vô danh, chìm mất giữa đám đông vội vã. Không ai biết ai. Không ai nhìn ai. Không ai quan tâm tới ai. Vì ai cũng bận lo cho bản thân mình. Hãy nhìn các đám đông trong chợ búa, ở trường học, ở công sở. Hãy quan sát đám đông trongvùng kẹt xe hay ở ngã tư đèn đỏ. Có biết bao linh hồn cô đơn buồn khổ. Có biết bao thể xác đang bị bệnh tật bào mòn. Có biết bao trái tim đang tan nát vì thất vọng. Hãy nhìn và hãy cảm thông như Chúa Giêsu nhìn đám đông và cảm thương họ.

Bài học thứ hai: hãy có một trái tim biết cảm thương. Đời sống ngày càng vất vả. Nhu cầu ngày càng nhiều. Vì thế con người ngày càng ích kỷ, chỉ lo cho bản thân hoặc gia đình mình. Chính vì thế trái tim thường dễ khép lại, trở thành lạnh lùng, xơ cứng. Khi trái tim xơ cứng, ta không thể đón nhận được những thông tin từ ánh mắt đem lại. Và con đường từ ánh mắt đến trái tim trở thành muôn trùng diệu vợi. Hãy mở lòng ra. Hãy biết rung động. Hãy để lòng mình thổn thức nỗi đau của người. Hãy biết khóc thương những số phận hẩm hiu. Hãy âu lo cho những cuộc đời bế tắc. Hãy để cho niềm cảm thương dâng tràn trái tim như trái tim Chúa Giêsu đã cảm nghiệm.

Bài học thứ ba: công cuộc truyền giáo phải bắt đầu bằng tình thương. Đức Chúa Cha, vì cảm thương thân phận tội lỗi đau khổ của loài người đã sai Chúa Giêsu xuống trần gian. Chúa Giêsu, vì cảm thương đám đông tất tưởi, bơ vơ, đã sai các môn đệ ra đi, tiếp tục sứ mệnh gieo rắc tình thương khắp nơi. Việc truyền giáo như thết là kết quả của lòng thương yêu vô biên của Thiên Chúa. Tình yêu thương khởi đầu nơi trái tim Thiên Chúa phải được tiếp nối, đẩy mạnh, nhân rộng trong cuộc đời. Vì thế người làm nhiệm vụ truyền giáo không bắt đầu bằng rao giảng, cũng không bắt đầu bằng cử hành bí tích mà phải bắt đầu bằng yêu thương. Cứ yêu thương rồi tình yêu sẽ hướng dẫn ta biết phải làm gì.

Tất cả chúng ta là những người con của Chúa. Tất cả chúng ta được Chúa mời gọi làm nhân chứng cho Chúa. Ta hãy học theo gương của chúa Giêsu biết nhìn người khác với ánh mắt cảm thông, biết cảm thương những con người đau khổ. Như thế chúng ta đã bắt đầu làm việc truyền giáo rồi.

Lạy trái tim Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, xin uốn lòng con nên giống trái tim Chúa. Amen.

III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU

1) Bạn có để giờ nhìn kỹ những người thân trong gia đình không? Bạn có thực sự hiểu hết những uẩn khúc trong tâm hồn những người thân yêu không?

2) Mỗi khi gặp một hoàn cảnh đáng thương, bạn có cụ thể làm ngay một việc gì để giúp đỡ không?

3) Sống chan hoà yêu thương là truyền giáo. Bạn nghĩ gì về điều này?

9.Thời giờ cấp bách

Để hiểu đoạn Phúc Âm này, chúng ta hãy phân tích làm ba phần. Trước hết Chúa Giêsu cho các môn đệ Ngài cảm nhận rằng những người được Thiên Chúa thương xót, giống như một mùa gặt bao la, nhưng thợ gặt lại thiếu, sau đó Ngài lại sai các môn đệ đi làm mùa gặt ấy. Cuối cùng Ngài dạy cho các ông biết phải làm gì. Chúng ta xét phần thứ nhất:

1) Lúa chín đầy đồng, nhưng thợ gặt thì ít…

Theo thói quen, Chúa Giêsu dùng một hình ảnh thông thường để giảng dạy một giáo lý cao siêu. Mùa màng tốt đẹp là một ơn lành quý giá đối với người Do thái và để mất một vài nắm hạt cũng được gọi là một thiệt hại đáng tiếc. Vì vậy lúc đó cần có nhiều nhân công để thu hoạch cho đúng thời. Nhân loại giống như mùa gặt ấy và các nhân công tinh thần có bổn phận tập họp người ta vào Vương Quốc thì ít. Do đó cần phải xin Chủ mùa, Cha nhân loại, sai các nhân công cần thiết là các tông đồ đến với nhân loại ấy.

2) Vậy hãy cầu xin Chủ mùa sai thợ đến gặt đồng lúa của Ngài.

Tại sao Chúa Cha không tự mình sai nhân công đi? Có lẽ vì hai lý do: trước hết vì Chúa đã quyết định rằng ơn cứu độ phải chuyển qua trách nhiệm của con người, nghĩa là thông qua dân Do thái trước kia, thông qua Giáo Hội ngày nay. Giáo Hội chịu trách nhiệm về ơn cứu độ, ý thức tầm mức bao la của công việc, nên cầu xin Thiên Chúa cho có nhiều thợ loan truyền sự cứu chuộc. Ở đây chúng ta gặp mầu nhiệm của lời kinh cầu bầu. Giáo Hội liên kết với Chúa Giêsu để xin Chúa Cha ban ơn cứu độ cho mọi người. Lý do thứ hai, Chúa Cha muốn cho lời kinh của chúng ta tạo được một kết quả mà chúng ta ít khi nghĩ đến. Lời kinh giúp ý thức mạnh mẽ hơn tầm quan trọng của điều khẩn cầu và chuẩn bị chúng ta thực hiện điều ấy. Khi cầu xin Chúa Cha sai các môn đệ đến thế gian, chúng ta hiểu được việc ấy hết sức quan trọng và chúng ta mở lòng ra để biết rằng, chính chúng ta phải làm tông đồ. Như thế người ta càng cầu xin, và càng là tông đồ càng cảm thấy cần cầu xin.

3) Phải mau lẹ thu mùa màng về, thời giờ thúc bách.

Trong Kinh Thánh có nhắc đến bằng nhiều cách bổn phận phải biết dùng thời giờ để hoàn thành công việc của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nhắc nhở: Nước Thiên Chúa đã gần kề. Phải xin Chủ mùa sai thợ đến không những vì mùa màng đầy tràn, mà còn vì thời giờ cấp bách, hạn kỳ ngắn ngủi. Các vị tông đồ chân chính buồn lòng khi thấy trong Giáo Hội số thời giờ bỏ phí để bàn luận mọi thứ vấn đề ít hay nhiều giả tạo, trong khi nhân loại là một mùa gặt đang sắp hư hại. Một lần nữa lại thấy nhu cầu phải cầu nguyện, vì chỉ có sự cầu nguyện cho thấy các khẩn cấp chân chính. Chúng ta không xét đoán giá trị thực của những tìm kiếm và thử nghiệm mục vụ, nhưng cần tự hỏi chúng ta có lo cầu xin Chúa Cha sai những tông đồ đến thế giới chúng ta không? Lời cầu nguyện có biến đổi chính chúng ta nên những tông đồ ý thức rằng thời giờ thúc bách hay không?

10.Nhóm Mười Hai

“Đây là tên của mười hai tông đồ…”. Chúng ta biết bốn vị được ưu đãi: Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan. Những vị khác rất quen thuộc đối với chúng ta là: Philipphê, Tôma, Matthêu, Giuđa. Nhưng còn Batôlômêô, Tađêô, con của Anphê, người yêu nước cuồng nhiệt.

Đàng khác, tất cả các tông đồ đều bị lu mờ do tính cách của Chúa Giêsu và sự say mê của riêng họ: họ chỉ nhìn thấy Ngài, cách Ngài yêu thương, nhất là yêu thương trẻ nhỏ. Cái nhìn của mười hai tông đồ vào Chúa Giêsu đã cho chúng ta biết về Ngài, và về sự phục sinh của Ngài. Chúng ta là một Giáo Hội “tông truyền”.

 Từ đó phát sinh sự vững vàng và nóng bỏng của đức tin chúng ta. Những tôn giáo khác có những bản văn đẹp, những truyền thuyết hay, nhưng duy chỉ người Kitô hữu mới có thể nhìn xem và lắng nghe Thiên Chúa, được làm cho thấy rõ nhờ một người đã sống ở chỗ nọ, vào thời kỳ đó và đã nói những điều hết sức rõ ràng. Nhờ các tông đồ, tức mười hai nhân chứng, chúng ta mới biết được Con Người đó. Chúng ta có thể nuôi dưỡng đức tin của chúng ta không phải ở nơi nào khác, mà chính là bằng cách không ngừng đi lại con đường của chính họ. Con đường đó đi từ Chúa-Giêsu-con-người đến Chúa-Giêsu-Thiên-Chúa: Ngài đã như thế này, Ngài đã hành động theo cách này, Ngài đã nói…

Cũng nhờ nhóm Mười Hai mà chúng ta mới đi vào trong Giáo Hội, một tập thể đông đúc mà ngày nay chúng ta thích gọi là Dân Chúa hơn. Mỗi Chúa nhật chúng ta lại tiếp xúc với khía cạnh chủ yếu của đức tin chúng ta, đó là sống thành một dân tộc, trong và nhờ Giáo Hội của Chúa Kitô cũng là Giáo Hội của các tông đồ: “Tôi tin Giáo Hội tông truyền”.

Lập tức, Chúa Giêsu đã muốn điều này: tái lập một dân tộc. Việc chọn mười hai bạn đồng hành gợi lại mười hai người con của Giacóp và mười hai chi tộc Israel, nghĩa là toàn thể mọi người. Chúa Giêsu đã đến vì mọi người. Lệnh ban ra cho các tông đồ: “Hãy đi tới với các chiên lạc nhà Israel” đơn giản đánh dấu bước đầu của sự quy tụ, đánh dấu lời kêu gọi dân cũ sẽ phải nhanh chóng tạo lập dân mới. Nhưng câu cuối của Tin Mừng mở cửa toàn thể thế giới cho các tông đồ: ”Các môn đệ thuộc tất cả các dân tộc”.

Khi tìm kiếm một người thay thế Giuđa, Phêrô đã nói: “Chúng ta hãy chọn một trong những người đã đi theo chúng ta trong suốt thời gian Chúa Giêsu thường lui tới với chúng ta cho đến ngày Ngài lên trời. Người này sẽ cùng chúng ta làm chứng Ngài đã sống lại” (Cv 1, 21-22). Lời này mở rộng nhóm mười hai. Không phải họ là những người duy nhất vây quanh Chúa Giêsu. Cho nên Tin Mừng cũng nói đến 72 người. Nếu vai trò của nhóm mười hai là duy nhất theo tư cách là nền tảng của Giáo Hội, thì chính khái niệm tông đồ được mở rộng ra cho mọi Kitô hữu, và bao gồm hai tính chất chủ yếu, đó là cùng đồng hành với Chúa Giêsu và đức tin thông truyền do sự Phục sinh: “Ngài đã sống lại!”

Chúng ta thuộc về động thái phát sinh vào ngày mà Chúa Giêsu muốn nhóm mười hai sống với Ngài. Nếu chúng ta không hài lòng về Giáo Hội, về Giáo Hoàng, về các Giám Mục và về cha sở của chúng ta, chúng ta hãy xem xét vấn đề… cùng với Chúa Giêsu. Chúng ta có thể phê bình và đôi khi chúng ta phải làm như thế vì là một thành phần sống động trong Giáo Hội. Nhưng điều cũng làm cho chúng ta quan tâm đó là toàn thể Giáo Hội là một tập thể rất sống động chung quanh Chúa Giêsu và là một lời loan báo Tin Mừng của Ngài rất sống động.

Khi tình yêu Giáo Hội và nhiệt tình truyền giáo hiện diện nơi một Kitô hữu thì người đó đang đi theo bước chân các tông đồ và Chúa Giêsu xem người đó là người thân của Ngài.

11.Chú giải của Giáo Hoàng học viện Đà Lạt

SỨ MỆNH CỦA NHÓM MƯỜI HAI

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Thấy dân chúng, Người chạnh lòng thương họ”: khởi điểm sứ mệnh tạm thời của nhóm 12 và khởi điểm toàn thể sứ mệnh của Giáo Hội là lòng trắc ẩn của Chúa Giêsu… Đây là một thứ tình cảm sâu đậm (chữ Hy lạp gợi lên hình ảnh tâm thần xao xuyến) mà Cựu Ước đã gán cho chính Thiên Chúa (Xh 34, 6; Tv 103, 8-13; Hs 2, 2-3; Gr 31, 20; Is 54, 7) và các Tin Mừng dành riêng cho Chúa Giêsu (Mt 14, 14; 15, 32; 20, 34; Mc 6, 34; 8, 2; 9, 22; Lc 7, 13) hay cho các nhân vật dụ ngôn tượng trưng Người hay Thiên Chúa (Lc 15, 20; Mt 18, 27; x. Lc 10, 35).

“Vì họ bơ phờ vất vưởng như chiên không người chăn giữ” ở đây điều làm Chúa Giêsu âu yếm xót thương là tình cảnh quẫn bách của những đoàn lũ “bơ phờ”, “yếu liệt”, “nằm sòng sãi”, như một đàn chiên không có chủ chăn. Hình ảnh thôn dã này mượn từ Cựu Ước, mà bản văn gần giống nhất là Ds 27, 16-17: “Môisen thưa với Giavê rằng: Lạy Giavê, xin Ngài đặt một ai đó trên cộng đoàn, để ra trước chúng và vào trước chúng để đem chúng ra và đem chúng vào, hầu cộng đoàn của Giavê khỏi như chiên không người chăn giữ”. Đàn chiên của Thiên Chúa, trong suốt giòng lịch sử, đã từng bị những tên lái buôn “bóc lột và phân tán” (Dcr 11, 7. 11; x. 1V 22, 17; Gr 23, 1-2; 50, 6; Ed 34, 1-10; Is 56, 11); và bây giờ vẫn còn những kẻ hướng đạo đui mù (Mt 15, 14; 23, 16.24) dùng môn học thuyết sai lạc của họ (16,12) làm lạc hướng đàn chiên, vẫn còn những hạng chăn thuê vô liêm sỉ làm chiên tan tác (Ga 10, 12tt). Vì thế Chúa Giêsu, chủ chăn vương giả mà Êdêkien loan báo (34, 23tt), mục tử tuẫn nạn mà Dacaria đã thoáng thấy mơ hồ (13, 7 = Mt 26, 31), sắp ủy thác cho nhóm 12 trách vụ quy tụ đàn chiên từ mọi chuồng chiên khác (Ga 10, 16) như ngày xưa Môisen đã ủy thác dân cho môn đồ mình là Giosuê chăm nom (Ds 27,17). Đây thật là một vinh dự lớn lao và cũng là một trách nhiệm nặng nề cho nhóm 12 môn đồ của Môisen mới…

“Mùa màng nhiều, thợ gặt ít”: Mùa gặt là một hình ảnh cổ điển Cựu Ước thường dùng để chỉ cuộc Chung thẩm của Thiên Chúa (Is 27, 12; Ge 4, 13 v.v…). Trong Tân Ước mùa gặt này thường phân làm hai, gồm giai đoạn đầu được đánh dấu bởi thời gian của Chúa Giêsu và của Giáo Hội và giai đoạn hay lịch sử chấm dứt, lúc Con Người sẽ thu lúa vào lẫm (Mt 13, 30) và đốt cỏ lùng (13, 30. 41tt): đó sẽ là mùa gặt sau hết (Mc 4, 29; Kh 14, 14tt), là “ngày tận thế” (Mt 13, 39), ngày chung thẩm (25, 31-46) và bấy giờ thợ gặt sẽ là chính Chúa Kitô với các thiên thần của Người (13, 39; x. Kh 14, 14-19). Nhưng trong khi chờ đợi ngày tận cùng đó, thì kể từ cuộc giáng lâm lần thứ nhất của Chúa Kitô, rõ ràng phải cần một vụ gặt qua sự kiện là đã có sự phân biệt giữa hạt giống tốt và xấu, khi Tin Mừng đòi buộc con người phải tuyên bố theo hay chống Chúa Kitô (Mt 10, 13-16. 40; Ga 3, 18tt). Đấy là công việc chuẩn bị trong đó Chúa Giêsu đã đóng vai trò gieo giống (Mt 13, 1-8ss; 13, 37; Ga 4, 36tt), còn nhóm 12 sẽ là những người thu hoạch.

Chính mùa gặt tiên trưng này là mùa mà nhóm 12, khi thụ hưởng các thành công đầu tiên của Chúa Giêsu, thấy mình được Người ủy thác cho tại Galilê, và chính về nó mà ta có thể áp dụng trước tiên câu nói của Chúa Giêsu trong Gioan: “Thầy đã sai các con đi gặt nơi các con đã không vất vả làm ra: có những kẻ khác đã vất vả rồi, còn các con chỉ đến thừa hưởng công lao của họ” (Ga 4, 38). Tuy nhiên sứ vụ ở Galilê chỉ là mào đầu và là hình ảnh của những mùa lúa chín vàng (Ga 4, 35) và phì nhiêu (Mt 9, 37) mà các sứ đồ cùng bao thợ khác của Tin Mừng, thừa hưởng công lao khó nhọc và hoa quả của hy tế Chúa Giêsu (x. Ga 4, 6; 12, 24), sẽ thu vào lẫm (so sánh Ga 4, 37tt và Cv 8, 15tt) từ ngày Hiện xuống.

“Chữa mọi tật nguyền bệnh hoạn”: Ở đây Matthêu dùng lại cùng những hạn từ đã sử dụng để nói lên quyền năng tràn đầy mà chính Chúa Giêsu đã được trao ban (9, 35); qua cách đó ông cho thấy các sứ đồ hoàn toàn in hệt Người và họ phải trở nên như cánh tay nối dài của Người vậy. Họ sẽ hoàn tất các công việc và thành quả giống như của Người và Ngài củng cố lời rao giảng của họ bằng cách làm phép lạ. Uy quyền của Chúa Giêsu được chuyển qua cho môn đồ của Người.

“Mười hai sứ đồ “: Đây là lần duy nhất Matthêu dùng thành ngữ này; nơi khác, ngoài thành ngữ “Nhóm mười hai” (10, 5; 20, 17; 26, 14. 20. 47), ông viết “Mười hai môn đồ” (10, 1; 11, 1; x. 28, 16) hay “các môn đồ” (13, 10; 14, 15; 26, 8. 56 v.v…), vì hơn Maccô và Luca, Tin Mừng thứ nhất ưa lẫn lộn môn đồ và sứ đồ với nhau. Kiểu nói bất thường của đoạn văn chúng ta sử dụng chữ “sứ đồ” theo chính xác được dùng trong Giáo Hội sơ khai để chỉ nhóm Mười Hai và một vài nhân chứng chính thức khác của việc Chúa phục sinh.

“Đừng lên đường đến các dân ngoại”: Mấy chữ này rõ ràng là kiểu nói cổ xưa (như kiểu nói “thành của người Samari” để chỉ tỉnh Samari), có căn ngữ Aram (kết quả nghiên cứu Schurmann, Cerfàux) cũng chắc chắn phát xuất từ một nguồn trước Matthêu; và bởi thế ta hiểu được rằng Maccô và Luca đã dùng đến vì nể các độc giả lương dân của họ. May thay còn lại các chữ đó, vì chúng là bằng chứng cho thấy các Kitô hữu đầu tiên đã xem việc truyền giáo ở Galilê là một sự kiện lịch sử, đáng ghi nhớ. Ông không xem đó như là lời phát biểu một nguyên tắc ngàn đời của việc truyền giáo, vì như vậy mâu thuẫn với mệnh lệnh sau cùng mà ông có ghi lại: “các con hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân” (28, 19), nhưng xem như là lời diễn tả một kế hoạch tạm thời, mà tất cả thái độ của Chúa Giêsu đã làm chứng cho thấy, một kế hoạch mà theo đó Tin Mừng phải được dành riêng cho “con cái của Vương quốc” (8, 12) Trong một thời gian đầu, nghĩa là cho đến cuộc chiến thắng phục sinh, cái biến cố sẽ tạo nên khí cụ cứu rỗi cho tất cả mọi người, tạo nên chủ đề chính yếu của lời rao giảng và khởi điểm của việc rao giảng khắp vũ hoàn. Matthêu đã nghĩ rằng độc giả của ông đủ thông minh để phân biệt, trong mớ tài liệu sưu tập của chương 10, cái gì đã chỉ có giá trị đối với việc truyền giáo ở Galilê và cái gì áp dụng được cho mọi thời đại của Giáo Hội.

“Hãy loan báo… hãy chữa lành”: Việc rao giảng của Chúa Giêsu và của các sứ đồ ở Galilê đã quy hướng cái nhìn của Israel về sự can thiệp dứt khoát cận kề của Thiên Chúa, được hứa thực hiện trong thời sau hết (Is 52, 7; Dcr 14, 9; Đn 2, 44 v.v…). Và các phép lạ cùng các việc trừ quỷ của Chúa Giêsu, đi đôi với lời người rao giảng (Mt 4, 23; 9, 35; Lc 9, 11…) làm nên khởi nguyên (Mt 12, 28; Lc 17, 20) cũng như dấu chỉ của Vương quyền cứu độ này của Thiên Chúa. Đó cũng là vai trò của các phép lạ và việc trừ quỷ do nhóm 12 thực hiện. Ngoài ra Matthêu còn ghi thêm lệnh phục sinh kẻ chết và tẩy sạch người phung hủi; như thế ông đã đưa ra được bản liệt kê các dấu chỉ Thiên sai, cảm hứng từ Isaia, gần giống với bản liệt kê trong câu Chúa Giêsu trả lời cho Gioan Tẩy giả (11, 4).

Sau này, các sứ đồ sẽ tiếp tục rao giảng Nước Trời (Cv 19, 8; 20, 25; 28, 23. 31), nhưng sẽ thêm vào đó (Cv 8, 12) tên của Đấng đã chết để giải thoát ta khỏi ách kìm kẹp của satan, tội lỗi và sự chết, đã được tôn phong làm Chúa trên trời (Cv 2, 30-36; Pl 2, 11; Kh 19, 16) và sẽ trở lại hoàn thành Vương quốc (1Cr 15, 20-28. 50; Cv 3, 21…). Để củng cố lời rao giảng Tin Mừng (Mc 16, 15-18; Cv 4, 29tt), họ sẽ tiếp tục chữa lành bệnh tật (Cv 3, 1-10; 5, 15tt; 8, 7; 9, 32-35; 19, 12), phục sinh kẻ chết (Cv 9, 36-42; 20, 7-12), xua trừ ma quỷ (Cv 8, 7; 16, 16) và tỏ ra bất vụ lợi hoàn toàn (1Tx 2, 2-12; Cv 8, 19tt). Tiếp tục trách vụ của họ, Giáo Hội truyền giáo sẽ không thể tách rời việc rao giảng Tin Mừng với các hoạt động bác ái vô vụ lợi, vì cả hai đều ban phát cho mọi người ơn cứu độ hoàn toàn Chúa Giêsu đã đạt được.

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu đã động lòng xót thương đàn chiên bơ vơ lạc lõng trước mặt Người, cũng như các con chiên bơ vơ Người thoáng thấy trong muôn thế hệ về sau. Trước khi hiến thân để chỉ còn “một đàn chiên, một chủ chiên” (Ga 10, 16), Người đã chọn và sai nhóm Mười Hai, thủ lãnh của một dòng dõi những kẻ phục vụ Tin Mừng, để họ rao giảng Tin Mừng, xua đuổi tà thần, chữa lành bệnh tật, nghĩa là ban phát cho toàn thể con người ơn cứu độ mà Người đã tạo được nhờ lao nhọc gieo vãi và cứu chuộc. Giáo Hội, thành thánh đặt cơ sở trên 12 móng, mỗi móng mang tên của một trong 12 sứ đồ của Con Chiên (Kh 21,14), có trách vụ tiếp tục cho đến tận thế sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và ân cần chăm sóc hết những ai đau khổ. Nhưng vì thợ gặt ít, nên Chúa Giêsu xin ta cầu nguyện: Lạy Chúa, xin hãy sai thợ gặt đồng lúa của Ngài!

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1) Khi hạn định sứ mạng của mình trước tiên cho người Do thái, Chúa Giêsu đã tuân theo một trật tự, một tiến trình cứu rỗi đã được tiên liệu chiếu theo quyết định của Thiên Chúa: bắt đầu từ dân Do thái đi đến dân ngoại. Người đã hiểu sứ mệnh mình như thế và đã nghiêm túc tuân theo. Có lẽ Người đã đau khổ vì sự hạn chế này. Sự vâng phục này nằm trong sự từ bỏ sâu xa và hoàn toàn của Con Thiên Chúa, mà nhờ đó ta được cứu chuộc. Giữa bao lao nhọc truyền giáo và mục vụ, ta chớ bao giờ quên rằng: điều quan trọng không phải là số lượng công việc đã làm, đường xa đã đi, số người đã ảnh hường, tính cách bao la của công trình, nhưng là thi hành thánh ý Thiên Chúa trong các giới hạn mà thánh ý Ngài đã ấn định.

2) Thiên Chúa đã muốn cần đến con người để tiếp nối hành động Ngài trong thế gian. Ngài có thể bất cần sự hợp tác đó thế nhưng Ngài đã muốn cho con người tham dự vào cuộc tạo dựng thứ hai (việc rao giảng Tin Mừng làm lại con người một cách khác từ cái chết do tội) sau khi đã kết nạp họ vào cuộc tạo dựng thứ nhất (“Hãy nên đầy dấy trên đất và hãy bá chủ nó”, St 1, 28).

3) Những kẻ Thiên Chúa gọi, thì Ngài gọi cách tự do, chứ không chiếu theo danh nghĩa đặc biệt nào (giai cấp xã hội, quốc tịch, chính kiến, thông minh…). Tuy nhiên Ngài ưu tiên lưu tâm đến những người đơn sơ chất phác, nghèo hèn, ít học… Điều Ngài đòi hỏi là sự cởi mở, quảng đại, sẵn sàng. Nếu có các đức tính đó, Ngài có thể làm những việc kỳ diệu, dù họ vẫn còn nhiều khuyết điểm và yếu đuối của con người.

4) Lòng thương xót trắc ẩn của Chúa Kitô thúc bách Người lắng lo cho các chiên không chủ chăn thời đó. Ngày nay phải chăng đã đổi hoàn cảnh? Không! Đọc bất cứ tờ báo nào, nghe bất cứ đài phát thanh nào, ta đều chứng kiến bao cảnh biểu lộ sự bối rối hay thất vọng trước nỗi khó khăn, phi lý của cuộc đời. Nhìn đám đông trong thành phố, dưới vỉa hè hay trên xe cộ, hình như ta cũng có cùng cảm thức như Chúa Giêsu khi đứng trước đám người Do thái ở Galilê. Đôi lúc chính các Kitô hữu ngày nay không còn biết tin tưởng vào ai, theo vị thầy nào. Chúa Kitô sai Kitô hữu đến thế gian để tiếp nối sứ vụ chủ chiên nhân lành của Người bên cạnh con người thế kỷ XXI.

5) Vào mỗi thời kỳ khó khăn hay chuyển hướng của lịch sử Giáo Hội, thì chủ mùa gặt, để đáp lại lời cầu xin của biết bao người hèn mọn, yếu đuối, vô danh, đã luôn làm chỗi dậy nam nữ sứ đồ. Những kẻ này xuất hiện như là những vị giảng đạo của thời đại, những chứng nhân cho một Vương quốc duy nhất có thể biểu lộ sức mạnh của mình bằng nhiều cách. Nhưng chỉ nhờ lời cầu nguyện mới có các chứng nhân đó.

12.Chọn và sai đi

Tuần tự và khéo léo Matthêu khai mở câu chuyện về Chúa Giêsu. Trong lễ rửa do tay ông Gioan, ông cho thấy Chúa Giêsu chấp nhận công tác của Ngài. Lúc Chúa chịu cám dỗ, Matthêu cho thấy phương pháp Ngài xử dụng để thi hành công tác. Trong Bài Giảng Trên Núi, ta nghe lời khôn ngoan của Chúa Giêsu. Trong đoạn 8, ta thấy việc quyền năng. Trong đoạn 9, sự chống đối ngày càng gia tăng. Bây giờ chúng ta thấy Chúa chọn lựa người của Ngài. Một thủ lãnh sắp sửa dấn thân vào một việc quan trọng thì điều trước tiên cần làm là lựa chọn bộ tham mưu. Hiệu quả trước mắt và sự thành công tương lai của công trình đều tùy thuộc vào họ. Ở đây Chúa Giêsu lựa chọn ban tham mưu của mình, chọn những cánh tay mặt, những người sẽ giúp đỡ Ngài lúc còn ở thế gian và sẽ tiếp tục công tác của Ngài khi Ngài lìa thế gian để trở về nơi vinh quang.

Có hai sự kiện về những người này khiến ta chú ý ngay:

1. Họ là những người tầm thường:

Họ không có của cải, không học thức cao, không có địa vị trong xã hội. Họ được chọn từ trong dân gian, những người chỉ làm việc thường, không được giáo dục đặc biệt, không có lợi thế xã hội. Người ta nói Chúa Giêsu không tìm những người phi thường, Ngài tìm những người tầm thường để làm việc một cách rất phi thường. Chúa Giêsu nhìn mỗi người, không phải chỉ để thấy họ thế nào, mà cũng để thấy Ngài có thể khiến họ trở nên như thế nào. Chúa Giêsu lựa chọn những người này không những vì họ thế nào nhưng còn vì họ có thể trở nên như thế nào dưới ảnh hưởng và quyền năng Ngài. Không ai nên nghĩ mình không có gì để dâng cho Chúa. Chúa Giêsu có thể lấy điều một con người tầm thường hơn hết dâng lên để xử dụng trong việc trọng đại.

2. Họ là một nhóm ô hợp dị thường nhất:

Có Matthêu, người thu thuế. Tất cả mọi người đều coi Matthêu là người phản quốc, như một người làm tay sai cho chủ nhân chiếm xứ mình để cầu lợi, trái ngược với một người ái quốc thương dân. Cùng với Matthêu có Simon, Luca (6,16) gọi ông là Simon Dêlốt, tức nhiệt thành. Sử gia Giosephus gọi những người Dêlốt (cuồng tín nhiệt tâm này) là đảng thứ bốn của người Do thái (ba đảng kia là: Biệt phái, Xađuxê và Khổ hạnh (Esennes). Ông nói rằng họ có một lòng tự do không gì sánh nổi, vì họ nói Thiên Chúa là Đấng cai trị và Chúa của họ. Họ chuẩn bị đương đầu với mọi cái chết cho xứ sở và không hề chùn bước khi thấy người thân yêu chết trong cuộc đấu tranh dành tự do. Họ từ chối, không chịu tôn tặng một người nào trên thế giới danh hiệu là vua. Họ có một quyết tâm chịu bất cứ sự đau đớn nào, họ chuẩn bị để thi hành những vụ sát nhân bí mật để tìm cách loại bỏ quyền lực ngoại bang khỏi xứ họ. Nếu Simon, người cuồng tín gặp Matthêu ở một nơi nào khác ngoài tập thể của Chúa Giêsu, thì chắc chắn ông đã đâm cho một nhát dao găm rồi. Tại đây có một chân lý trọng đại là những người thù ghét lẫn nhau lại có thể thương yêu lẫn nhau khi cả hai cùng thương yêu Chúa Giêsu. Nhiều khi tôn giáo là cớ chia rẽ người đời, nhưng trong sự hiện diện của Chúa Giêsu thì họ đem họ lại với nhau, những con người trước đây chia rẽ vì không có Ngài.

Để chung ba bản thuật ký về sự kêu gọi mười hai Tông Đồ, chúng ta sẽ thấy vài điểm nổi bật:

a) Ngài lựa chọn họ:

Luca (6,13) nói Chúa Giêsu gọi các kẻ theo Ngài rồi chọn mười hai người trong họ. Dường như mắt Chúa rảo quanh đám đông đi theo Ngài và một nhóm nhỏ bằng lòng ở lại với Ngài khi quần chúng đã tan đi, dường như lúc nào Ngài cũng đang tìm kiếm những người Ngài có thể giao công tác cho. Có người đã nói: “Thiên Chúa luôn luôn tìm kiếm những bàn tay để xử dụng” Ngài luôn luôn phán: “Ta sẽ sai ai? Ai sẽ đi cho chúng ta?” (Is 6,8). Có nhiều công tác trong Nước Trời, công tác cho người đi ra, công tác cho người ở lại nhà, công tác cho người phải xử dụng đôi tay, công tác cho người phải xử dụng tâm trí, công tác mọi người đều thấy và công tác không ai thấy được. Đôi mắt của Chúa Giêsu luôn luôn tìm trong đám đông xem có người nào sẽ làm công tác của Ngài.

b) Chúa kêu gọi họ:

Chúa Giêsu không ép buộc ai làm công việc cho Ngài, Ngài hiến công việc cho họ, nhưng không ép buộc họ. Ngài mời gọi, chứ không chưng dụng. Ngài muốn có những người tình nguyện. Mỗi người được hoàn toàn tự do trung thành hay không. Lời mời gọi đều đạt đến mọi người, ai muốn chấp nhận hoặc từ chối tùy ý.

c) Ngài chỉ định họ:

Chỉ định một người vào một chức vụ. Chúa Giêsu giống như một ông vua chỉ định người làm bộ trưởng, như vị tướng tư lệnh giao công tác cho cấp chỉ huy. Phục vụ Chúa không phải là một tình cờ may rủi mà là được chỉ định chính xác vào chức vụ. Người ta rất hãnh diện nếu được vua thế gian chỉ định vào một công tác. huống chi được chỉ định bởi một Vua các vua thì còn đáng hãnh diện hơn biết bao!

d) Những người này được chỉ định trong số các môn đệ:

Môn đệ là kẻ học hỏi. Người Chúa Giêsu cần và ưa thích là người sẵn sàng học hỏi. Một tâm trí khép kín không chịu học hỏi không thể nào phục vụ Chúa. Tôi tớ của Chúa Giêsu phải sẵn sàng học hỏi thêm mỗi ngày, mỗi ngày phải bước gần Chúa Giêsu và Thiên Chúa hơn.

đ) Ngài chọn để họ ở với Ngài:

Nếu họ phải làm công việc Ngài trong thế gian thì họ phải sống trong sự hiện diện của Ngài trước khi đi vào thế gian, họ phải đi từ sự hiện diện của Chúa Giêsu đến sự hiện diện của con người. Nhiều khi trong những sinh hoạt phức tạp của Hội Thánh hiện đại, chúng ta bận rộn với việc điều hành cốt để cho guồng máy quay đều, nhưng chúng ta lại quên rằng tất cả những việc này không quan hệ, nếu không được thực hiện từ những người đã ở với Chúa Giêsu trước khi đến với loài người.

e) Họ được gọi là Tông Đồ (Sứ Đồ):

Là người được sai đi. Chữ dùng để chỉ một phái viên, một đại sứ. Kitô hữu là sứ giả của Chúa Giêsu đến với loài người. Họ bước vào sự hiện diện của Chúa Giêsu để có thể từ đó đến với loài người, mang theo vẻ đẹp của Chúa Giêsu.

g) Họ được gọi là người rao giảng:

Họ được lệnh phải giảng đạo. Người kitô hữu là người rao truyền Chúa Giêsu, đó là lý do tại sao phải ở lại với Chúa Giêsu. Sứ giả không truyền đạt ý của mình, nhưng đem một sứ điệp thiêng liêng chắc thật từ Chúa Giêsu. Người đó không thể mang sứ điệp đó nếu trước hết không nhận được từ việc ở với Ngài.

13.Nhóm Mười Hai

“Đây là tên của mười hai tông đồ…”. Chúng ta biết bồn vị được ưu đãi: Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan. Những vị khác rất quen thuộc đối với chúng ta là: Philip, Tôma, Matthêu, Giuđa. Nhưng còn Batôlômêô, Tađêô, con của Anphê, người yêu nước cuồng nhiệt.

Đàng khác, tất cả các tông đồ đều bị lu mờ do tính cách của Chúa Giêsu và sự say mê của riêng họ: họ chỉ nhìn thấy Ngài, cách Ngài yêu thương, nhất là yêu thương trẻ nhỏ. Cái nhìn của mười hai tông đồ vào Chúa Giêsu đã cho chúng ta biết về Ngài, và về sự phục sinh của Ngài. Chúng ta là một Giáo hội “tông truyền”.

 Từ đó phát sinh sự vững vàng và nóng bỏng của đức tin chúng ta. Những tôn giáo khác có những bản văn đẹp, những truyền thuyết hay, nhưng duy chỉ người Kitô hữu mới có thể nhìn xem và lắng nghe Thiên Chúa được làm cho thấy rõ nhờ một người đã sống ở chỗ nọ, vào thời kỳ đó và đã nói những điều hết sức rõ ràng. Nhờ các tông đồ, tức mười hai nhân chừng, chúng ta mới biết được con người đó. Chúng ta có thể nuôi dưỡng đức tin của chúng ta không phải ở nơi nàokhác, mà chính là bằng cách không ngừng đi lại con đường của chính họ. Con đường đó đi từ Chúa Giêsu con người đến Chúa Giêsu Thiên Chúa: Ngài đã như thế này, Ngài  đã hành động theo cách này, Ngài đã nói…

Cũng nhờ nhóm mười hai mà chúng ta mới đi vào trong Giáo hội, một tập thể đông đúc mà ngày nay chúng ta thích gọi là Dân Chúa hơn. Mỗi chủ nhật chúng ta lại tiếp xúc với khía cạnh chủ yếu của đức tin chúng ta, đó là sống thành một dân tộc, trong và nhờ Giáo hội của Chúa Kitô cũng là Giáo hội của các tông đồ: “Tôi tin Giáo hội tông truyền”.

Lập tức, Chúa giêsu đã muốn điều này: tái lập một dân tộc. Việc chọn mười hai bạn đồng hành gợi lại mười hai người con của Giacóp và mười hai chi tộc Israel, nghĩa là toàn thể mọi người. Chúa Giêsu đã đến vì mọi người. Lệnh ban ra cho các tông đồ: “Hãy đi tới với các chiên lạc nhà Israel” đơn giản đánh dấu bước đầu của sự quy tụ, đánh dấu lời kêu gọi dân cũ sẽ phải nhanh chóng tạo lập dân mới. Nhưng câu cuối của Tin mừng mở cửa toàn thể thế giới cho các tông đồ: ”Các môn đệ thuộc tất cả các dân tộc”.

Khi tìm kiếm một người thay thế Giuđa, Phêrô đã nói: “Chúng ta hãy chọn một trong những người đã đi theo chúng ta trong suốt thời gian Chuá Giêsu thường lui tới với chúng a cho đến ngày Ngài lên trời. Người này sẽ cùng chúng ta làm chứng Ngài đã sống lại” (Cv 1, 21-22). Lời này mở rộng nhóm mười hai. Không phải họ là những người duy nhất vây quanh Chúa Giêsu. Cho nên Tin mừng cũng nói đến 72 người. Nếu vai trò của nhóm mười hai là duy nhất theo tư cách là nền tảng của Giáo hội, thì chính khái niệm tông đồ được mở rộng ra cho mọi Kitô hữu, và bao gồm hai tính chất chủ yếu, đó là cùng đồng hành với Chúa Giêsu và đức tin thông truyền do sự Phục sinh: “Ngài đã sống lại!”

Chúng ta thuộc về động thái phát sinh vào ngày mà Chúa Giêsu muốn nhóm mười hai sống với Ngài. Nếu chúng ta không hài lòng về Giáo hội, về Giáo hoàng, về các Giám mục và về cha sở của chúng ta, chúng ta hãy xem  xét vấn đề… cùng với Chúa Giêsu. Chúng ta có thể phê bình và đôi khi chúng ta phải làm như thế vì là một thành phần sống động trong Giáo hội. Nhưng điều cũng làm cho chúng ta quan tâm đó là toàn thể Giáo hội là một tập thể rất sống động chung quanh Chúa Giêsu và là một lời loan báo Tin Mừng của Ngài rất sống động.

Khi tình yêu Giáo hội và nhiệt tình truyền giáo hiện diện nơi một Kitô hữu thì người đó đang đi theo bước chân các tông đồ và Chúa Giêsu xem người đó là người thân của Ngài.

14.Sứ mạng của các Tông Ðồ

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT.)

Trong suốt thời gian tại thế, nhất là ba năm rao giảng về Nước Trời, Chúa Giê-su đã gặp gỡ dân chúng, tiếp xúc với dân, Ngài đã hiểu rõ đời sống thực tế của dân, càng gần gũi dân, Chúa Giê-su càng hiểu rõ họ, càng yêu mến họ và càng lúc Ngài càng lưu tâm, để ý tới họ. Dân chúng trong thời Chúa Giê-su sống cũng gặp biết bao thảm cảnh: đói khát về thể xác, thiếu thốn về tinh thần. Tin Mừng thánh Mát-thêu trong trích đoạn hôm nay đã cho chúng ta thấy rõ nhu cầu của dân chúng: “Ðức Giê-su thấy đám đông, Người chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9, 36). Rõ ràng Chúa Giê-su chạnh lòng thương dân chúng vì họ bơ vơ, đói khát, nên Ngài gợi ý với các môn đệ đang ở bên Ngài: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít” ( Mt 9, 37 ).

I. CHÚA GIÊSU CHỈ RA CHO MÔN ÐỆ THẤY DÂN CHÚNG THẬT ÐÁNG THƯƠNG:

Khi theo Chúa, nghe Chúa giảng dạy, chứng kiến các phép lạ Chúa làm, dân chúng như say mê với lời Chúa, hăng hái ngồi nghe Chúa, quên hết mọi Ưu tư, phiền muộn. Tuy nhiên, Chúa Giê-su thấy rõ đám đông, Ngài đã tiếp xúc với họ, đã chia sẻ với họ cả niềm vui lẫn nỗi buồn, Ngài đã hiểu thấu nỗi bận tâm của dân chúng. Dân đang nghe Chúa giảng, đang trố mắt nhìn Chúa với tâm hồn nhiệt tình, đạo đức. Họ đói lòng, nhưng tai họ thì tràn đầy Lời Chúa. Chúa hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của họ. Họ thích đón nhận nước trời, họ muốn nghe Lời Chúa và muốn có người hướng dẫn. Chúa thấy rõ điều ấy, nên Ngài thương họ thật tình, tình thương phát xuất tự con tim đầy yêu thương của Chúa.

Chúa biết rõ dân xưa trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa Cha của Người đã sai nhiều vị lãnh đạo tới hướng dẫn, chỉ vẽ, hướng dẫn dân. Một Áp-ra-ham với một dòng tộc lớn lao, Thiên Chúa tặng ban cho Ông để qua Ông 12 dòng tộc Ít-ra-en được thiết lập. Thiên Chúa đã dùng Mô-sê, Ða-vít để chăn dắt, lãnh đạo dân như những mục tử thật tốt lành. Ðời sống của dân ngày nay cũng rất cần các mục tử dẫn dắt, hướng dẫn, lãnh đạo. Các ngôn sứ thời cựu ước đã loan báo chính Chúa sẽ đến và trở thành người dẫn dắt dân, trở thành Mục Tử tốt lành, yêu thương chiên, hy sinh mạng sống vì chiên của mình (Ga 10, 11). Dân đông đảo, dân bơ vơ, dân đói khát nhưng họ có thể tin tưởng vững bước vì Chúa là Mục Tử của họ. Hình ảnh đồng lúa chín vàng gợi lên cánh đồng truyền giáo bao la, mênh mông, rộng lớn. Chúa đã đi bước trước khi Người rảo khắp các làng mạc, thành phố, rao giảng trong các hội đường. Công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa, chữa mọi bệnh hoạn, tật nguyền, xua trừ ma quỉ (x. Mt 9, 35). Nước Chúa đã đến: thế giới rộng mênh mông, nhiều người, nhiều linh hồn muốn trở về với Chúa.

II. CHÚA KÊU GỌI 12 MÔN ÐỆ TIẾP NỐI SỨ MẠNG CỦA CHÚA GIÊSU:

Trước một cánh đồng lúa chín vàng, thế giới gồm biết bao nhiêu người rải rác khắp nơi, Chúa muốn con người cộng tác vào việc cứu thế của Chúa. Công việc cứu độ một mình Chúa là đủ, nhưng Người muốn con người tiếp tay với Người trong công việc truyền giáo cho một thế giới bao la. Nên, Chúa đã kêu gọi một số môn đệ đi theo Ngài để tiếp tục công việc của Ngài loan báo Tin Mừng Cứu Ðộ. Chúa Giê-su đã chọn nhóm 12 làm môn đệ, Ngài đã gọi đích danh từng người và nhất nhất các môn đệ được gọi, được chọn đã cương quyết theo Ngài. Tuy nhiên, Chúa Giê-su kêu gọi các môn đệ một cách nhưng không, Ngài muốn chọn ai tùy ý Ngài và ơn gọi, sự chọn lựa chỉ được thực hiện, sau khi Chúa Giê-su đã cầu nguyện lâu giờ, hỏi ý Chúa Cha. Chọn môn đệ, gọi họ là Tông Ðồ (Apostoloi), nghĩa là được sai đi.

Các môn đệ vì tùy thuộc vào Chúa, họ phải thực thi lệnh truyền của Chúa. Si-mon gọi là Phê-rô, được Chúa đặt làm đầu nhóm và trở nên vị giáo hoàng tiên khởi của Hội Thánh do Chúa thiết lập. Tất cả các tông đồ đều thực hiện lời gợi ý của Chúa: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít” (Mt 9, 37) và các ông đều hướng về lệnh của Chúa trước khi Ngài về trời tại Ga-li-lê: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…” (Mt 28, 19).

Còn bây giờ, các môn đệ, những người được Chúa sai đi đã tới trước hết với “những con chiên lạc nhà Ít-ra-en”. Các môn đệ tiếp nối sứ mạng của Chúa Giê-su: loan báo Nước Trời đã đến, thực hiện những điều Chúa Giê-su đã làm, giảng dạy, chữa lành bệnh hoạn tật nguyền, xua trừ ma quỉ và ban bình an cho con người. Các Ngài đã được trao sứ vụ phục vụ con người như Chúa Giê-su đã phục vụ: “Thầy đến để phục vụ, chứ không để được hầu hạ”. Các môn đệ muôn người như một đã luôn noi gương Thầy mình “vác thập giá để theo Chúa Giê-su” và các ông đã luôn hướng về đồng lúa thế giới mênh mông để xin Chúa Cha sai thợ ra gặt lúa về (Mt 9, 38). Các môn đệ luôn ý thức rằng các ông đã nhận nơi Chúa nhiều ân huệ nhưng không, các ông cũng phải cho lại nhưng không. Sứ mạng của các Tông Ðồ sẽ trải dài mãi cho đến ngày cùng tận và mọi người đều vững mạnh, tin vào lời Chúa hứa: “Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết yêu mến Giáo Hội, xây dựng Giáo Hội và cầu nguyện luôn cho Giáo Hội. Xin cho mỗi người chúng con luôn noi gương bắt chước các Tông Ðồ để loan báo Tin Mừng và giới thiệu Chúa Kitô cho mọi người. Xin cho chúng con luôn biết cầu nguyện cho Ðức Giáo Hoàng, các Ðức Giám Mục, các Linh Mục và các phẩm trật của Hội Thánh.

15.Ðẹp thay bước chân người đi loan Tin Mừng

(Suy niệm của Lm. Augustine, SJ.)

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

Hôm ấy, Ðức Cha Thể (Théphanô Théodore Cuenot sinh 1802 tại Pháp, chết tử đạo 1861 tại Việt Nam) gọi thày Do lên và hỏi thẳng thày về cách thày sẽ thực thi mệnh lệnh truyền giáo như thế nào:

– Thày phải mở qua ngõ An Sơn, tức Tây Sơn, một con đường để đi truyền giáo cho các dân tộc thiểu số: Thày sẽ làm thế nào để hoàn thành việc đó?

– Thưa Ðức Cha, con sẽ làm lái buôn, Thày Do đáp lời, để trong vai lái buôn, con sẽ tiến sâu vào phía bên kia ranh giới nơi những lái buôn chưa từng vượt qua. Một khi khảo sát xong địa hình, con sẽ trở về đưa một vị thừa sai đến vùng đó.

– Quá tốt, Ðức Cha Thể nói tiếp, Cha mong đợi rất nhiều ở Thày.

Thế là thày Do được trang bị bằng phẩm chất của hai thánh Têphanô và Lorensô xưa, tức chịu chức phó tế. Không tậu ngay được môn bài làm lái buôn, thày Do xin làm người giúp việc cho lái buôn. Sau thời gian ngắn, người chủ hết sức hài lòng về anh giúp việc này liền thăng chức cho anh được làm đầu bếp. Thày sáu Do, vai mang gùi chứa đựng nồi niêu chén bát, tháp tùng ông chủ lái buôn đi hết làng này sang làng khác. Thày kiên trì hỏi han anh em dân tộc về ngôn ngữ, phong tục, tập quán của họ.

Sau sáu tháng sống đời phiêu bạt, thày sáu Do đã biết tạm đủ thổ ngữ dân tộc để dùng trong trường hợp phiêu lưu một mình. Không còn lý do để ở làm đầu bếp lâu hơn nữa cho ông chủ lái buôn người kinh, thày sáu Do bỏ An Sơn về Gò Thị, trình báo mọi sự lại cho Ðức Cha Thể. Nay thày muốn làm lái buôn thực thụ để có thể đi sâu vào những buôn làng dân tộc mà các thương gia người kinh khác chưa tới bao giờ. Ðức Cha Thể tán thành ý kiến và cho bốn chủng sinh đi theo thày Do.

Ðoàn thương gia của thầy sáu Do hoàn toàn di chuyển ban đêm. Với nhiều thận trọng khôn khéo, họ đã an toàn đến với bộ lạc Hà Ðrông. Nhưng trước kia thầy sáu Do làm người đầu bếp nên không ai chú ý tới thầy làm chi. Nay thầy đóng vai ông chủ buôn người kinh, thầy liền bị người Hà Ðrông để ý muốn chiếm lấy hàng hoá mà họ tưởng là rất quý giá; họ đồng thời còn muốn bắt chủ buôn và các phụ tá để bán sang Lào làm nô lệ! May thay thầy Do biết được ý định đen tối của chủ nhân Hà Ðrông hiếu khách một cách giả dối. Thầy và các phụ tá đã kịp thời chạy trốn lúc đêm khuya, bỏ lại đàng sau tất cả hành lý và đồ đạc. Khi bọn cướp kéo đến bao vây nhà trọ, phái đoàn của thầy đã cao chạy xa bay trên đường về Gò Thị báo cáo cho Ðức Cha Thể biết kết quả.

Trước hết như đã thấy ở trên, thầy sáu Do đã biết được một ít thổ ngữ dân tộc, đó là điều cơ bản; kế đến và nhất là thầy đã khám phá ra con đường độc đạo, hiểm trở, ngoài các con đường thông thường của các thương gia người kinh sử dụng, mà qua đó các vị thừa sai có thể kín đáo đến được các vùng rừng núi phía Tây. Con đường này hết sức cam go và vất vả, lại dài hơn những lối đi khác, bởi vì phải đi một vòng quanh rộng lớn theo hướng Bắc trước khi rẽ sang hướng Tây. Ðó là lối đi an toàn, bởi lẽ không một thương gia người kinh nào có can đảm dấn bước vào đó. Sau khi xem xét chu đáo. Ðức Cha Thể đã chọn lối đi này.

Câu chuyện vừa kể phần nào nói lên ý chí cương quyết của Ðức Cha Thể đối với mệnh lệnh truyền giáo là làm cho muôn dân trở nên môn đệ của Ðức Giêsu (Mt 28,19). Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy ý chí cương quyết ấy khởi đi từ chính Giavê Thiên Chúa. Chính Người đã chạnh lòng thương khi thấy dân Người vất vưởng như bầy chiên không có người chăn nên đã sai Con Người đến như người Mục Tử nhân lành. Vị Mục Tử này hôm nay sai phái các môn đệ lên đường săn sóc dân Người. Do đó mới có những con người như Ðức Cha Thể là người kế nghiệp các thánh Tông Ðồ, và những người như thày sáu Do là người tích cực tham dự vào sứ mạng truyền giáo.

Thiên tình sử xuyên qua Ðức Giêsu đến ta hôm nay

Bài Tin Mừng hôm nay gợi ý cho thấy cả một thiên tình sử trước Ðức Giêsu, trong thời Ðức Giêsu và sau đó cho đến thời đại chúng ta hiện nay. Thiên chúa luôn là tình yêu sống động. Loài người càng vất vả lầm than thì Thiên Chúa càng xót thương và ra tay cứu độ.

Trước Ðức Giêsu. – Ngay từ ngày con cái nhà Giacóp còn sống trong cảnh lầm than nơi Ai Cập, Giavê Thiên Chúa đã chạnh lòng thương nên đã sai Môsê đến giải thoát họ, đưa họ về đất hứa: “Tiếng rên siết của con cái Israel đã thấu tới Ta; Ta cũng đã thấy cảnh áp bức chúng phải chịu. Bây giờ, ngươi hãy đi! Ta sai ngươi đến với Vua Pharaô để đưa dân Ta là con cái Israel ra khỏi Ai Cập.” (Xh 3,9-10)

Thế là thiên tình sử của Cựu Ước đã bắt đầu từ sách Sáng Thế, nay trở nên quyết liệt trong sách Xuất Hành. Thiên Chúa tình thương luôn đứng về phe người bị áp bức để giải thoát họ khỏi cảnh bạo tàn. Xưa tiếng máu của Abel bị Cain là anh giết, vang thấu tới Thiên Chúa (St 4,10), nay tiếng rên siết của con cái Israel, Thiên Chúa cũng không bỏ qua.

Hình ảnh mục tử trong văn chương phổ quát trên thế giới đã từng được áp dụng cho những nhân vật chính trị hoặc tôn giáo. Trong Cựu Ước hình ảnh ấy có khi được áp dụng cả với Giavê Thiên Chúa, như thấy trong các sách Ngôn Sứ (Is 40,10tt; Gr 23,1-4; Ed 34,2-10; M 4,6tt). Thiên Chúa nói: “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ. Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc Ta sẽ đưa về; con nào bị thương Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật Ta sẽ bồi dưỡng; con nào béo mập, con nào khỏe mạnh Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng.” (Ed 34,1-16)

Trong thời Ðức Giêsu. – Bài Tin Mừng hôm nay chỉ phản ảnh phần nào hoạt động của Ðức Giêsu với tư cách là Mục Tử nhân lành. Tự bản chất, Ðức Giêsu chính là hiện thân của lòng ưu ái của Giavê Thiên Chúa ưu tiên dành cho người nghèo. Người được sai đến là thành phần của một gia đình nghèo làng Nadarét, để trở nên bạn của người nghèo ở mọi nơi và trong mọi thời đại. Người được sai đến rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó (Lc 4,18). Người quý chuộng người nghèo đến nỗi chọn ở giữa họ nhóm Mười Hai Tông Ðồ. Ðó là những người được trao quyền trừ quỷ và chữa lành mọi bệnh tật (c.1). Trong tương lai họ sẽ được ban Thần Khí để chính họ tha tội cho ai thì tội người ấy được tha (Ga 20,22-23). Trong khi chờ đợi họ là những người môn đệ thân cận nhất sống bên Ðức Giêsu. Họ được hấp thụ một nền giáo dục thiết thân hầu có khả năng Phúc Âm hoá cả thế giới nhờ có Ðức Giêsu phục sinh luôn ở với họ. “Anh em hãy làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,19-20).

Từ đó cho đến thời đại chúng ta hiện nay. – Các Tông Ðồ và những người thừa kế các ngài luôn phải kết hợp với Ðức Giêsu phục sinh còn ở lại mãi trong Giáo Hội, để thực thi những điều Người muốn. Mục tiêu của các cuộc Phúc Âm hoá qua các thời đại luôn là công trình hiện thực hóa Nước Thiên Chúa nơi xã hội loài người. Nước đó chỉ được hoàn tất trong ngày sau hết, nhưng đã phải bắt đầu hiện hữu giữa thế giới chúng ta đang sống. Các Kitô hữu nam nữ đều tham gia việc làm cho Nước Thiên Chúa hiện diện dưới sự lãnh đạo của Chúa Kitô bằng đời sống chứng tá hàng ngày, bằng việc góp phần làm cho Tin Mừng của Chúa Giêsu được lãnh hội và được sống, dĩ nhiên phải xuyên qua nền văn hoá phức tạp của con người, xuyên qua cuộc đối thoại liên vị và không thể bỏ qua việc thăng tiến công bằng gắn liền với việc Thiên Chúa ngay từ ban đầu đã muốn giải phóng dân Người thoát khỏi mọi hình thức bất công. Ðiểm cuối cùng này được Ðức Gioan Phaolô II nhấn mạnh khi nói: “Lao tác cho Nước Chúa hiển trị là nhận biết và cổ võ hành động của Thiên Chúa đang hiện diện và biến đổi lịch sử loài người. Xây dựng Nước Chúa có nghĩa là lao tác nhằm giải phóng khỏi sự dữ dưới mọi hình thức. Tắt một lời, Nước Thiên Chúa chính là việc bày tỏ và hiện thực hoá kế hoạch cứu độ trong tất cả mức tròn đầy của kế hoạch đó.” (Thông điệp Sứ Mạng củ Ðấng Cứu Thế, số 15)

Một số câu hỏi gợi ý

1. Bạn nghĩ những người Công Giáo của những dân tộc thiểu số vùng Cao Nguyên Việt Nam ngày nay có thể cảm thấy lòng biết ơn đối với những người sau đây về những điều mà họ mắc nợ: Ðức Cha Thể, Thầy Sáu Do? Các vị Thừa Sai Ba Lê? Riêng bạn có mắc nợ ai về ơn đức tin mà qua họ bạn lãnh nhận chăng, chẳng hạn: người dạy giáo lý cho bạn? Người làm gương sáng cho bạn? Một cuốn sách bạn đọc? Gương của một vị thánh? Một số các vị thừa sai đầu tiên đến rao giảng Tin Mừng cho người Việt Nam, mà bạn nhớ tên?

2. Loài người càng vất vưởng lầm than thì Thiên Chúa càng xót thương và ra tay cứu độ. Bạn biết gì về lòng thương xót đó của Thiên Chúa trước thời Chúa Giêsu, trong thời Chúa Giêsu sống nơi trần gian và sau thời đó cho đến ngày hôm nay?

16.Tung cánh chim khắp nơi

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT.)

Đọc Tin Mừng của Chúa Giêsu chúng ta không khỏi xúc động,cảm kích về thái độ, cử chỉ và con người của Đức Kitô. Thực sự, có một cái gì rất diệu kỳ và linh thánh khi nói về Chúa Giêsu. Ngài sinh ra nơi trần gian không chỉ để sống kiếp làm người như mọi người khác, nhưng việc nhập thể của Chúa cho nhân loại, cho mỗi người chúng ta hiểu thật rõ về Con Người-Chúa của Ngài. Ba mươi năm sống với cha mẹ của Ngài ở làng quê Nagiarét đã hun đúc con người lao động, chiêm niệm và chuẩn bị sứ vụ công khai của Ngài. Chúa Giêsu đã tiếp xúc hàng ngày với nhiều lớp dân, nên Ngài đã hiểu nhu cầu thực tế của họ. Thánh Matthêu viết:” Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt”(Mt 9,36). Với lòng nhân từ, Chúa Giêsu gợi ý để các môn đệ suy nghĩ:” Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Mt 9, 37).

NHU CẦU CỦA DÂN CHÚNG VÀ CÁNH ĐỒNG LÚA MÊNH MÔNG:

Tin Mừng của thánh Matthêu gợi lên hình ảnh rất thực tế của Chúa Giêsu: ”Đức Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 9, 35). Nhờ đi đây đi đó, tiếp xúc với dân chúng, Chúa Giêsu hiểu rõ những nhu cầu của dân. Đám đông dân chúng không chỉ đói khát lương thực, không chỉ thiếu thốn vật chất, nhưng dân chúng quả đang khát khao lắng nghe lời rao giảng của Chúa và các mộn đệ của Ngài.  Dân chúng đang thiếu các vị chủ chăn, đang thiếu những người lãnh đạo để dậy dỗ họ và yêu thương họ. Điều này cho chúng ta hiểu rõ hơn về quan niệm Cựu Ước: “hình ảnh các mục tử rất quen thuộc với nền văn hóa du mục“. Tổ tiên của dân Cựu Ước cũng là những người chăn chiên, như Môsê, Đavít, Giêrêmia và Eâzêkiel đã loan báo trước cho dân là chính Thiên Chúa sẽ trở nên người chăn dắt đàn chiên của Ngài. Lời tiên báo của các ngôn sứ đã được thực hiện nơi chính Đức Giêsu Kitô, Con Một duy nhất của Thiên Chúa, vị Mục tử hiền lành chạnh thương và chăm sóc mọi con chiên của Ngài, đến nỗi hy sinh cả mạng sống cho chúng. Do đó, dân chúng cảm thất an tâm vững dạ, tiến bước vì có Chúa là Mục Tử dẫn dắt họ. “Tôi chính là Mục Tử nhân lành.Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10,11) hoặc “Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Tiếp xúc với dân, hiểu rõ dân, Chúa Giêsu thấy nhu cầu truyền giáo bao la: lúa chín đầy đồng, ruộng đồng mênh mông. Chính vì thế, công việc cứu độ, việc loan báo Tin Mừng, Chúa không làm một mình. Chúa muốn có nhiều người cộng tác với Người trong công cuộc cứu độ. Do đó, Chúa đã kêu mời nhóm mười hai đi theo Ngài để Ngài huấn luyện, uốn nắn, biến đổi họ thành những tay thợ lành nghề trong cánh đồng truyền giáo bao la của thế giới. Chúa đã tuyển chọn nhóm mười hai để tiếp tục sứ mạng cứu thế của Ngài.

CHÚA THIẾT LẬP GIÁO HỘI Ở TRẦN THẾ ĐỂ TIẾP TỤC CHƯƠNG TRÌNH CỨU RỖI CỦA CHÚA:

Tin Mừng thánh Matthêu hôm nay đưa chúng ta về những bước khởi đầu của việc thiết lập Giáo Hội. Trong thời kỳ công khai rao giảng, Chúa Giêsu đã giảng dậy trong các hội đường Capharnaum va nhiều hội đường khác. Danh tiếng của Ngài đã được rất nhiều người biết tới. Những lời rao giảng, những phép lạ của Ngài  đã làm danh tiếng Ngài vang đi khắp nơi. Ngài nhìn thấy trước công cuộc cứu rỗi của Ngài. Do đó, để thực hiện chương trình cứu rỗi, Chúa đã kêu gọi một số môn đệ đi theo Ngài để rao giảng, loan báo Tin Mừng. Trong số các môn đệ, Chúa Giêsu đã chọn mười hai người để làm tông đồ và trở thành cột trụ của Giáo Hội mà Ngài sẽ thiết lập. Giáo Hội của Chúa từ thời các tông đồ cho tới ngày hôm nay vẫn luôn tồn tại, phát triển không ngừng dù rằng Giáo Hội không ít gian nan, thử thách. Giáo Hội được xây dựng trên nền tảng của các tông đồ mà đứng đều là thánh Phêrô và các Đấng kế vị Ngài. Do đó, chấp nhận quyền bính trong Giáo Hội, phẩm trật của Giáo Hội cũng chính là chấp nhận quyền bính mà Chúa Giêsu đã trao cho các tông đồ. Hội Thánh của Chúa ở trần gian là Hội Thánh duy nhất, thánh thiện và tông tuyền.Khi tuyên xưng như thế có nghĩa là mọi Kitô hữu sống trong sự hiệp thông với Hội Thánh trong đó các Đức Giám Mục mà Vị Thủ Lãnh là Đức Giáo Hoàng, Đấng kế vị thánh Phêrô làm thành một phẩm trật hết sức thánh thiêng và hiệp nhất.  Hội Thánh đã được Chúa Giêsu ủy thác cho các tông đồ, các tông đồ lại truyền lại cho các người kế tục và cứ như thế cho đến ngày viên mãn chung cục…

CẢM NGHIỆM VỀ LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA VÀ TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN HỘI THÁNH:

Thánh Matthêu đã vẽ lại bức tranh tuyệt đẹp về con người của Chúa Giêsu. Đây là sự mạc khải tuyệt vời về lòng thương xót của Chúa. “ Thấy đám đông thì Chúa chạnh lòng thương”. Chúa Giêsu đã sống đích thực sự sống của con người, một người có trái tim nhạy bén, trái tim biết nói, trái tim người nhưng đầy thần khí của Chúa. Chúa xót thương con người, thương yêu dân chúng vì họ đói khát lời của Chúa. Và Ngài đã chỉ thị cho các môn đệ phải tiếp tục loan báo Nước Trời, rao giảng lời Chúa. Như năm chiếc bánh và hai con cá, Chúa Giêsu đã nuôi nhiều ngàn người ăn. Dân chúng bơ vơ, đói khát cả về vật chất lẫn tinh thần, Chúa yêu thương nuôi sống họ và Chúa sẽ để lại chính Thịt Máu của Ngài làm lương thực nuôi sống con người. Hội Thánh của Chúa sẽ tiếp tục sứ mạng của Chúa và tin tưởng Chúa Thánh Thần sẽ luôn tác động, đổi mới để làm cho Giáo Hội Chúa càng ngày càng trổ sinh hoa trái tốt đẹp.

Mỗi người Kitô hữu chúng ta có ý thúc vai trò, nghĩa vụ của mình là xây dựng Giáo Hội phổ quát và Giáo Hội địa phương mỗi ngày một đạo đức, thánh thiện hay không? Mỗi người Kitô hữu phải là một viên đá sống động động để Chúa xây dựng Hội Thánh Chúa ở trần gian này. Như các tông đồ chúng ta tung cánh khắp mọi nơi để loan báo Chúa Giêsu Kitô và rao giảng Nước Trời.

Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con hiểu rõ rằng nơi đâu có người công giáo là nơi đó có Giáo Hội Chúa. Amen.

17.Suy niệm của Lm. Trọng Hương

A. Hạt giống…

Bài Tin Mừng này có 4 ý:

1. Chúa Giêsu thương đám đông như đoàn chiên không người chăn, như đồng lúa chín rộ mà không có thợ gặt, nên Ngài kêu gọi các môn đệ hãy cầu xin Thiên Chúa sai thợ gặt đến.

2. Tiếp theo, Ngài sai chính nhóm 12 ra đi làm thợ gặt trên cánh đồng truyền giáo. Ngài ban quyền cho họ: Họ có quyền trên các thần ô uế và quyền chữa lành các bệnh tật.

3. Liệt kê danh sách 12 tông đồ. Họ xuất thân từ nhiều nơi và nhiều thành phần khác nhau, đa số là nghèo, ít học và không có địa vị cao trong xã hội.

4. Những chỉ dẫn đầu tiên về cách cư xử: 1/ Đừng đến với dân ngoại nhưng chỉ đến với các chiên lạc nhà Israel; 2/ Nội dung rao giảng: Nước Trời đã đến gần”.

B…. nẩy mầm.

1. “Bấy giờ Người nói với các môn đệ rằng ‘Lúa chín đầy đồng, thợ gặt thì ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,37-38)

Thế giới hôm nay còn nhiều điểm tối, nhưng vẫn có những đốm sáng rực rỡ: khi con người ngồi gần lại nhau để giải quyết tranh chấp, tìm kiến hòa bình; khi cả thế giới lo chung một mối lo bảo vệ trái đất, ngăn chận sida, tận diệt ma tuý; khi có những người nghèo quan tâm đến những người nghèo hơn; khi trẻ thơ và người già được chăm sóc; khi những hàng rào ngăn cách các nước được tháo gỡ; khi không còn kỳ thị chủng tộc, tôn giáo, màu da; khi những tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho con người sống hạnh phúc; khi mọi người nhận ra mình là anh em của nhau, liên đới với nhau và chịu trách nhiệm về nhau, sống trên cùng một hành tinh, dưới mái nhà bầu trời.

Lạy Chúa, thế giới hôm nay còn cần rất nhiều người thiện tâm thiện chí để xây dựng một thế giới huynh đệ hơn. Xin cho có nhiều người trẻ can đảm dấn thân cho một thế giới mới. (Hosanna)

2. Chúa Giêsu không chọn những người tài cao học rộng giàu sang và có địa vị xã hội cao, mà chọn những người có tấm lòng và thiện chí. Hai điều này là đủ, mọi điều khác Chúa sẽ lo.

3. Một tác giả tưởng tượng việc Chúa chọn các tông đồ như sau: Sau những đêm dài cầu nguyện, Ngài rảo bước khắp nơi nhưng không chọn được người nào. Ngài đành đăng quảng cáo, nhưng trong số những người đến trình diện Ngài cũng không chọn được ai.

Ngài đành tổ chức thế vận hội. Môn đầu tiên là cầu nguyện: nhiều người biểu diễn cầu nguyện rất hay nhưng Chúa không chọn được ai cả. Môn thứ hai là thờ phượng, cũng thế. Môn thứ ba là giảng thuyết, cũng thế.

Chán nản vì mất giờ vô ích, Chúa Giêsu rời vận động trường thả bộ ra bờ biển hóng gió và ở đây Ngài thấy một đám dân chài. Ngài đứng quan sát và nhận ra có một số người để hết tâm hồn vào công việc. Ngài nghĩ thầm họ là những người có quả tim. Và thế là Ngài chọn họ làm tông đồ của Ngài (Chờ đợi Chúa)

4. Chúa cũng chọn Giuđa, cũng ban quyền cho Giuđa và cũng sai Giuđa đi rao giảng Tin Mừng. Nghĩa là Chúa cũng tin tưởng và đặt hy vọng nơi Giuđa. Nhưng Giuđa đã không đáp lại niềm tin tưởng và hy vọng của Chúa.

Chúa cũng tin tưởng và hy vọng nơi con. Xin cho con đừng phụ lòng Chúa.

5. Sứ mạng của người giảng Tin Mừng là đẩy lùi sự xấu (xua đuổi các thần ô uế) và cứu chữa những khổ đau (chữa lành những người bệnh).

Đó cũng là sứ mạng của tôi. Vậy tôi đã làm gì để giảm bớt sự xấu trong môi trường tôi đang làm việc? Tôi đã làm gì đề cứu chữa các anh em tôi?

6. 12 tông đồ còn rất non yếu nên Chúa Giêsu không sai họ đến với những đối tượng khó khăn (dân ngoại) mà chỉ đến với những người Israel. Chúa không giao sứ mạng quá sức con người đâu. Cho nên tôi đừng e ngại và sợ hãi gì cả.

7. “Chúa Giêsu gọi 12 môn đệ lại, ban cho các ông được quyền trước các thần ô uế, để các ông trừ khử chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10,1)

Vào thời Chúa Giêsu, người ta quan niệm người bị tật nguyền là người tội lỗi vì đã làm điều ô uế. Nhưng theo Chúa Giêsu, những người đó được sinh ra để làm sáng danh Chúa, và chính Ngài đã từng chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền. Ngài cũng đã cảm hoá được nhiều người tội lỗi trở về với Chúa Cha.

Ngày nay, sự ô uế hiện ở nhiều mặt: dối trá, tham lam, trộm cắp, ăn chơi sa đoạ…. Cánh cửa của sự ô uế vẫn luôn mở và tồn tại song song với cánh cửa Nước Trời. Chính vì thế, sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã ban cho các tông đồ đặc ân là trừ khử mọi ô uế và chữa lành mọi bệnh tật.

Đặc ân ấy ngày nay không chỉ dành riêng cho 12 tông đồ mà cho mọi tín hữu. Mỗi người kitô hữu phải nhận lấy nhiệm vụ trừ khử ô uế nơi chính mình và giúp anh em thoát khỏi mọi điều ô uế.

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho các tông đồ quyền trừ khử mọi ô uế nhằm làm sáng danh Chúa, thì xin Chúa cũng ban cho chúng con thêm sức mạnh để trừ khử ô uế nơi chính mình, sống tốt hơn và yêu mến Chúa luôn. (Hosanna).

18.Chúa Nhật 11 Thường Niên

(Suy niệm của Lm. Augustine, SJ.)

Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng

Chúa Giêsu đã về trời từ hơn 2000 năm nay, nhưng mệnh lệnh truyền giáo của Người hãy còn rất cấp bách. Theo thông kê trong cuốn Niên Giám 1999 của Toà Thánh, được đệ trình lên Ðức Thánh Cha ngày 20.2.1999, tổng số người Công giáo trên thế giới tính đến ngày 31.12.1997, là 1 tỉ rưỡi người. Tuy nhiên, con số xem ra đông đảo ấy chỉ chiếm 17,3% dân số hoàn cầu. Các lục địa có số người Công giáo đông nhất là Mỹ Châu (62,9%), rồi đến Âu Châu (41,1%) và Úc Châu (27,5%). Riêng Phi Châu chỉ có 14,9% và Á Châu: 3%! (Theo CGDT số 1197)

Tại Việt Nam, theo con số thống kê của các giáo phận vào năm 1995, trên toàn quốc có 4,646,575 người Công giáo số với tổng số dân của cả nước hơn 70 triệu người, tức chỉ chiếm dưới 7%. (Theo cuốn Công Giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm: 1945-1995, do CGDT xuất bản năm 1996, trang 509). Như vậy, nếu không tính con số anh chị em Tin Lành trong nước, thì cứ 100 người sống trên mảnh đất Việt Nam, có tới 93 người chưa tin Chúa! Một tỉ lệ khiến chúng ta phải suy nghĩ!

Câu chuyện “Xóm Chùa”

Cộng đoàn nhỏ bé gồm 3 người của Thầy Sáu Sơn vừa mua một căn nhà ở Xóm Chùa. Người dân trong khu vực gọi tên xóm ấy như thế vì xóm ở gần một ngôi Chùa; vả lại hầu hết bà con trong xóm đều là Phật giáo. Ðến sống ở Xóm Chùa, Thầy Sơn học biết thêm nhiều điều về những người láng giềng “bên lương” của Thầy.

Ðiều làm Thầy Sơn ngại ngùng nhất khi mới tiếp xúc với bà con trong xóm, là sự kính trọng đôi lúc thái quá mà họ dành cho Thầy. Về sau Thầy hiểu ra rằng truyền thống Á Ðông ta vốn trọng khổ hạnh và thoát tục, vì vậy cũng dễ hiểu tại sao bà con kính trọng các bậc tu hành, dù các vị thuộc tôn giáo nào. Cũng qua việc chung sống với bà con, Thầy nhận ra họ là những người hiền hoà, trọng nhân nghĩa. Qui tắc luân lý của họ là phải ăn ngay ở lành, phải có lòng NHÂN và tôn trọng sự sống, không chỉ nơi con người mà còn cả nơi các thụ tạo khác: “Thiên địa đại đức viết sinh” – nhân đức cao cả nhất trong trời đất là sự sống.

Với một lương tâm bình an, thanh thản khi sống theo triết lý hoà hợp đó, những người láng giềng của Thầy Sơn dường như không cảm thấy cần thiết phải đi tầm đạo ở đâu khác. Họ cũng chẳng bận tâm tìm hiểu xem đạo giáo của Thầy có gì đặc sắc, mặc dầu họ vẫn một mực kính trọng Thầy và thỉnh thoảng còn mang xôi chè biếu Thầy vào những dịp rằm lớn.

Thách đố

Câu chuyện Xóm Chùa trên đây phản ánh một thách đố chung cho công cuộc truyền giảng Tin Mừng ở Á Châu, một lục địa đã ăn sâu cắm chặt vào những truyền thống nhân bản và tâm linh tự ngàn đời của nó, đến độ sau 4 thế kỷ chinh phục, Kitô giáo chỉ chinh chiếm lĩnh được tâm hồn của 3% dân số châu lục này. Trong những năm gần đây, hầu chuẩn bị cho Giáo Hội bước vào Ngàn Năm Thứ Ba, Ðức Gioan Phaolô II đã triệu tập các Thượng Hội Ðồng Giám Mục của từng châu lục, để duyệt lại các công việc và cách thức truyền giảng Tin Mừng trên các châu lục ấy. Tại kỳ họp của THÐGM Châu Á đầu năm 1998, các Giám Mục Á Châu đã cố phân tích những nguyên nhân khiến việc Tin Mừng hóa ở lục địa này chậm phát triển. Một trong những lý do chính yếu được nêu lên là Giáo Hội trong quá khứ đã quá chậm trễ trong việc mở ra và đối thoại với các truyền thống văn hóa và thiêng liêng lâu đời của Á Châu, để tìm ra nơi đó những phương thế thích hợp cho việc truyền đạt những giá trị của niềm tin Kitô giáo.

Vì vậy, tại Việt Nam chẳng hạn, trong suốt nhiều thế kỷ, người Công giáo Việt Nam hầu như đã sống bên lề văn hoá của quê hương mình, bởi lẽ khi chịu phép rửa tội, họ không còn được phép giữ phần lớn những tập tục của truyền thống mà Giáo Hội thời đó cho là không phù hợp với đức tin Công giáo (như thờ kính tổ tiên, ma chay, tục lệ ngày tết…). Hơn thế, những giáo dân đó còn bị coi là “tây hoá” từ việc xây cất nhà thờ, nghi thức phụng vụ, cho đến cả cách sống và nếp suy nghĩ.

Một cơ hội bị bỏ lỡ

Nói như thế không có nghĩa là, trong quá khứ, Giáo hội không có nhưng mẫu gương hội nhập vào văn hóa bản xứ một cách đặc sắc hầu giúp đẩy mạnh việc Truyền giáo. Xin đơn cử ở đây trường hợp Cha Ðắc Lộ (Alexandre de Rhodes – Thế kỷ XVII), người đã có công đưa đức tin công giáo vào hoà hợp với những giá trị văn hoá Việt Nam. Chẳng hạn cha biên soạn chữ quốc ngữ để quảng bá đức tin dễ dàng hơn. Vì biết người dân Việt ưa chuộng chèo, hát, cha đã cho sáng tác những bài vè, bài thơ về Phúc Âm, về giáo lý, tổ chức ngắm đứng trong Mùa Thương Khó và cho Dâng Hoa tôn kính Ðức Mẹ. Ngoài ra, vì nhận thấy người Việt rất trọng luân thường đạo lý, cha đã khởi sự cuốn giáo lý “Phép Giảng Tám Ngày” bằng việc dạy Mười Ðiều Răn, về đời sau; sau đó mới đề cập đến các mầu nhiệm về Thiên Chúa. Cũng vậy, ý thức rằng dân quê Việt Nam rất mê tín, đâu đâu cũng thấy thần thánh, lại thích những gì cụ thể để diễn tả các tâm tình tôn giáo, cha đã phổ biến rộng rãi việc dùng nước phép, nến phép, các ảnh tượng thánh và tổ chức những lễ nghi linh đình. Cuối cùng, cha Ðắc Lộ yêu mến và đề cao những gì là Việt Nam; cha chủ trương hết sức giữ nguyên những tập tục gia đình, xã hội, văn hoá nghệ thuật của địa phương, chỉ trừ những gì thật sự mê tín và trái với Tin Mừng. Ngài cũng tin tưởng ở lòng đạo của người bản xứ, đến mức đã xin Toà Thánh đặt các Giám Mục người Việt để cai quản Giáo Hội bản xứ trong thời buổi cấm đạo mà các thừa sai ngoại quốc khó xuất đầu lộ diện.

Ðáng tiếc là những sáng kiến hội nhập văn hoá của cha Ðắc Lộ đã không được đón nhận kịp thời. Vì thế Giáo Hội đã để lỡ cơ hội đưa đức tin Kitô giáo ăn sâu bén rễ vào các nền văn hoá lớn ở Á Châu như Ấn Ðộ, Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam. Ngày nay, với công cuộc canh tân của Công Ðồng Vaticanô II (1962-1965), người Công giáo Việt Nam (cũng như người Công giáo ở khắp nơi) đã được phép cử hành các nghi thức phụng vụ bằng tiếng mẹ đẻ của mình; đồng thời họ được khuyến khích hội nhập các giá trị truyền thống của văn hoá bản xứ vào việc truyền giảng đức tin. Tuy nhiên, công cuộc trở về với truyền thống sau nhiều thế kỷ bị phân cách không phải là con đường phẳng phiu, như lời nhận xét sau đây của Ðức Cha Nguyễn Như Thể tại THÐGM Á Châu: “Ngày nay, Toà Thánh đã cho phép thờ cúng tổ tiên, nhưng muộn mất rồi, vì người Công Giáo không quen nữa nên khó chấp nhận.”

Truyền giáo khởi đi từ việc sống Ðức Ái

Vượt trên mọi hình thức hội nhập văn hoá, có một đòi hỏi hội nhập nền tảng hơn hết: đó là HỘI NHẬP TÌNH YÊU, hội nhập của “văn hoá đức ái”. Thật vậy, trong chỉ thị liên quan đến Truyền Giáo ở cuối bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu dã sai các đồ đệ của Người đi để loan báo Tin Mừng, đồng thời để chữa lành mọi tật bệnh của người khác (c.10,8). Như thế, loan báo Phúc Âm và thăng tiến đời sống những người nghèo khổ, bị bỏ rơi đều là những đòi hỏi cấp bách của Ðức Ái. Hơn nữa, một chứng từ tình yêu siêu việt sẽ có sức mạnh thuyết phục hơn bất cứ một lời giảng thuyết hùng biện suông nào. Chính Mẹ Têrêsa Can-cút-ta, chẳng hạn, đã chọn cách thức “nói” về Thiên Chúa (tức Truyền Giáo) khởi đi từ việc sống Ðức Ái.

Quả thật, Mẹ Têrêsa đã theo sát gót bước Chúa Giêsu khi mẹ “chạnh lòng thương” trước những người nghèo khổ, bệnh tật, hấp hối, không được ai chăm sóc trên các vỉa hè của thành phố Can-cút-ta. Chắc hẳn tâm hồn Mẹ đã bị dằn vặt nhiều trước những con người không có cơ hội sống và chết xứng đáng với nhân phẩm là con cái Thiên Chúa. Cuối cùng, Mẹ đã đặt mình để được Chúa sai đi chăm sóc những con chiên không có người chăn đó, không phải bằng lời nói, nhưng trước hết và trên hết bằng những cử chỉ bác ái siêu vượt.

Chắc hẳn không phải mọi Kitô hữu đều có thể trở nên những Thừa Sai Bác Ái như Mẹ Têrêsa; nhưng tất cả những ai đã chịu phép rửa để thuộc về Chúa Kitô, cũng đều phải thực thi Lời Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúa dạy ta trước tiên, phải cầu xin cùng Thiên Chúa, để chính Người sai ta đi. Một khi kiên trì cầu xin điều ấy, chính Chúa sẽ giúp ta mở cõi lòng hầu có thể yêu tha nhân như chính mình. Nhờ đó ta có thể dễ dàng nói về Chúa cho mọi người hơn.

Ta cũng không quên cầu nguyện cho những người đang âm thầm làm chứng tá cho Chúa trên quê hương Việt Nam (như Thầy Sáu Sơn và cộng đoàn của Thầy), để nhờ việc gắn liền với Chúa Giêsu là thân nho, công việc của các vị đó cũng mang lại nhiều hoa trái cho đất nước Việt Nam, như Mẹ Têrêsa đã mang lại biết bao thành quả cho cánh đồng truyền giáo trên thế giới.

Một số câu hỏi gợi ý

1. Có bao giờ bạn nghĩ rằng một số người đã dửng dưng với đạo Công giáo và không màng tìm biết về Chúa vì họ có một số thành kiến, hay một số hiểu lầm về Ðạo và về những người có Ðạo không? Liệu có cách nào giúp họ vượt qua những trở ngại đó?

2. Theo bạn, cách thức “Truyền Giáo khởi đi từ việc sống Ðức Ái” như Mẹ Têrêsa sẽ hữu hiệu như thế nào với môi trường bạn sống?

3. Bạn có thể góp phần vào công cuộc truyền giáo như thế nào qua cầu nguyện, qua việc làm cụ thể, qua giáo dục ý thức truyền giáo cho con cái?

19.Sứ giả của Tin mừng

Khi nói đến vấn đề truyền giáo, có lẽ theo thói quen, tôi và quý ông bà anh chị em thường nghĩ ngay đến các nhà thừa sai đang làm việc tại các nơi hẻo lánh, xa xôi. Cùng với suy nghĩ đó, một cách mặc nhiên, chúng ta coi công việc này là của các Linh mục, tu sĩ hay một số người nào đó, chẳng liên quan gì đến chúng ta. Thế nhưng, ngay từ đầu lịch sử của Giáo Hội thì không phải như thế, sách Công vụ Tông đồ thuật lại: “Còn những người bị phân tán, thì đi qua đâu, họ đã giảng Lời Tin mừng ở đó” (Cv 8, 4). Như thế, tất cả các kitô hữu đầu tiên đã thực hiện việc loan báo Tin mừng, hay nói một cách khác, họ là sứ giả của Tin mừng cho tất cả những ai họ gặp gỡ, nhất là những người chưa tin. Nếu truyền giáo là như thế, thì ngay tại địa bàn của chúng ta đang rất cần thực hiện công việc loan báo Tin mừng này.

Theo cuốn Niên Giám 2004 của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam thì số tín hữu Công Giáo năm 2003 trên toàn quốc là 5.572.525 người trên tổng số dân Việt Nam là 80.175.578, chiếm tỉ lệ khoảng 6,95%. Một tỉ lệ thật khiêm tốn. Như thế, còn rất nhiều người đang sống quanh ta chưa biết đến Tin mừng tình yêu của Nước Thiên Chúa và, tôi thiết nghĩ, nếu Chúa Giêsu sống ở thời đại chúng ta, chắc hẳn Ngài cũng “động lòng thương xót họ; vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn” (Mt 9, 36). Và rồi, Ngài cũng sẽ sai chúng ta lên đường như đã sai các môn đệ khi xưa.

Bài Tin mừng hôm nay, cho chúng ta thấy lòng thương xót của Đức Giêsu đối với đám đông dân Do thái theo Chúa khi xưa. Họ đang khao khát nghe lời Chúa dạy. Họ mong ước được Chúa giải thoát cho họ khỏi gánh nặng của lề luật mà các Luật sĩ, kinh sư chất trên vai họ. Đứng trước tình cảnh đó, Chúa đã chọn gọi các tông đồ và sai các ông cùng cộng tác với Ngài trong việc loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa. Chắc hẳn chúng ta còn nhớ lệnh truyền cuối cùng của Đấng Phục Sinh trước khi Ngài về Trời: “Các ngươi hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân … dạy chúng giữ hết mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi” (Mt 28, 19). “Cũng như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các ngươi” (Ga 20, 21).

Khi được rửa tội, chúng ta cũng được tuyển chọn làm môn đồ của Chúa, nhưng để thực sự là môn đồ của Chúa, chúng ta cần phải nghe và tuân giữ lời của Ngài như lời cảnh báo của Chúa trong bài sách Đệ Nhị Luật “nếu các ngươi nghe lời Ta và giữ giao ước Ta, thì các ngươi sẽ là sở hữu của Ta được tách biệt khỏi mọi dân,… Đối với Ta, các ngươi sẽ là một vương quốc tư tế, một dân tộc hiến thánh” (Đnl 19, 5-6). Và nếu là môn đồ của Ngài, tôi và quý vị cũng được Ngài chia sẻ sứ mạng và sai chúng ta đi làm sứ giả loan báo Tin mừng cứu độ của Ngài.

Như thế, sứ mạng loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa không phải là một việc làm tuỳ ý hay theo sở thích của chúng ta, nhưng là một sứ mạng của tất cả những ai mang danh là kitô hữu vì chúng ta đã nhận được ân huệ nhưng không của Thiên Chúa, chúng ta cũng có bổn phận phải cho nhưng không (x. Mt 10, 8). Thế nhưng, chúng ta phải loan báo Tin mừng nào cho anh em chúng ta?

20.Thời giờ cấp bách

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Để hiểu đoạn Phúc Âm này, chúng ta hãy phân tích làm 3 phần. Trước hết Chúa Giêsu cho các môn đệ Ngài cảm nhận rằng những người được Thiên Chúa thương xót, giống như một mùa gặt bao la, nhưng thợ gặt lại thiếu, sau đó Ngài lại sai các môn đệ đi làm mùa gặt ấy. Cuối cùng Ngài dạy cho các ông biết phải làm gì. Chúng ta xét phần thứ nhất:

1) Lúa chín đầy đồng, nhưng thợ gặt thì ít… Theo thói quen, Chúa Giêsu dùng một hình ảnh thông thường để giảng dạy một giáo lý cao siêu. Mùa màng tốt đẹp là một ơn lành quý giá đối với người Do Thái và để mất một vài mầm hạt cũng được gọi là thiệt hại đáng tiếc. Vì vậy lúc đó cần có nhiều nhân công để thu hoạch mọi bó lúa cho đúng thời: Nhân loại giống như mùa gặt ấy và các nhân công tinh thần có bổn phận tập hợp người ta và Vương quốc thì ít. Do đó cần phải xin Chủ mùa, cha nhân loại, sai các nhân công cần thiết là các Tông đồ đến với nhân loại ấy.

2) Vậy hãy cầu xin Chủ mùa sai thợ đến gặt đồng lúa của Ngài. Tại sao Chúa Cha không tự mình sai nhân công đi? Có lẽ vì hai lý do: trước hết vì Chúa đã quyết định rằng ơn cứu độ phải chuyển qua trách nhiệm của con người, nghĩa là thông qua dân Do Thái trước kia, thông qua Giáo Hội ngày nay. Giáo Hội chịu trách nhiệm về ơn cứu độ, ý thức tầm mức bao la của công việc, nên cầu xin Thiên Chúa cho có nhiều thợ loan truyền sự Cứu chuộc. Ở đây chúng ta gặp mầu nhiệm của lời kinh cầu bầu. Giáo Hội liên kết với Chúa Giêsu để xin Chúa Cha ban ơn cứu độ cho mọi người. Lý do thứ hai, Chúa Cha muốn cho lời kinh của chúng ta tạo được một kết quả mà chúng ta ít khi nghĩ đến. Lời kinh giúp ý thức mạnh mẽ hơn tầm quan trọng của điều khẩn cầu và chuẩn bị chúng ta thực hiện điều ấy. Khi cầu xin Chúa Cha, sai các môn đệ đến thế gian, chúng ta hiểu được việc ấy hết sức quan trọng và chúng ta mở lòng ra để biết rằng, chính chúng ta phải làm Tông đồ. Như thế người ta càng cầu xin, và càng là Tông đồ càng cảm thấy cần cầu xin.

3) Phải mau lẹ thu mùa màng về, thời giờ thúc bách. Trong Kinh Thánh có nhắc đến bằng nhiều cách bổn phận phải biết dùng thời giờ để hoàn thành công việc của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nhắc nhở Nước Thiên Chúa gần kề. Phải xin Chủ mùa sai thợ đến không những vì mùa màng đầy tràn, nhưng vì thời giờ cấp bách, hạn kỳ ngắn ngủi. Các vị Tông đồ chân chính buộc lòng khi thấy trong Giáo Hội số thời giờ bỏ phí để bàn luận mọi thứ vấn đề ít hay nhiều giả tạo, trong khi nhân loại là một mùa gặt đang sắp hư hại. Một lần nữa lại thấy nhu cầu phải cầu nguyện cho thấy các khẩn cấp chân chính. Chúng ta không xét đoán giá trị thực của một vài tìm kiếm và thí nghiệm mục vụ, những cần tự hỏi chúng ta có lo cầu xin Chúa Cha sai những Tông đồ đến thế giới chúng ta không? Lời cầu nguyện có biến đổi chính chúng ta đến nên những Tông đồ ý thức rằng thời giờ thúc bách hay không?

21.Hãy giúp đỡ người túng thiếu.

Đã có bao giờ bạn nghe nói về một gia đình có sáu linh mục và năm nữ tu chưa? Đức hồng y Hebert Vaughan, Tổng Giám Mục Westminste, nước Anh, đã xuất thân từ một gia đình như vậy. Gần 20 năm, thân mẫu Ngài quì cầu nguyện trước Thánh Thể một giờ mỗi ngày để xin Chúa cho các con bà trở thành linh mục.

Khi Đức Hồng Y tương lai ở tuổi 21, Ngài đã mô tả đời sống Chúa của thân mẫu Ngài: “Trong ngày, mẹ tôi thường ở trước Thánh Thể. Trước bữa điểm tâm… mặt người tươi tắn và bình thản… trong những ngày này tôi quá cảm ích về tình yêu nồng hiệt và lòng sùng kính của mẹ tôi đối với bí tích Thánh Thể”.

Và Thiên Chúa đã đáp lại lời cầu xin của người mẹ phi thường này thế nào? Tất cả năm cô con gái của bà đã trở thành nữ tu – và 6 trong số tám người con trai của bà đã trở thành linh mục. Ba trong sáu linh mục ấy trở thành giám mục, và một trong ba Giám mục ấy được tấn phong hồng y.

Chúng ta phải nhận đây là câu chuyện hiếm có nhưng nó nhắc nhở như Chúa Giêsu nói với chúng ta trong Tin Mừng hôm nay: “Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”.

Câu chuyện đó nhắc nhở như chúng ta thấy ngày nay rất cần nhiều linh mục, và những tôi tớ đặc biệt khác của Thiên Chúa, tất cả chúng ta đều biết sự cần đến nhiều người được huấn luyện và được truyền chức để mang Thiên Chúa đến cho con người, và con người cho Thiên Chúa. Chúng ta có thể làm gì để tăng triển số người dâng hiến đời sống cho việc đem Chúa Kitô đến cho thế giới?

Nhiều phương thế cổ võ ơn kêu gọi mở ra cho chúng ta. Tiếng gọi phụng sự Thiên Chúa vang vọng rõ ràng trong thán phục. Sự can đảm của học sinh mới tới và của Tom Brown đã làm cho những người bạn cùng phòng và cả trường thán phục.

Đó là một mẫu gương mà Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay. Ba lần Chúa bảo các tông đồ, cả bạn và tôi nữa: “Đừng sợ !” Ngài không nói sợ chung chung vậy. Ngài nói về một loại sợ đặc biệt mà người Kitô hữu cảm thấy khi được mời gọi nói hay làm điều gì tỏ ra là người tin theo Chúa Kitô.

Chúng ta thường do dự nói những lời giống Chúa Kitô, làm như Chúa Kitô, vì chúng ta sợ người khác chê cười châm chọc, sợ bị gọi là người lên mặt đạo đức, hay một vị thánh, sợ bị ngược đãi như chiếc giày liệng vào đầu.

Chúa Giêsu đã không nói là không có lý do sợ hãi. Ngài biết rõ một số người chế nhạo những kẻ theo Ngài, có nguy hiểm mất bạn bè, mất việc làm, mất thăng chức, có hàng triệu người theo Ngài đành chịu chết còn hơn là chối bỏ niềm tin vào Ngài.

Có những lúc chúng ta có thể tỏ ra mình là người tin theo Chúa Kitô. Như Tom Brown, chúng ta có thể sợ đọc kinh cầu nguyện, sợ bị vỡ dầu hay sợ làm dấu thánh giá khi đi ngang qua nhà thờ, sợ đổi đề tài khi có người kể những chuyện tầm phào, thô tục, sợ từ chối đồ uống say sưa. Khi bạn bè đưa ra những khêu gợi ô uế, bạn có sợ mất tình bằng hữu vì phải khước từ không? Khi Giáo hội Chúa Kitô bị tra tấn một cách bất công, khi Giáo hội của Chúa Kitô bị nhạo cười ở lớp học, trong văn phòng, nơi công xưởng, bạn nhớ “Đừng sợ”, nhưng bênh vực đức tin không? Bạn có thể nghĩ đến nhiều hoàn cảnh khác trong đời sống mà bạn cần phải nhớ lời Chúa Kitô: “Đừng sợ”.

Bạn hãy xem xét điều này cho xác thực. Chúa Kitô hứa với chúng ta hôm nay: “Ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng người ấy trước mặt Cha Thầy là Đấng ngự trên trời”. Hay nói cách khác: bạn chối Chúa Kitô thì Ngài cũng chối bạn.

Sư hiện diện của bạn trong Thánh Lễ này là bằng chứng bạn không sợ công khai tuyên xưng Chúa Kitô. Ước mong thánh lễ này ban cho chúng ta sức mạnh tuyên xưng Chúa Kitô luôn mãi.

Xin Chúa chúc lành cho các bạn.

22.Thiên Chúa luôn gần bên chúng ta

(Suy niệm của Charles E. Miller, C.M. – Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’)

Đôi khi Thiên Chúa có vẻ như ở rất xa. Chúng ta không nhìn thấy Người và chúng ta không nghe tiếng của Người. Sau hết, chúng ta có thể suy nghĩ rằng, Người phải rất bận rộn từ khi Người sáng tạo nên vũ trụ này và Người có trách nhiệm chăm sóc chúng. Có thể nào Người đặc biệt quan tâm đến tinh cầu nhỏ xíu mà chúng ta gọi là trái đất trong vũ trụ mà Người đã sáng tạo này không? Tại sao Người lại có vẻ quan tâm đến những con người nghèo nàn và tội lỗi, trong khi Người có vô số các thiên thần đáng kính chầu chực trươc ngai của Người trên thiên đàng để ca ngợi Người suốt đêm ngày?

Có thể chúng ta không hiện diện đơn độc trong vũ trụ này đâu. Có thể có những thái dương hệ khác với một mặt trời và nhiều hành tinh khác còn huy hoàng rực rỡ hơn cả hành tinh của chúng ta nữa. Có lẽ có nhiều hành tinh khác cũng đông đúc các tạo vật mà nhiều khi họ còn siêu việt hơn cả chúng ta và luôn luôn trung thành với Thiên Chúa nữa. Còn nhiều vấn đề khác mà chúng ta còn chưa biết. Nhưng những gì chúng ta biết thì cũng đủ cho chúng ta lắm rồi. Chúng ta ý thức được chân lý không thể hiểu thấu là tại sao Con Thiên Chúa đã đến nơi thế gian này, không đơn giản chỉ sống ở đây mà thôi, nhưng Người còn chịu đau khổ vì chúng ta, đau khổ cho đến chết và chết vì chúng ta là một nhân loại tội lỗi.

Ngày hôm nay thánh Matthêu đã vẽ lại bức tranh Chúa Giêsu mạc khải sự thương xót của Người. Thánh nhân viết: “Nhìn đám đông dân chúng, Chúa Giêsu động lòng thương xót họ”. Chúa Giêsu xúc động bởi vì “thấy họ bơ vơ mệt mỏi vì kiệt sức giống như đàn chiên không có người chăn”. Đây là điều diễn tả một trái tim nhân loại được đầy tràn tình yêu thần linh.

Chúa Giêsu là Chúa Chiên Lành, Người thí mạng sống vì con chiên. Thánh Phaolô đã kinh ngạc khi ngài suy niệm về cái chết của Chúa Giêsu để cứu độ chúng ta. Ngài diễn tả sự ngạc nhiên của mình trong lá thư gởi tín hữu Roma: “Hiếm khi thấy ai hiến mạng sống mình vì người công chính dù rằng có thể có người tốt dám can đảm để chết. Chính vì điều này mà Thiên Chúa đã chứng mình tình yêu của Người dành cho chúng ta, đó là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta”. Cái chết của Chúa Giêsu là trung tâm cho sự hiểu biết và cảm kích của chúng ta về sự chăm sóc yêu thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta khi chúng ta cử hành việc đó trong mỗi hy tế Thánh Thể. Chúng ta được mời gọi để kêu lên rằng: “Khi chúng tôi ăn bánh và uống chén này, chúng tôi tuyên xưng sự chết của Chúa Giêsu Kitô cho tới khi Chúa lại đến trong vinh quang”.

Cái chết cứu độ của Chúa Giêsu đã trở thành một thực tại cho chúng ta nhờ việc chúng ta cử hành hy tế Thánh Thể chứ không hề là một việc xa cách hay lạnh lùng. Chúa Giêsu đã không chết cho chúng ta nếu như chúng ta là một đàn chiên vô danh. Người biết rất rõ mỗi người chúng ta. Người gọi tên từng người trong chúng ta khi chúng ta chịu phép rửa tội như Người đã gọi tên mười hai người để trở nên tông đồ của Người. Đó là lý do vì sao chúng ta phải bước vào Thánh Lễ cách hiểu biết, sống động và sinh hoa kết quả bằng hành động (xem Hiến chế về phụng vụ, số 11).

Chúng ta không biết những gì đã xảy ra trong vũ trụ nhưng chúng ta biết Con Thiên Chúa đã đến trong thế gian này và đã chết để cứu độ chúng ta. Chúng ta không biết những gì đang xảy ra trong giây phút này trong những ngân hà xa xăm khác, nhưng chúng ta biết rằng cái chết và sự Phục Sinh của Chúa Giêsu trên bàn thờ đã trở nên một thực tại cho chúng ta thông dự vào. Không bao giờ chúng ta nghĩ rằng Thiên Chúa của chúng ta ở xa xôi lắm. Ngay cả khi chúng ta không nhìn thấy hoặc nghe tiếng Người, chúng ta vẫn cảm nghiệm được tình yêu thần linh của Người trong việc cử hành hy tế Thánh Thể là tái diễn cái chết và sự Phục Sinh của Con Thiên Chúa.

23.Suy niệm của Lm. VIKINI

THƯƠNG DÂN CHÚNG LẦM THAN

Sau khi đi rao giảng Tin mừng khắp các thành thị, làng mạc, hội đường và chữa lành mọi bệnh hoạn, tật nguyền, Đức Giêsu đã chứng kiến tận mắt cảnh dân chúng lầm than, vất vưởng như bầy chiên không người chăn.

Thời Chúa Giêsu, dân Do thái sống trong cảnh không có lãnh đạo chân chính về tôn giáo cũng như về chính quyền. Chính quyền thuộc về đế quốc Rôma cai trị. Họ vô cùng đau đớn và nhục nhã phải thờ hai chủ: Chủ đế quốc và tay sai của đế quốc là bè phái Hêrôđê và Sađốc.

Phái Hêrôđê gồm tất cả con cháu, họ hàng vua Hêrôđê đại đế (37-11 av. Jc) người xứ Dumê phía nam Do thái.

Sađốc thuộc dòng dõi thượng tế Sađốc từ thời vua Salômon truyền lại. Họ là hàng quý tộc, thượng tế với tư tế. Họ độc quyền thu hoa lợi của Đền thờ Giêrusalem và liên kết với đế quốc để thống trị, bóc lột dân. Tuy họ giữ luật Môisê (Torah) nhưng lại sống phóng khoáng giao du với dân ngoại, nhiễm tinh thần văn hoá thần tượng Hy Lạp và Rôma.

Trái lại, biệt phái (Pharisiêu) hoàn toàn biệt lập, bài ngoại và bài đế quốc. Họ giữ luật cổ truyền, nhất là những tập tục của tiền nhân.

Họ coi tập tục tiền nhân hơn luật Môisen. Họ cắt nghĩa luật truyền khẩu rất tỉ mỉ và bắt dân giữ rất khắt khe. Họ tự coi mình là những tiến sĩ luật, những ký lục bảo tồn lề luật của tiền nhân. Họ cho đó là cách bảo vệ tôn giáo và đất nước tốt nhất. Thực sự họ đã chồng chất lên dân chúng những gánh nặng gông cùm dưới danh nghĩa tôn giáo. Họ đã biến tôn giáo thành thứ quốc giáo cuồng tín, hẹp hòi, kích động lòng ái quốc mù quáng.

Sống giữa cảnh lãnh đạo mù quáng và mâu thuẫn, chống đối, thù hận nhau của phái Sađốc và biệt phái. Dân chúng thật bơ vơ, lạc hướng. Có lần Chúa Giêsu đã cảnh cáo họ: “mù dắt mù xuống hố”, “các ông thật lầm lạc”.

Dân ngoại và dân Samari không bị những hệ phái tôn giáo xâu xé tinh thần như dân Israel, có lẽ đây là lý do chính cho ta hiểu tại sao Đức Giêsu dậy các tông đồ đi đến nhà Israel. Phải cứu Israel trước, vì họ cực khổ hơn các dân khác, cũng như phải cứu chữa những con chiên lạc, những người Israel đau yếu, tật nguyền, quỷ ám trước những người Israel khác.

Để thực hiện chương trình cứu chiên lạc, Đức Giêsu căn dặn các tông đồ ít nhất là hai điều cần thiết: thứ nhất là phải biết chạnh lòng thương những người lầm than. Thầy chạnh lòng thương họ thế nào, môn đệ cũng phải thương họ như vậy.

Thương dân không được đàn áp bóc lột như phái Hêrôđê. Họ dùng quyền sai lính bắt dân làm đầy tớ cho họ sống vinh thân phì gia: “một người làm quan cả họ được nhờ”. Đáng lý ra, ở địa vị chính quyền, họ phải lo sống chân chính chăm lo hướng dẫn, giúp dân sống sung túc văn minh tiến bộ mọi mặt tích cực. Người xưa như Aristote và Khổng tử đã khuyên chính quyền phải là người hiền đức biết mưu hạnh phúc tốt nhất cho nhân dân: “quý dân như con đỏ”, tôn trọng dân hơn việc làng xã “dân vi quý, xã tắc thứ chi”. Cụ thể hơn, sách Xuất Hành đã nêu gương Môisê là người lãnh đạo dân phục vụ dân hết lòng, hết cuộc đời như Thiên Chúa muốn: “Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai cập thế nào và đã mang các ngươi như trên cánh phượng hoàng mà đem đến với Ta. Ta coi các ngươi như tư tế, như dân thánh” (Bài I).

Thương dân, tránh thái độ thờ ơ lãnh đạm của phái Sađốc. Họ chỉ lo bảo vệ địa vị, quyền lợi họ, họ tìm lợi lộc cá nhân đến nỗi họ “biến nhà Cha Ta thành chợ búa, thành hang trộm cướp”, Dân nghèo đói, khổ sở, sống chết mặc bay. Thương dân, môn đệ phải theo gương Thầy lăn lộn với dân chúng nghèo khổ bệnh tật, nhất là những chiên lạc bị quỷ dữ hãm hại trong sự ác tội lỗi, đem Tin mừng nước Trời đến cứu chữa họ.

Thương dân, không chất trên vai dân những gánh nặng tập tục của loài người như những Biệt Phái giả hình bên ngoài. Nhưng môn đệ sẵn sàng vác gánh nặng, để gánh nặng của người dân trở nên êm ái và nhẹ nhàng, nhất là những gánh nặng tội lỗi. Ước chi môn đệ thí mạng sống chết vì dân, chết thay cho kẻ tội lỗi để chứng tỏ Thiên Chúa yêu thương họ, Thiên Chúa giao hảo với họ, cứu sống họ muôn đời (Bài II – Rm. 5, 6-11).

24.Thiếu Tông Đồ

(Suy niệm của Lm. Minh Vận, CRM.)

Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Thánh Sử Mathêu tỏ cho chúng ta thấy lòng yêu thương tha thiết của Chúa dành cho Dân Riêng Người và cho toàn thể nhân loại. Ngài viết: “Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ dân chúng, liền động lòng thương họ; vì họ tất tưởi bơ vơ, như những con chiên không có người chăn dẫn”. Do đó, Người phán với các môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa” (xem Mt 9:36-38).

I. THIẾU TÔNG ĐỒ TRUYỀN GIÁO

Với cái nhìn khách quan, có lẽ không ai lại không thấy nhu cầu cần thiết phải có nhiều thợ gặt của Tin Mừng, nhiều vị tông đồ truyền giáo.

Trước thực trạng của thế giới hôm nay, đôi khi phải kể là bi đát, vì Giáo Hội có nhiều kẻ thù, kẻ thù hữu hình cũng như vô hình. Satan lợi dụng mọi mưu mô xảo quyệt để khuynh đảo niềm tin, ru ngủ lòng người. Hắn huy động nhiều cán bộ làm tay sai, lợi dụng ngay cả con cái trong Giáo Hội để bày ra nhiều đòn tâm lý, nhiều triết thuyết lầm lạc để đả phá Giáo Hội, chống đối Thiên Chúa. Hắn lợi dụng những kẻ nắm quyền bính trong dân để chấp nhận, để ban hành những đạo luật vô luân, thừa nhận và khuyến khích tội ác, khiến cho thế giới này dần dần trở nên nhơ nhớp, trên cơn nghĩa nộ Thiên Chúa… Thế mà, nhiều người vốn giả điếc làm ngơ, không thiết tha gì đến sự hưng thịnh của Giáo Hội và thế giới.

Lại có những người tỏ ra mình biết quan tâm đến nhu cầu cần thiết của Giáo Hội khi phát biểu cách trái mùa: Vì nạn thiếu Tông Đồ, nên tại sao Giáo Hội cứ khư khư giữ cái truyễn thống lỗi thời, không cho những người có gia đình hay phụ nữ làm Linh Mục. Những thứ người đó tỏ ra thiết tha đến Giáo Hội, nhưng thực sự lại là những kẻ chống đối Giáo Hội, vì họ đã phản lại Đấng Đại Diện tối cao của Chúa và các giáo huấn cũng như tinh thần của Giáo Hội.

Như chúng ta được biết: Ngay trong nội bộ của Giáo Hội tại Âu Châu, phát hiện một tuyên ngôn của 165 nhà thần học nói tiếng Đức, 63 nhà thần học và trí thức người Ý, 130 nhà thần học nói tiếng Pháp lên tiếng phản đối Tòa Thánh Vatican về cái mà người ta chụp mũ cho là “Trung ương tập quyền” hoặc “Khuynh hướng bảo thủ”. Đó thực là một nguy cơ đang đe dọa tình hiệp nhất của Cộng Đồng Kitô Giáo ngay từ trong lòng Giáo Hội, ấy là chưa kể đến các kẻ thù bên ngoài luôn bày ra nhiều mưu kế để khiêu khích và tấn công Giáo Hội, khi ngấm ngầm lúc công khai.

II. SỰ MẠNG KHẨN THIẾT CỦA GIÁO HỘI

Là con cái của Giáo Hội, nhất là những linh hồn được tuyển chọn sống Đời Thánh Hiến trong ơn gọi Tu Sĩ hay Linh Mục, chúng ta cần ý thức sứ mạng cao cả Chúa đã ủy thác cho Giáo Hội, cũng như cho mỗi người chúng ta tùy theo bậc sống và ơn gọi riêng của mình.

Chúng ta hãy nhắc lại giáo huấn của Công Đồng Vaticanô II: “Mỗi môn đệ của Chúa Kitô, tùy theo địa vị mình, đều có bổn phận góp phần truyền bá Đức Tin, làm trọn lời Chúa phán qua miệng tiên tri Malachia: Từ Đông sang Tây, danh Ta sẽ được lẫy lừng khắp muôn dân, khắp nơi đều sát tế và dâng lễ vật thanh sạch kính tôn danh Ta” (Lumen Gentium #17).

Vì: “Làm tông đồ là thông phần vào chính sứ mạng của Giáo Hội. Mỗi Tín Hữu đều được Chúa đề cử làm tông đồ qua việc lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy và Thêm Sức” (Lumen Gentium #33). “Do đó, ơn gọi làm Kitô Hữu tự bản chất cũng gọi là ơn gọi làm tông đồ” (Lumen Gentium #17).

Nhưng chúng ta phải làm tông đồ bằng cách nào? Chúng ta hãy nghe thêm giáo huấn của Công Đồng: “Người Giáo Dân thực thi việc tông đồ bằng mọi công việc của họ, để rao giảng Tin Mừng và thánh hóa nhân loại, đem tinh thần Tin Mừng thấm nhuấn và hoàn hảo hóa những việc thuộc phạm vi trần thế, sao cho công việc của họ thuộc lãnh vực này, làm chứng tỏ tường về Chúa Kitô và góp phần vào việc cứu độ nhân loại. Vì bản chất riêng biệt của người Giáo Dân là sống giữa đời và làm việc đời, nên chính họ được Thiên Chúa mời gọi, để một khi tràn đầy tinh thần Kitô Giáo, họ làm tông đồ giữa đời như men trong bột” (Apostolicam Actuositatem #2).

III. TÔNG ĐỒ ĐÍCH THỰC CỦA CHÚA

Lời Chúa phán với các Tông Đồ xưa: “Thầy thương đoàn dân này, vì họ tất tưởi bơ vơ, như những con chiên không có người chăn dẫn” và: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin Chủ Ruộng sai thợ đến gặt lúa” (Mt 9:36-38). Lời đó hôm nay Chúa cũng đang tha thiết phán với mỗi người chúng ta. Nhưng tinh thần thâm sâu của Lời Chúa còn âm vang tha thiết hơn nữa vào tận tầng sâu thẳm của linh hồn chúng ta: “Các con hãy cầu xin Chúa sai nhiều Tông Đồ đích thực, Tông Đồ chính danh, Tông Đồ tràn đầy tinh thần Tin Mừng và lửa mến Chúa tha thiết ra đi khắp nơi để chinh phục các linh hồn về cho Cha”.

Nạn thiếu Tông Đồ là khẩn thiết, nhưng còn khẩn thiết hơn nữa, đó là những Tông Đồ đích thực; vì nếu không, họ sẽ chỉ là những tiên tri giả, những kẻ hữu danh vô thực, hay nói đúng hơn, họ là những kẻ quấy rối, những kẻ phá hoại, hay nói đúng hơn là những kẻ phá đạo.

Đây chúng ta hãy nghe một đoạn trích trong bức thư của Thánh Phanxicô Xavier từ Ấn Độ gởi về cho Thánh Ignatiô Loyola ở Âu Châu, là Bề Trên của ngài: “Nhiều người ở đây không được trở thành Kitô Hữu chỉ vì không có ai được chuẩn bị để đảm nhận sứ vụ giảng dạy cho họ… Con thường cảm thấy bị thôi thúc muốn đến các đại học ở Âu Châu, đặc biệt là đại học ở Sorbonne Balê, để la lên như một thằng điên cho những kẻ giầu trí thức hơn là thiện chí, yêu cầu họ hãy sử dụng trí thức của họ làm sao cho lợi ích… Phải chi trong khi nghiên cứu các môn nhân văn, họ cũng nghiên cứu sổ kế toán về những điều Thiên Chúa đòi hỏi họ qua tài năng Ngài đã ban cho họ! Lúc đó nhiều người hẳn sẽ xúc động thốt lên: Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn bảo con làm gì?”

Kết Luận

Mùa gặt Chúa muốn nói với chúng ta hôm nay là gì? Chúng ta hãy đưa ánh mắt tinh thần nhìn xem thế giới: Biết bao người, không chỉ ở nơi các xứ truyền giáo, mà ngay tại các quốc gia chúng ta đang sống, họ đang khát khao tìm kiếm chân lý, tìm kiếm lẽ sống, tìm kiếm ý nghĩa cho cuộc đời. Chúng ta hãy nghe lời một em nhỏ, vừa tốt nghiệp tại trường trung học nọ, đã được hầu hết các báo chí trong nước từng ca ngợi. Lời em nói như tiêu biểu cho khát mong của mọi người: “Cuộc đời còn có những cái cao quí hơn tiền bạc, television, tiệc tùng, danh vọng nữa!”

Còn thợ gặt Chúa nói với chúng ta hôm nay là gì? Là chính mỗi người chúng ta tùy theo ơn gọi riêng của mình, hãy trở nên chứng nhân cho Chúa, bằng chính cuộc sống thánh thiện của chúng ta, để như tấm men làm dậy thúng bội, như ánh sáng chiếu soi trong đêm tối, như muối ướp trần gian khỏi hư thối vì tội lỗi, hầu làm cho Chúa được tôn vinh, nhân loại được cứu độ.

Nhiều vị Tông Đồ tưởng rằng: Giới trẻ ngày nay có cái thị hiếu thích ồn ào náo động, cần phải có văn nghệ hát xướng rùm beng, với các ca sĩ thượng thặng khiến họ sùng mộ. Hơn nữa, cần phải đề cập nhiều tới tình yêu nam nữ, về phái tình, về sinh lý với những câu truyện tình tứ tiếu lâm mới có sức thu hút được họ!

Các vị đó đã lầm, giới trẻ không khát mong điều đó, mà có khi họ còn cười thầm và chê bai chúng ta sau lưng, đàm tiếu với nhau khinh thường chúng ta nữa là khác. Chúng ta hãy xem Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đi đến biết bao quốc gia trên thế giới, nhất là trong các dịp Đại Hội Giới Trẻ thế giới. Ngài toàn đề cao tình thần Chúa Kitô trong Tin Mừng, thế mà người ta cứ ùn ùn tuôn đến nghe lời ngài. Từng triệu người trẻ tới bu quang và say mê đón nhận lời giáo huấn của ngài, như là lời của chính Thiên Chúa nói với họ. Sau khi Đức Thánh Cha nói với họ về tinh thần của Chúa, ngài đã hô lớn tiếng: “Hỡi các bạn trẻ, Đức Kitô cần chúng con, cần đến tấm lòng trinh trong, cần tình yêu quảng đại của chúng con, để giúp Ngài hoàn thành sứ mạng, nâng nhân loại lên và mang Ơn Cứu Độ của Ngài đến cho thế giới. Đó là sứ mạng của Đức Kitô và Ngài chia sẻ sứ mạng này cho chúng con”.

25.Người sai các ông đi

(Suy niệm của Lm. Thu Băng, CRM.)

Sau khi Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ, Ngài ban quyền năng trên các ông và sai các ông ra đi rao giảng Tin Mừng và chữa lành các bệnh tật “Các con đã lãnh nhận nhưng không thì cũng hãy cho đi nhưng không”.

Ngài là chủ vườn nho, là cây mà Thiên Chúa đã trồng. Thiên Chúa đã chuẩn bị đất đai, hoa màu, hạt giống, khí hậu thuận lợi để cây mọc lên và muốn cho cây đó lớn cùng bờ cõi trái đất, bao trùn hết mọi dân tộc, nên cây đó đến lần sai các đệ tử ra đi tỉa cấy, vun trồng, gieo vãi.

Chúng ta là dân Chúa, là Giáo Hội, có nhiệm vụ làm cho Giáo Hội triển nở. Các môn đệ ra đi gieo vãi, chữa lành và kết quả gấp bội, các ngài hớn hở vui mừng về khoe với Chúa. Chúng ta có thái độ nào trong việc xây dựng Giáo Hội? Chúng ta có thái độ như Phạm ngũ Lão không?

Phạm ngũ Lão người làng Hưng Yên, mồ côi cha từ còn nhỏ, nhà nghèo. Một hôm ông đang ngồi đan sọt ở vệ đường mà lòng mải nghĩ về đất nước . Quân lính đi qua lấy giáo đâm thủng đùi ông mà ông không hay. Hưng đạo cho người hỏi mới biết ông là người tài liền đưa ông về dinh. Ông đã đánh thắng quân giặc rất nhiều trận. Về sau ông bình cả quân Lào và chiêm thành nữa nên vua phong ông làm võ đại tuớng bình Chiêm.

Sự đóng góp của chúng ta dù bé mọn nhưng cũng là góp cho Giáo Hội thêm tiến triển. Đời sống chúng ta nếu tội lỗi thì sẽ ảnh hưởng đến Giáo Hội (một con sâu làm rầu nồi canh). Một người không sống đạo đức thánh thiện cũng có ảnh thưởng đến tất cả, đừng nghĩ một việc nhỏ nhoi không có giá trị gì. Đức thánh cha Piô 12 nói: ”Sự cứu rỗi của nhiều người còn tùy thuộc vào lời cầu nguyện và hy sinh của mỗi phần tử Giáo Hội”.

Chúng ta như vậy là có trách nhiệm phải sống tốt lành. Cha mẹ luôn tạo nên sự kính trọng trong gia đình. Người trẻ luôn kính trọng người trên. Người khoẻ biết kính trọng người yếu như thế làm nên một dây chuyền tốt lành làm phát triển Giáo Hội.

Lạy Chúa, xin cho con biết sống thánh thiện đạo đức, làm gương sáng cho mọi người, như thế con làm ích cho Giáo Hội của con luôn mãi.

26.Thầy sai các con đi

(Suy niệm của Lm. Thu Băng, CRM.)

Cách đây khoảng 100 năm, Giáo Hội Truyền Giáo Lyon nước Pháp sai một lớp đầu tiên gồm 10 linh mục đi sang Dohomey, Phi Châu để làm việc truyền giáo. Ba năm sau, cả 10 người đều bị giết chết. Thế nhưng, dù rừng sâu, nước độc, dù dân chúng lạc hậu, có nhiều ác cảm, hàng hàng lớp lớp các nhà truyền giáo vẫn hăng hái ra đi. Người này ngã xuống, người khác đứng lên. Đến nay sau hơn một thế kỷ, những giọt máu pha lẫn mồ hôi của các ngài đã đâm bông kết trái: Giáo Hội Dohomey đã vươn lên mạnh mẽ, lại hân hạnh có được vị Hồng Y bản xứ tiên khởi là Bernard Gantin.

Câu chuyện trên diễn tả lại cảnh Chúa Giêsu triệu tập mười hai môn đệ và sai họ đi rao giảng Tin Mừng cho muôn người. Các môn đệ đã trải qua những cuộc tập luyện thấm mồ hôi để có một cái nhìn hướng về tương lai. Các môn đệ đã bị nhiều thử thách, đã bị nhiều người đánh giá thấp kém khi họ ra đi rao giảng Tin Mừng. Hầu hết các ngài đã bị đẫ máu đào và kết quả là hạt cải nhỏ bé đã trở nên một cây lớn lao cho chim trời đến đậu mà chúng ta gọi là Đạo Kitô Giáo. Cây cải nhỏ bé đã xum xuê cành lá, đã vươn dài trên khắp thế giới và đã làm cho nhiều tâm hồn được ơn trở lại.

Chúng ta có thái độ nào trong việc xây dựng Giáo Hội? Mỗi người chúng ta có thể làm một điều gì để đến với mùa gặt? Tại sao ngày nay có ít thợ gặt hơn trước đây?

Chúng ta có thể nêu lên ba lý do sau đây:

Thứ nhất: vì chúng ta không thực hành điều Chúa truyền dạy “Hãy cầu xin chủ ruộng sai thợ đến”. Điều cần thi hành trước nhất là lời cầu nguyện cho việc truyền giáo, cầu nguyện để Chúa thôi thúc các bạn trẻ đáp lại tiếng Chúa mời gọi ra đi làm Linh Mục Tu Sĩ, xung phong vào công cuộc truyền giáo. Lại nữa, mỗi gia đình chúng ta cần làm gương sáng, sống đạo hoàn hảo để nên gương cho nhiều người xung quang. Cần giúp đỡ tài chánh cho Giáo Hội bằng bất cứ cách nào để đáp ứng nhu cầu của việc truyền giáo.

Lý do thứ hai khiến ngày nay có ít thợ dấn thân vào mùa gặt hơn trước kia là vì gia đình không còn là vườn ương ơn gọi, cha mẹ ít khuyến khích, ít trình bày, ít khuyên răn con em mình lựa chọn đời sống tu trì, đời sống hiến thân phục vụ cho Giáo Hội.

Cuối cùng, ly do liên quan đến cá nhân mỗi người chúng ta: Nếu bạn là thanh niên nam nữ, có bao giờ bạn mở lòng cho Chúa gõ cửa lòng bạn trong mỗi dịp tĩnh tâm? Hay lại đóng cửa lòng theo tiếng gọi của đời? Nếu chúng ta là người lớn tuổi, có bao giờ nghiêm chỉnh tự vấn xem mình có thể làm gì để “dấn thân vào mùa gặt” không? Có bao giờ nghĩ đến việc gì trực tiếp dân thân giúp cho chủ ruộng trong vấn đề gặt lúc không?

Điều mà các gia đình có thể thực hiện hôm nay là thêm một lời cầu nguyện cho ơn gọi vào giờ kinh gia đình. Gia tăng việc làm gương sáng sống đạo cho người trong gia đình. Khuyên nhắc con cái cầu nguyện xin Chúa ban ơn kêu gọi và sốt sáng dâng cúng, khuyên góp cho việc truyền giáo…

27.Ngài động lòng thương

(Suy niệm của T.s. Trần Quang Huy Khanh)

Thánh Mátthêu đã diễn tả diễn tả một thực tế cuộc đời mà con người gặp phải, đó là một tâm lý thiếu vắng tình thương, thiếu vắng hy vọng: “Họ lang thang như những con chiên không người chăn” (Mt 9:36). Và điều này đã khiến Chúa Giêsu phải bồi hồi, thổn thức. Ngài đã không cầm nổi xúc động, và đã để cho những cảm tình ấy được bộc lộ như Mátthêu đã bắt gặp, và đã ghi lại: “Khi thấy lũ đông dân chúng, Ngài động lòng thương xót họ, vì họ lang thang và vất vưởng như chiên không người chăn” (Mt 9:36).

Nếu Chúa Giêsu có mặt trên trái đất hôm nay, hẳn là Ngài còn xúc động hơn nữa. Hơn chục triệu thai nhi bị giết ngay trong lòng mẹ mỗi năm. Hàng trăm, ngàn, vạn thiếu nữ bị lợi dụng, bị đối đãi tàn tệ, và bị đẩy vào những dịch vụ buôn bán người. Phân nửa những cuộc hôn nhân bị tan vỡ. Hiện tượng đồng tính luyến ái và hôn nhân đồng tính. Hiện tượng chối bỏ căn tính Kitô giáo tại các quốc gia Âu Châu. Khủng bố, chiến tranh, và bạo loạn. Nhân loại như đang bị đày đọa, và chìm sâu vào hố diệt vong, vô vọng, và cùng cực. Cái nghèo đói tâm linh còn khủng khiếp hơn sự nghèo đói vật chất. Một sự nghèo đói đã dẫn con người đến chỗ trở thành thù địch với Thiên Chúa, thù địch với chính mình, và thù địch với tha nhân. Tất cả đã nói lên rằng nhân loại hôm nay đang thiếu vắng tình thương, thứ tình thương mà Chúa Giêsu đã để lộ ra mà Mátthêu đã ghi lại. Lý do đưa đến sự thiếu thốn này đến từ thái độ con người chối bỏ tình yêu Thiên Chúa, và thái bộ chôn bám vào thế giới hữu hình.

– Chối bỏ tình yêu Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, và lòng trí tôi vui mừng trong Đấng Cứu Chuộc tôi. Vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những việc trọng đại” (Lc 1:47,49). Đó là tâm tình cảm tạ và biết ơn của Mẹ Maria trước muôn ơn lành mà Mẹ đã lãnh nhận từ Thiên Chúa. Vì khi nghe Mẹ chúc tụng hồng ân Thiên Chúa, người nghe Mẹ không những muốn nhìn lên Mẹ để coi xem đó là những ơn trọng đại nào. Đồng thời cũng muốn nhìn vào mình để xem coi tình thương Chúa đã tác động như thế nào nơi cuộc sống của chính mình.

Trong khi nhìn lên Mẹ và nhìn vào mình, những tâm hồn thiện chí cũng khám phá ra điều này, đó là muôn vàn ân huệ mà Thiên Chúa đã và đang thực hiện nơi mỗi người. Và cũng như Mẹ Maria, mỗi Kitô hữu cũng phải khiêm tốn mà ca lên rằng: “Chúa đã làm cho tôi những sự trọng đại” (Lc 1:49). Ngài làm thế vì vinh danh Ngài, và vì lòng Ngài thương ta vô bờ bến.

Những ơn trọng đại Ngài ban cho chúng ta trong cuộc sống, bao gồm sức khỏe, tài năng, công ăn việc làm, thành đạt, và ngay cả những thử thách, khó khăn, và thiếu thốn, tất cả làm nên một bức tranh tuyệt vời về đời sống của mỗi cá nhân, từ tâm hồn đến thể xác, và bức tranh toàn bộ nhân loại. Những ơn này, đến từ trái tim nhân lành, một trái tim biết thổn trước những cực nhọc, vất vả, và truân chiên của kiếp người chúng ta. Đức Bênêđíctô XVI, khi đề cập đến trái tim Chúa Giêsu trong bài nói chuyện với khách hành hương tại quảng trường Thánh Phêrô hôm 5 tháng 6 vừa qua, Ngài đã nói: “Trong từ ngữ Thánh Kinh, “trái tim” chỉ về trung tâm điểm của một con người, nơi ngự trị của những tình cảm và ước muốn. Trong trái tim của Đấng Cứu Thế, chúng ta tôn thờ tình yêu nhân loại của Thiên Chúa, ý muốn cứu độ toàn nhân loại của Ngài, lòng thương xót vô cùng của Ngài”. Như vậy, khi Ngài thổn thức và bồi hồi về cuộc sống con người lang thang, vất vưởng như những con chiên trong hoang địa, là Ngài đã thổn thức và chia sẻ tận cùng với những nỗi vất vả, truân chiên của chúng ta, và cho biết, Ngài không quên chúng ta, dù chúng ta có lạc xa Ngài, như con chiên lạc, mà Ngài đã vội vàng đi tìm kiếm để rồi khi tìm được, thì vác trên vai.

– Chôn bám vào thế giới hữu hình: Nhưng nếu tình yêu Ngài theo dõi, bao bọc con người, tại sao con người còn gặp trăm ngàn nỗi đắng cay và thử thách. Như vậy, thì tình yêu ấy không đủ sức mạnh để thắng vượt những cái xấu xa, và tiêu cực đang khống trị con người và trái đất này sao? Như vậy, Ngài không còn phải là Thiên Chúa đã thắng được tội lỗi và sự chết nữa hay sao? Tại sao đau khổ, chết chóc, hận thù, bệnh tật, và tai ương vẫn tiếp tục đổ xuống trên con người, mà phần đông là những người vô tội.

Không. Ngài đã thắng thế gian. Và tình yêu Ngài vẫn mãi mãi là tình yêu muôn thuở. Trái tim Ngài vẫn luôn luôn thao thức bên những nỗi thống khổ và lầm than của con người. Ta có thể cảm nhận được điều này khi đối diện với Ngài một mình trong thánh đường, trước nhà tạm hay nhìn lên thập giá.

Và điều mà con người người ngày nay đang phải đối diện, đó chính là kết qủa của hành động con người đã không biết nhìn nhận và biết ơn trước tình yêu bao la phát xuất từ trái tim nhân lành của Ngài. Thay vì hạnh phúc với Ngài, con người lại tự mình chôn bám vào những vật chất, và những cái thuộc về thế gian này. Điều này không những chỉ làm con người phải lãnh nhận hậu quả sự dữ, đau khổ và chết chóc, mà nó còn làm cho trái tim Chúa phải thổn thức. Vì Ngài biết những gì Ngài làm cho con người là tốt đẹp, nhưng con người lại muốn tự mình vượt quá khỏi tầm tay yêu thương Ngài.

Mátthêu đã ghi lại điều Ngài thổn thức bao gồm cảm tình Ngài: “Họ như những con chiên lang thang, vất vưởng, không có kẻ chăn”. Và lời nguyện truyền giáo tiếp theo sau đó: “Hãy xin chủ ruộng sai nhiều thợ gặt đến làm mùa của mình” (Mt 9:38). Điều này cũng nói lên rằng chúng ta thật sự cần được Ngài chăn nuôi, và cũng phải trở nên những bạn đồng hành tốt đối với anh chị em mình trong sứ mạng truyền giáo tùy theo ơn gọi và hoàn cảnh sống của mỗi người. Hãy trở nên những nhà truyền giáo, những tay thợ cho mùa màng của Thiên Chúa bằng cách biết đón nhận hồng ân Ngài, và giới thiệu với anh chị em mình tình yêu bao la của Ngài. Tình yêu lớn lao vượt trên tất cả sự dữ, tội lỗi, và sự chết.

28.Việc Tông Đồ

(Suy niệm của Br. Thiện Mỹ, CRM.)

Chúa Giêsu mở đầu cuộc sai đi truyền giáo bằng những lời mang tính chất tự nhiên, nên thơ, dễ hiểu và rất  thực tế:

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”. (Mt. 9,37-38)

Lời Chúa hôm nay có chiều kích rộng rãi cả về thời gian lẫn không gian. Từ cổ chí kim ở khắp mọi nơi trên thế giới, tất cả những ai sử dụng được trí khôn đầy đủ đều nhận biết được Thiên Chúa. Định luật sơ đẳng đời sống của mọi người là nhận có “Ông Trời”. Đó là ơn quan phòng Chúa chẳng để ai thiếu. Từ nhận thức đơn giản ấy con người còn khao khát tìm tòi, suy nghĩ, lắng nghe, đón nhận thêm những hiểu biết về Thiên Chúa. Chứng nghiệm cụ thể khi Chúa Giêsu đi rao giảng qua các làng mạc, thành thị, tới đâu Ngài cũng thấy dân chúng ở vào trường hợp đáng thương. Họ như bầy chiên vô chủ, họ theo Chúa vào tận nơi hoang địa, mải miết nghe lời Chúa đến quên ăn; và tới bữa cơm Chúa phải làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho họ dùng bữa, vì họ chẳng có gì để cầm thực.

Chắc hẳn nhiều người còn nhớ câu chuyện ở Kaisaria trong sách công vụ các tông đồ: Có một người tên là Cornêliô, làm đại đội trưởng trong cơ binh Italia, ông là người đạo đức và kính sợ Thiên Chúa. Ông cùng cả gia đình luôn cầu nguyện và rộng tay làm phúc bố thí cho dân. Nhờ đó Thiên Chúa đã dủ lòng thương, sai thiên sứ nói với ông đi mời Thánh Phêrô đến tận nhà để ông được nghe giảng dạy đạo Chúa và chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô.

Thời gian vẫn trôi theo dòng lịch sử cứu độ, đồng lúa bát ngát của Thiên Chúa làm xúc động các tâm hồn nhưng nhiều người chỉ biết thương cảm trong lòng, vì họ khiêm tốn nghĩ rằng việc gặt hái những bông lúa cho Giáo Hội là việc của hàng linh mục, tu sĩ. Thực ra ơn gọi tông đồ gắn liền với ơn gọi Kitô hữu. Trong nhiệm thể Chúa Kitô, mỗi chi  thể đều có công dụng riêng từng phần khiến cho thân thể được tiến triển. Tùy theo cách thức khác nhau mà Kitô hữu có thể thực hiện việc tông đồ một cách hữu hiệu, tất cả hệ tại ở sự thánh thiện nội tâm, vì linh đạo của Giáo Hội là con đường dẫn đến sự thánh thiện. Một việc bác ái dù chỉ nhỏ mọn, một nụ cười thân ái, một lời an ủi, một thái độ cởi mở vui vẻ hay một trái tim hiền dịu như “ma sơ” quả là phúc lợi biết bao! Những việc ấy đều có sức lôi cuốn người ta nhận biết Đức Kitô. Nhất là: “Nếu các con thương yêu nhau, thiên hạ cứ dấu ấy mà nhận biết các con là môn đệ thầy” (Jn. 13,35). Còn các linh mục không phải lúc nào cũng có dịp thuận tiện gần gũi mọi người và linh mục lại càng khó khăn đi lại hơn nữa trong những miền xa xôi hẻo lánh, những miền mà tự do của Giáo Hội bị cản trở trầm trọng. Trong khi đó  giáo dân luôn gần kề với mọi tầng lớp trên thế giới qua những tương quan xã hội: Học đường, nghề nghiệp, đồng hương, giao tế v.v. Nhiều đoàn thể tông đồ với sự hỗ trợ dìu dắt của các linh mục tu sĩ, công việc hoạt động đó lại càng thêm phong phú hữu hiệu:

– Các hội từ thiện đã đề cao lòng thương xót đối với người bệnh tật, nghèo đói. Họ tìm đến những người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men, thiếu việc làm, thiếu những phương tiện cần thiết để sống xứng đáng thân phận con người. Họ tìm đến những người đau khổ, bị lưu đày, ngục tù. Ở đó đức bác ái Kitô giáo đã được thực hiện bằng  việc ân cần, săn sóc, ủi an với tấm lòng yêu thương chân thành.

– Các nhóm giáo lý viên đã vào cả những nơi hang cùng ngõ hẻm để ủy lạo tinh thần cho những người sầu muộn. Họ tranh đấu ác liệt với tà thần để giành giật các linh hồn trong giờ phút nguy tử. Họ vào các nhà thương cứu sống hoặc rửa tội cho những thai nhi bị phá cách oan uổng. Họ đem chân lý Phúc Âm đến mọi nơi mà không hề phân biệt chủng tộc, giai cấp, giầu nghèo;  thậm chí những nơi liều mình có thể mất cả mạng sống để đáp ứng nguyện vọng của Giáo Hội, theo lời truyền của  Chúa là Phúc Âm phải được rao giảng khắp mọi nơi trên thế giới.

Thế rồi việc cầu nguyện là rất cần thiết cho việc truyền giáo. Lời cầu nguyện sốt sắng liên lỉ vọng lên từ trong các dòng tu, đặc biệt các dòng tu chiêm niệm; lời cầu nguyện hằng ngày tại các nơi cung thánh trên toàn thế giới của Giáo Hội. Nhất là lời cầu nguyện phải được phát xuất từ con tim yêu mến ôm ấp mọi người nơi tâm hồn của các nhà  truyền giáo. Đặc biệt trong những tình huống khó khăn cam go của việc chinh phục các linh hồn; có những lúc  con người mệt mã, nản chí, sờn lòng…Khi ấy nhờ cầu nguyện Thiên Chúa lại ra tay uy hùng cách rõ rệt để trợ giúp cho sự mỏng dòn yếu đuối của con người. Chính Chúa Giêsu vẫn thường vào nơi thanh vắng để cầu nguyện cho thế giới, cho các tông đồ, cho Hội Thánh.

Lời kêu mời của Chúa trong tin mừng hôm nay đã được Giáo Hội hưởng ứng mạnh mẽ. Trải qua nhiều thế hệ, các nhà truyền giáo đã đi rao giảng khắp năm châu. Nhiều vị tông đồ đã hy sinh cả mạng sống vì sứ vụ của mình. Và các tín hữu trong muôn ngàn cách đã cùng cộng tác đắc lực vào việc tông đồ. Gương Đức Mẹ lại càng ngân vang muôn thủa.Sau khi Mẹ nhận  được Chúa Giêsu trong lòng, Mẹ đã đem Chúa đến cho chị họ Isave. Mẹ xin Chúa làm phép lạ cho nước hóa thành rượu để củng cố lòng tin của các tông đồ. Mẹ đã lên đồi Canvê để cùng Đồng Công với Chúa cứu rỗi nhân loại. Như bà mẹ đỡ đầu Đức Mẹ đã chuẩn bị cho các tông đồ lãnh phép rửa bởi Chúa Thánh Thần trong ngày hiện xuống v.v. Mẹ đã là tông đồ của các tông đồ.

29.Ơn Gọi làm Linh Mục

(Suy niệm của Lm. Trần Bình Trọng)

Mỗi người tín hữu đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội được gọi để làm môn đệ Chúa và làm chứng cho Phúc âm bằng lời cầu nguyện, gương sáng, hy sinh, và việc từ thiện bác ái. Người được nhận biết Chúa trước có bổn phận đem Chúa đến cho người khác tùy theo phương tiện và khả năng có thể. Mỗi người cần tận dụng tài năng, phương tiện và sức lực có thể để mở rộng nước Chúa. Người đã nhận lãnh Đức Tin được kêu gọi chia sẻ Đức Tin với người khác.

Người Công giáo chấp nhận Đức Tin khi lãnh nhận Phép Rửa tội. Có người có thể cho rằng họ lãnh nhận Đức Tin cách vô thức khi còn nhỏ bé. Tuy nhiên cha mẹ và người đỡ đầu và cả cộng đoàn dân Chúa đã chấp nhận Đức Tin thay cho họ. Khi lãnh nhận Phép Thêm Sức, họ tự phê chuẩn đức Tin khi chịu Phép Rửa tội. Họ làm mới lại lời hứa Đức Tin khi ta lãnh nhận Phép Cáo giải. Họ lập lại lời hứa Đức Tin khi tham dự thánh lễ.

Đức Tin mà người Công giáo lãnh nhận không phải là cái riêng tư, nhưng có tính cách cộng đồng. Vì thế tin mà thôi chưa đủ. Họ cần chia sẻ Đức Tin với người chưa tin, và nâng đỡ niềm tin của người yếu Đức Tin. Và đó chính là ý nghĩ a lời Chúa: Ân huệ mà chúng con đã được cho không, hãy cho không như vậy (Mt 10,8).

Lời Chúa trong Phúc âm hôm nay nói lên tính cách khẩn thiết của việc tông đồ. Chúa phán: Lúa chín đầy đồng, mà thiếu thợ gặt. Vậy chúng con hãy xin chủ mùa gặt sai thợ đến gặt lúc (Mt 9,37-38). Theo nghĩa rộng thì tất cả mọi tín hữu được gọi để làm thợ gặt. Còn theo nghĩa hẹp thỉ chỉ Linh mục và Tu sĩ mới được gọi để gặt cánh đồng truyền giáo.

Phúc Âm hôm nay cho thấy Chúa chọn có mười hai người làm môn đệ thân cận, nghĩa là làm Tông đồ. Vậy là sao để nhận ra ơn gọi làm Linh mục, Tu sĩ nam nữ, hay làm Tông đồ giáo dân?

Theo Sắc lệnh về chức vụ và đời sống Linh mục của Công Đồng Vaticanô II thì chính Chúa đã cắt đặt các tín hữu một số thừa tác viên, nhờ chức thánh, họ được trao quyền tế lễ và tha tội trong cộng đoàn tín hữu, và nhân danh Chúa Kitô, họ chính thức thi hành chức vụ cho loài người. Bởi vậy, Chúa đã sai các Tông đồ đi rao giảng Tin Mừng cứu độ, và rồi qua các Tông đồ, Người gọi các đấng kế vị là các Giám mục cũng được tham dự việc hiến tế vào sứ mệnh của Người. Người lại trao ban cho các Linh mục chức vụ thừa hành ở một cấp độ kế tiếp để một khi gia nhập hàng Linh mục, họ là những cộng tác viên của hàng Giám mục để chu toàn một cách tốt đẹp sứ mệnh Tông đồ mà Chúa trao phó.

Như vậy ta thấy Chúa đã thiết lập một loại quyền bính trong Giáo hội, bắt đầu từ việc chọn 12 Tông đồ, ban cho họ quyền bính, đặt Phêrô làm người lãnh đạo. Mục đích là để liên kết và hiệp nhất người tín hữu trong cùng một Đức tin. Nếu không, thì như lời Chúa phán, họ như đàn chiên mà không người chăm sóc.

Vậy làm sao để có được ơn kêu gọi làm Linh mục Tu sĩ nam nữ?

Cha Franklyn M. Mcafee đưa ra bảy điểm nhận xét làm sao để ấp ủ và làm phát sinh ơn kêu gọi làm Linh mục Tu sĩ trong gia đình tại Hoa Kỳ. Cha đề nghị gia đình sống và thực hành những việc đạo hạnh sau đây:

1. Khi con cái thấy gia đình đi dâng thánh lễ Chúa nhật, có sửa soạn trước, đi sớm và ở lại mấy phút tạ ơn sau lễ.

2. Khi con cái thấy gia đình cầu nguyện, lần chuỗi chung ban tối, và đọc kinh trước bữa ăn.

3. Khi con cái thấy trong gia đình có lòng tôn sùng người Mẹ của các Linh mục cách riêng một cách sống động.

4. Khi con cái được nghe những chuyện nhân đức của các thánh như Thánh Don Bosco, Thánh Gioan Vianney.

5. Khi con cái được nghe những chuyệt tốt, tích cực về các Linh mục; khi được nghe về Linh mục nọ làm phép cưới cho cha mẹ, Linh mục kia rửa tội cho con.

6. Khi con cái được nghe nói về tinh thần hi sinh, thay vì chỉ nghe chuyện làm tiền và hưởng thụ. Một lý do khiến ơn kêu gọi giảm sút là khi con cái có thói quen nhận lãnh tất cả những gì chúng muốn, nên thường cảm thấy khó cho đi và khó từ bỏ.

7. Khi con cái thường nghe nói về Đức Giáo Hoàng, cầu nguyện cho Ngài và thấy hình Ngài trong nhà.

Nếu gia đình hội đủ những yếu tố trên, mà không thấy ơn kêu gọi làm Linh mục Tu sĩ trong gia đình, thì cha mẹ vẫn đạt được đích chung trong việc cổ võ và sống lý tưởng người Công Giáo. Những người con mặc dầu lập gia đình cũng sẽ hướng dẫn giáo dục con cái như cha mẹ mình. Và biết đâu ơn kêu gọi sẽ đến trong thế hệ sau.

30.Hãy cầu nguyện cho ơn gọi

(Suy niệm của Lm. Bùi Quang Tuấn CSsR)

“Thiên Chúa đã chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với nhân loại đang lúc học còn là tội nhân,” Thánh Phaolô xác quyết như thế.

Thử hỏi có ai đã liều chết cho kẻ thù hay người phản bội. May ra mới có chuyện người ta dâng hiến đời mình cho một lý tưởng hay hy sinh sự sống cho một nhân vật đáng kính đáng yêu. Chứ có ai lại hủy mình cho các tội đồ. Ấy thế mà, vì yêu thương, Thiên Chúa đã làm công việc không tưởng đó. Ngài hiến dâng Người Con duy nhất là Đức Giêsu để chuộc lại sự sống cho toàn nhân loại – những kẻ đóng đinh Con Thiên Chúa.

Yêu người “không đáng yêu” là tình yêu đi đến tận cùng. Yêu nên bất chấp lầm lỗi thiếu xót. Yêu nên mở ngỏ cho phong phú kiện toàn. Tình yêu đó không chỉ được tỏ bày trên thập giá, nhưng đã bàng bạc trong mọi ngày đời của Đức Giêsu. Việc kêu gọi và chọn lựa các tông đồ tiên khởi là một minh chứng điển hình.

Mười hai tông đồ là 12 con người bất toàn, thậm chí có người còn phạm trọng tội. Thế nhưng Đức Giêsu đã kêu gọi và tiếp nhận họ vào chương trình chuyển trao tình yêu Thiên Chúa đến cho mọi người.

Phêrô là người có tính khí nóng nảy bộp chộp khác thường. Khi thì kiên vững như đá, nhưng có lúc lại mềm nhão hơn bùn. Hôm thì thề quyết theo Chúa đến cùng, nhưng có ngày lại quá run sợ mà chối phăng.

Giacôbê và Gioan, con của Giêbêđê là những người nóng nảy. Họ từng xin Chúa cho lửa trời xuống thiêu sạch bọn người Samari hổn láo. Không những thế hai ông còn mang ít nhiều tham vọng riêng tư, muốn được ngồi nơi những vị trí tốt nhất trong vương quốc của Đức Kitô, khiến cho xung đột nảy sinh trong hàng ngũ tông đồ.

Matthêô xuất thân từ tầng lớp bị xã hội khinh khi ghét bỏ, một người bị xếp đồng hàng với gái điếm vì bán mình làm kẻ thâu thuế cho ngoại bang.

Simon nhiệt thành là người thuộc phái Zealot, đang âm mưu lật đổ chính quyền đô hộ Rôma để dành lại độc lập tự do cho dân tộc, bất chấp thủ đoạn, miễn sao đạt được mục đích chính trị là sách lược của phái Zealot. Ấy là chưa nói đến Giacôbê con của Anphê và Thađêô là những người dễ có khuynh hướng cực đoan quá khích.

Tôma thì cứng lòng. Khó tin tưởng một ai. Điều gì cũng đòi phải có chứng minh hẳn hoi, chứ “trăm nghe không bằng mắt thấy”. Còn Giuđa Iscariot, bên ngoài rất thanh liêm ngay chính, nhưng bên trong đầy tham lam thủ đoạn, sẵn sàng phản bội để tìm kiếm lợi riêng.

Những con người thiếu sót, lầm lỗi là thế nhưng Đức Giêsu lại triệu tập để trao cho họ một sứ mạng lớn lao. Như thế, không phải chỉ có những ai hoàn hảo, đầy tài năng mới được mời gọi, và không phải khi nào tự thấy xứng đáng, tôi mới lên tiếng đáp trả. Nhưng đúng hơn, tình yêu Thiên Chúa đón nhận tất cả, dù là con người tầm thường yếu đuối, miễn sao tôi có được tâm hồn rộng mở cho ơn Ngài.

“Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt lại ít” (Mt 9,37). Lúa đã chín, mùa gặt đã về! Đây là thời kỳ hân hoan. Giọng ca tiếng cười sẽ vang lên khắp cánh đồng. Thế nhưng, lúa đầy đồng mà thợ gặt lại thiếu. Đức Giêsu xác định công việc nhiều lắm và cần người cộng tác biết bao! Nhưng cộng tác thế nào?

“Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa” (Mt 9,38). Thế ra, cầu nguyện là việc làm trước nhất của tiến trình “gặt lúa”. Người khởi sự cầu nguyện cho ơn gọi chính là người thợ gặt đầu tiên mà Thiên Chúa có được cho cánh đồng bao la của Ngài.

Một tác giả nhận định rằng: “Khủng hoảng của ơn gọi thực ra chỉ là khủng hoảng của đời sống cầu nguyện”. Không cầu nguyện sẽ không có ơn gọi. Khi cộng đoàn hay gia đình sa sút việc cầu nguyện, hạt giống ơn gọi sẽ không thể nảy sinh, nếu không nói là sẽ chết dần chết mòn. Thế nên, bạn hãy xin, và đó là điều Thiên Chúa muốn.

Thiên Chúa cần con người cộng tác, nhưng để trở nên kẻ cộng tác chân chính, người ta lại phải cầu xin Thiên Chúa. Đây là mối liên hệ song phương giữa Thiên Chúa và con người trong tiến trình tuôn đổ và đón nhận ơn cứu độ. Thiên Chúa rất cần, nhưng con người phải xin. Xin để thấy được việc cộng tác với Đức Giêsu, rao giảng Tin Mừng cho tha nhân, là một ơn vô cùng cao quí. Nếu mọi cộng đoàn xứ đạo hay các gia đình khởi sự cầu xin cho ơn gọi, thợ gặt sẽ đến và mùa gặt sẽ thành công.

Trước khi kêu gọi các tông đồ, Đức Giêsu đã cầu nguyện suốt đêm trên núi, không phải chỉ cho công việc tuyển mộ nhưng còn cho cả người được tuyển mộ, cầu cho những tâm hồn thiếu xót bất toàn và tội lỗi biết quảng đại mở rộng cho tình Chúa.

Như thế cầu nguyện cho ơn gọi cũng có nghĩa là cầu nguyện cho người được gọi. Khi cầu nguyện cho người được gọi là khởi sự cảm thông và cộng tác vào sứ vụ mở mang Nước Trời.

Thay vì làm thui chột bao hạt giống ơn gọi trong gia đình xứ đạo qua thái độ chỉ trích, nói xấu người được gọi thiết tưởng tôi nên cầu nguyện, xây dựng, và đỡ nâng. Có như thế, hạt giống sẽ hình thành, lòng khát khao dấn thân sẽ nảy sinh, chờ đợi ngày lớn lên mang lại hoa trái thơm ngon cho khắp nơi.

Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Một mình tôi không thể cắt hết lúa trên cánh đồng, nhưng chắc chắn hẳn cánh đồng sẽ còn sót lại nhiều gié lúa vàng vì thiếu phần đóng góp của tôi. Biết chân thành cầu nguyện và quảng đại hy sinh cho ơn gọi là tôi đã bắt đầu gieo rắc hoa trái yêu thương cho thế giới và mang lại niềm vui ơn cứu độ cho muôn người.

31.Chúa Nhật 11 Thường Niên

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên)

Trong một thế giới dẫu bị cuốn hút bởi ma lực cạnh tranh không thương tiếc, con người hôm nay lại rất nhạy cảm với những cảnh bị đầy đoạ, đói nghèo, áp bức và bỏ rơi. Người ta dễ bị lôi cuốn bởi những tấm gương hy sinh và quảng đại bao bọc những con người phận nhỏ. Hôm nay, 16.6.2002, tại Roma sẽ diễn ra việc Tôn Phong Hiển Thánh cho Cha Pio, khuôn mặt chứng nhân tiêu biểu của thời đại, khuôn mặt thật gần gũi với thế giới tăm tối của nhân loại. Sự gần gũi đấy ắp sự yêu thương và lòng nhân hậu cảm thông. Và điều ấy được Lời Chúa hôm nay mở ra như là lối vào Nước Trời dành cho Dân Người.

Thực vậy, ngay từ ngàn xưa, Dân Chúa đã được thừa hưởng Lòng Thương Xót Cứu Ðộ của Giavê, khi còn là những kẻ nô lệ trên đất Ai Cập. Thiên Chúa đã mang họ “như trên cánh chim bằng”. Hơn thế, Người còn muốn “giao ước” với họ, cho họ “là một vương quốc tư tế, một dân thánh”. GIAO ƯỚC và LỄ TẾ cũng như chính sự THÁNH THIỆN của Thiên Chúa, VƯƠNG QUỐC TƯ TẾ, DÂN THÁNH đó là những vấn đề trọng tâm của toàn bộ mạc khải, tất cả đều có liên hệ đến thế giới tăm tối của nhân loại, vì tất cả là LÒNG THƯƠNG XÓT của Chúa để cho Dân Chúa được “VÀO CÕI SÁNG”, “ÐƯỢC SỐNG VÀ SỐNG DỒI DÀO”. Nhiều lần trong Kinh Thánh đã khẳng định giao ước, lề luật, lễ tế tất cả chỉ nhắm tới việc công bố con đường “HÒA GIẢI”, sự tha thứ, để cho tội nhân được sống. Và do đó, chẳng bao giờ con người có thể khẳng định mình trung thành với giao ước, với lề luật, chẳng bao giờ con người có thể dâng một lễ tế chân thực, nếu đồng thời họ lại không khoan dung yêu thương và tha thứ cho các tội nhân. Và vì thế, Dân mới được Chúa Giêsu thiết lập cũng đã được sai “đến với các con chiên lạc nhà Israel”.

Thánh Phaolô trong khi chiêm ngưỡng mầu nhiệm sự sống nơi Ðức Kitô, coi đó là “bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta”, đã tóm tắt mầu nhiệm ấy trong một kiểu nói đặc biệt “Ðức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi.” Trong ngữ cảnh của Tin Mừng, thế giới tối tăm, thế giới tội lỗi, thế giới “chiên lạc”, cũng là thế giới của “thần ô uế, của bệnh hoạn tật nguyền”. Và Chúa Giêsu đã thông ban cho môn đệ quyền năng “chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết chỗi dậy, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ”.

Ngày nay, với khoa học tiến bộ, không mấy ai còn tin rằng những cảnh đen tối cơ cực của nhân loại là sự thao túng của các thế lực tối tăm, người ta đã “GIẢI THIÊNG” thế giới, và mọi người chỉ tin rằng phải cấp bách nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, phải điện khí hóa nông thôn, vùng sâu vùng xa… mới có thể tạo nên một “xã hội tự do,dân chủ, công bằng và văn minh”. Không còn ai tin rằng giữa cái bệnh tật, cái nghèo, kể cả cái chết lại có liên hệ gì với thần lực tối tăm, với ma quỷ…với tội lỗi nữa. Chính vì cách nhìn duy lý và duy vật như vậy, con người bằng những giải pháp của mình đã chỉ làm cho thế giới, không riêng thế giới nhân sinh, mà ngay cả thế giới vũ trụ thiên nhiên càng ngày càng rơi vào những khủng hoảng trầm trọng hơn. Ngày nay người ta đang nói tới những “cách mạng xanh”, những “ô nhiễm môi trường”, những “độc hại của thuốc lá”, “những khủng bố sinh học”… Nhưng tất cả hoàn toàn tuỳ thuộc vào thiện chí của mỗi con người, mỗi quốc gia… Trong khi đó một khi “THIỆN CHÍ” lại tuỳ thuộc QUYỀN LỢI cá nhân, cho dù là CÁ NHÂN LỚN như một quốc gia, thì vấn đề chẳng bao giờ có một giải đáp đúng mức. Khi QUYỀN LỢI cũng đồng nghĩa với QUYỀN PHÁ THAI, QUYỀN NHÂN BẢN VÔ TÍNH, QUYỀN CHẾT ÊM DỊU, QUYỀN LY DỊ, QUYỀN CHỐNG KHỦNG BỐ…thì thế giới này đúng chỉ là “BẦY CHIÊN KHÔNG NGƯỜI CHĂN DẮT”, nó bị phó mặc cho những tham vọng vô đáy của những cá nhân đầy quyền lực, và những tập đoàn ôm mộng bá chủ. Thế giới này vì vậy cần hơn bao giờ hết MỤC TỬ NHÂN LÀNH VÀ HAY THƯƠNG XÓT.

Người Mục Tử hôm nay phải là hiện thân của NƯỚC TRỜI ÐANG ÐẾN theo gương MỤC TỬ TỐI CAO, “hoà giải chúng ta với Thiên Chúa”. Người mục tử thiết lập trong cuộc sống của mình và với mọi người một nỗ lực “CHẠNH LÒNG THƯƠNG”, có nghĩa là một sự nhạy cảm với cảnh “lầm than vất vưởng” của mọi người do tình trạng “không người chăn dắt” để luôn ý thức và sống trung thực với sứ vụ được sai đến để loan báo “sự hòa giải trong Ðức Giêsu”. Người mục tử không thể quên rằng, lời loan báo luôn chỉ có giá trị khi nó xuất phát từ một sự hiến dâng “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.” Trong bối cảnh việc tôn phong hiển thánh Cha Piô, chúng ta có thể khẳng định, cho dù cũng có nhiều kẻ chăn thuê, nhưng Thiên Chúa chẳng bao giờ để cho đàn chiên mình thiếu những Mục Tử xứng đáng do lời cầu nguyện không ngừng của Hội Thánh theo lời dạy của Ðức Giêsu “Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”.

32.Lãnh nhận và trao ban…

(Suy niệm của Br. Phillip Bình Khả, CRM.)

Trong khi làm việc mục vụ thăm các gia đình Việt Nam, tôi có dịp gặp một số cụ bà Việt Nam sống rất quảng đại đối với người nghèo. Các cụ không có nhiều tiền lắm của nhưng tấm lòng thì luôn mở rộng. Các cụ giúp đỡ người nghèo, người phong cùi, hoặc nâng đỡ các chủng sinh tiến tới chức linh mục với những đồng tiền khiêm tốn. Một cụ chia sẽ rất chân thành và cảm động: “Tất cả con có là của Chúa ban. Chúa cho con nhiều thì con chia sẻ lại cho những người kém may mắn hơn con.”

Các bà cụ Việt Nam đã sống và thực hiện lời Chúa trong bài Phúc Âm Matthêu hôm nay: “Các con lãnh nhận nhưng không thì hãy trao ban nhưng không.”

Những lời nói trên được Chúa Giêsu nói đến khi Người sai mười hai tông đồ đi rao giảng. Trước khi đi rao giảng, Chúa Giêsu ban cho các môn đệ quyền trừ quỉ, chữa bệnh nhân và ngay cả làm cho người chết sống lại. Tuy nhiên những ơn mà Chúa ban cho các tông đồ không phải chỉ giữ riêng cho cá nhân hay tìm lợi ích riêng cho họ. Mục đích chính của các ơn này là phải mang lại lợi ích cho người khác.

Chúng ta cũng vậy. Tất cả những khả năng chúng ta có đuợc là do Thiên Chúa ban, nhưng không chỉ giữ riêng cho chúng ta. Chúng ta có thể trau dồi, mài dũa làm cho các khả năng mà chúng ta đang có trở nên tốt và hoàn hảo hơn, nhưng nguồn gốc của nó vẫn là do Thiên Chúa ban nhưng không cho chúng ta. Thánh Phaolô đã khẳng định rằng tất cả những gì các con có mà không phải bởi Chúa đâu. Chúng ta chỉ là những người được uỷ thác cai quản, trông nom và làm sinh hoa lợi chúng. Giống như các tông đồ trong bài Phúc âm hôm nay hay các cụ trong câu chuyện ở trên, chúng ta có nhiệm vụ dùng những khả năng mà chúng ta đang có để mưu cầu ích lợi và hạnh phúc cho tha nhân.

Nếu chúng ta chỉ giữ lại những khả năng chúng ta đang có cho riêng chúng ta thôi thì những khả năng đó sẽ không bao giờ hoàn thành đầy đủ mục đích của nó. Nhưng nếu chúng ta biết đem những khả năng chia sẻ với người khác thì nó sẽ được hoàn thành trọn vẹn ý nghĩa của nó. Giống như cái ghế chưa đạt được mục đích của nó nếu nó không được sử dụng.

Chúng ta có thể không có nhiều tiền lắm của để làm những việc đại sự. Chúng ta không có khả năng siêu việt như làm phép lạ chữa bệnh, trừ quỉ, hay cho người chết sống lại như các tông đồ khi Chúa Giêsu sai họ đi rao giảng. Nhưng chúng ta có những khả năng nhỏ nhoi mà có thể mưu cầu lợi ích và hạnh phúc cho người khác.

Bạn có khả năng trao ban nụ cười cho người khác chứ? Mẹ Têrêsa Calcutta, Đấng Sáng Lập Dòng Nữ Tử Bác Ái chuyên phục vụ người nghèo khó, khi còn sống đã cho chúng ta một lời khuyên, một triết lý sống đơn sơ: “Hãy trao cho nhau nụ cười. Chồng hãy trao cho vợ nụ cười, vợ hãy trao cho chồng nụ cười; cha mẹ hãy trao cho con cái nụ cười. Chúng ta hãy trao cho nhau nụ cười. Nụ cười sẽ giúp chúng ta lớn lên trong tình yêu thương với mọi người… Hãy bày tỏ sống động sự quan tâm, thân ái của Thiên Chúa nơi bạn – sự thân ái, quan tâm trên khuôn mặt bạn, trong đôi mắt bạn, trên nụ cười tươi, trong sự chào đón nồng ấm và cởi mở của bạn tới tha nhân.”

Nhiều người Mỹ nhận định rằng người trẻ Việt Nam có nhiều khả năng lắm. Thật thế, nhìn chung vào các cộng đoàn, giáo xứ Việt Nam nhiều người trẻ có nhiều khả năng lắm; họ đã hy sinh thời giờ, đem các khả năng mình đang có đóng góp, dấn thân trong cộng đoàn, giáo xứ trong các lãnh vực như tham gia ca đoàn, phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể, thăm viếng những người già cô đơn tại các hưu dưỡng, tổ chức gây quĩ giúp người nghèo, trẻ em nghèo tại Việt Nam và các hoạt động khác… Rất cảm phục và hoan hô.

Bạn thân mến, ai trong chúng ta chắc chắn đều có những khả năng nào đó. Tuy nhiên, chúng ta có muốn trao ban, chia sẽ nhưng không những cái mà chúng ta đang có hay không mới là điều quan trọng.

33.Suy niệm của Noel Quesson

Một giai đoạn mới của Tin Mừng Thánh Matthêu bắt đầu từ hôm nay. Sau giai đoạn đầu tiên tập trung xung quanh Bài Giảng Trên Núi, trong đó Đức Giêsu đã trình bày những nền tảng sứ điệp của Người và bắt đầu biểu lộ quyền bính độc nhất mà người có khi thực hiện một vài “dấu chỉ mầu nhiệm” đặc thù… Giờ đây là một giai đoạn mới tập trung xung quanh Bài giảng về sứ mệnh truyền giáo mà Đức Giêsu sẽ kêu gọi con người cọng tác vào sứ vụ của Người.

Đức Giêsu thấy đám đông, Người chạnh lòng thương

Đôi mắt của Đức Giêsu! Cái nhìn của Đức Giêsu! Cái nhìn tuyệt vời ấy mà một số ảnh thánh đã vẽ lại trong đôi mắt to. Có nhiều cách “nhìn”. Một nhân viên vô danh của một thương xá, đã quen với cái nhìn lãnh đạm, nói với một bà khách hàng: “Bà đã nhìn tôi không như mọi người, tôi đoán rằng có “cái gì đó” trong lòng bà…”.

Đức Giêsu “chạnh lòng thương”. Động từ Hy Lạp “esplanchmzô” có nghĩa đen là “xao xuyến trong gan ruột” và gợi lại một từ ngữ Do Thái rất quan trọng “rahamim”, thể hiện vừa “lòng mẹ” vừa “tình yêu”. Trong Tin Mừng, từ ngữ ấy dành riêng cho Thiên Chúa và Đức Giêsu (Lc 10,33; 7,13; 15,20; Mc 9,22; Tv 51,3; Gr 31,20; Is 54,7 Ds 27,16-17). Đức Giêsu để mình xúc động đến ruột gan: Tại sao? Người đã thấy cảnh tượng gì làm cho đôi mắt to của Người bao phủ bóng mờ của lòng thương cảm?

…vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.

Đôi khi lầm than vất vưởng còn được dịch là mệt mỏi, lả đi. Những con người kiệt sức, không còn có thể làm được gì! Một sự chán nản to lớn, sự chán ghét sâu xa trước cuộc đời phi lý không có ý nghĩa gì. Những đám đông không có mục tử. Những con người không có Thiên Chúa. Một nhân loại kiệt sức một cách vô ích trên những nẻo đường không dẫn đến đâu cả… như một bầy chiên đi lang thang bất định…

Phải chăng thân phận của người nghèo trên thế giới đã thay đổi nhiều từ thời Đức Giêsu? Cái nhìn hiện nay của Đức Giêsu trên nhân loại phải chăng rất khác với cái nhìn lúc đó? Còn chúng ta thì sao? Chẳng phải chúng ta được mời gọi để nhìn đến những đám đông đó sao? Những nỗi thống khổ mênh mông của hàng tỉ con người và những trẻ em thiếu ăn trên hành tinh chúng ta. Những nỗi khổ tinh thần của tất cả những người đã thất bại, đã bị bỏ rơi, không cảm thấy mình được yêu thương. Sự suy sụp của những người sống buông xuôi, sử dụng ma túy, hóa rồ dại và tự hủy hoại mình dần dần…

Lạy Chúa! Xin giúp các môn đệ của Chúa chấp nhận cái nhìn của Chúa!

Toàn thể thế giới từ nay ở dưới ánh mắt chúng ta qua màn hình của vô tuyến truyền hình. Những cuộc du hành của chúng ta trong những nước thuộc thế giới thứ ba không chỉ là du lịch. Và trong những thành phố lớn, ngay trước cửa nhà chúng ta, có một thế giới thứ tư của những con người bị đè bẹp. Chúng ta hướng về các thực tại ấy với cái nhìn nào?

Có phải chúng ta sẽ ở trong số những người… dửng dưng, chán chường, thụ động không? Và Đức Giêsu làm gì trước những cảnh tượng đó?

Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặp lại ít”.

Đức Giêsu không phải là một người chán chường. Người nhìn nhân loại như một cánh đồng lúa chín dập dờn dưới làn gió mùa hè. Mùa gặt kia rồi, tất cả đã sẵn sàng. Người ta vui mừng vì mùa gặt đến, nhưng thợ gặt lại ít. Đức Giêsu thừa nhận công việc của Người rất nhiều. Người muốn có những người cộng tác. Ai sẽ đứng dậy để hành động với Người?

Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.

Sự cầu nguyện là hành động truyền giáo đầu tiên. Tại sao?

Tại sao “chủ mùa gặt” tức Thiên Chúa không trực tiếp sai các thợ gặt cần thiết? Tại sao Người yêu cầu chúng ta cầu nguyện”? Người tôn trọng trách nhiệm to lớn của con người: Thiên Chúa cần đến những con người! Mầu nhiệm to lớn của việc cần thiết phải can thiệp bằng sự cầu nguyện, mở ra cho chính chúng ta công việc phải làm ở cánh đồng đó. Nếu bạn cầu nguyện thì người thợ găt đầu tiên mà Thiên Chúa có ngay trong tay Người, chính là bạn. Bạn không chỉ cầu nguyện để gởi những người khác đến công trường, mà bạn hãy đi đến đó! “Lạy Chúa, này tôi đây, tôi xin Chúa hãy sai tôi” (Is 6,8). Người ta lo lắng rất nhiều về trách nhiệm to lớn của việc Tin Mừng hóa. Trên hết, người ta quan tâm về các phương pháp. Nhưng trước khi để cách làm “thế nào” thôi miên, chẳng phải trước tiên người ta cần ý thức lại bản chất sâu xa của “sứ vụ” đó sao. Nhiệm vụ làm tông đồ của chúng ta tùy thuộc vào Đấng Tha Thể Tuyệt Đối (Đấng Khác) sai chúng ta đi…

Đó không phải công việc “của chúng ta”. Chúng ta không làm việc bởi sức mình. Chúng ta ở trong cánh đồng của Thiên Chúa, trong mùa găt của Người, “Đấng muốn rằng nhân loại được cứu” (1Tm 2,4). Từ đó, có sự ưu tiên của việc cầu nguyện trên mọi phương pháp. Và phải chăng khủng hoảng của ơn gọi thực ra chỉ là một khủng hoảng của sự cầu nguyện?

Rồi Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

Đức Giêsu không có ý định một mình thực hiện công việc của Thiên Chúa: Người trao dự án và quyền bính của Người cho “một ít người”, mười hai người mà Người chọn trong số hàng trăm môn đệ đi theo Người: Chức tư tế thừa tác bắt nguồn từ đây, trong ý muốn tổ chức Giáo Hội của Người.

Con số “mười hai” là con số tượng trưng. Nó ám chỉ mười hai bộ tộc của Israel tạo thành “dân Thiên Chúa” và bảo đảm việc phụng tự mỗi tháng, trong mười hai tháng của năm âm lịch. Vì thế con số mười hai này biểu thị toàn bộ miền “đất hứa”, vì toàn bộ “thời gian”.

Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ: đứng đầu là ông Simon, cũng gọi là Phêrô, rồi đến ông Anrê, anh của ông; sau đó là ông Giacôbê con ông Dêbêđê, và ông Gioan, em của ông, ông Philípphê, và ông Batôlômêô; ông Tôma và ông Mátthêu người thu thuế, ông Giacôbê con ông Anphê và ông Tađêô; ông Simon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giuđa Iscarios chính là kẻ nộp Người.

Các sách Tin Mừng đưa ra cho chúng ta danh sách này bốn lần: với một vài sự khác nhau nhỏ nhưng với sự phù hợp tối đa. Matthêu đã tập họp tất cả các tên ấy “từng đôi một”. Đây không phải là chuyện ngẫu nhiên. Việc thành lập “đội quân” của Đức Giêsu rất có ý nghĩa: Người đã chọn làm những người cộng tác mật thiết cùng lúc một người ‘thu thuế’ bởi nghề nghiệp mà thỏa hiệp với quân chiếm đóng La Mã… và một người thuộc nhóm ‘quá khích’, theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chống lại người La Mã. Một sự phối hợp dễ bùng nổ, Matthêu nhấn mạnh: đây không phải do sự ngẫu nhiên…

Chẳng phải là Giáo Hội chủ yếu phải “đa nguyên”, để có thể đảm đương những điểm khác nhau và những xung đột của thế giới… để: giải quyết chúng trong một sự hiệp thông cao cả hơn. “Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Còn Thầy, Thầy bảo thật anh em: “Hãy yêu kẻ thù” (Mt 5,43-48). Sau hết, chúng ta cũng đoán ra Giáo Hội phải có sự khiêm nhường nào. Trong những người có trách nhiệm, Giáo Hội lúc đó bao gồm “người’ đứng đầu”, Simon Phêrô, người đã chối Đức Giêsu, và “người đứng cuối”, Giuđa, là người đã nộp Chúa cho các đao phủ. Quả là một đội quân đáng thương. Nó chỉ mạnh bởi sự chọn lựa mầu nhiệm mà Chúa Giêsu đã thực hiện: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa nhưng là bạn hữu” (Ga 15,15).

Đức Giêsu sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng: “Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Samari. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc anh nhà Israel”.

Đức Giêsu sai họ đi! Nào anh em hãy đi! Hãy lên đường! Nhưng chúng ta nhận thấy rằng “môi trường hoạt động” rất hạn chế, trái ngược với sứ vụ bao quát cả hoàn vũ mà Người sẽ truyền lệnh sau khi Người sống lại: “Vậy anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Tại sao sứ vụ đầu tiên này ở Galilê có những sự hạn chế? Có lẽ để nói rằng Thiên Chúa trung tín với điều hứa của Người và Israel phải là người đầu tiên đón nhận Tin Mừng (đó là điều Thánh Phaolô sẽ làm). Nhưng cũng bởi vì xét về phương diện con người, người ta không thể làm tất cả mọi sự: phải bắt đầu và không được ẩn náu trong sự to lớn của nhiệm vụ để không làm gì cả!

Nào anh em hãy đi! Hãy lên đường! Anh em được sai đi. Mỗi sự quy tụ của các Kitô hữu phải hoàn thành trong sự sai đi này: Ite, missa est! Cộng đoàn Giáo Hội, dưới khía cạnh phụng vụ, là một cuộc tập hợp tạm thời phải được chuẩn bị để đi vào thế giới ngõ hầu cùng với mọi người, tín hữu hoặc không phải là tín hữu, tạo thành một “cộng đoàn nhân loại”. Giáo Hội được quy tụ vì Thánh Thể có tính chất “ngôn sứ”: Giáo Hội “nói lên” dự án của Thiên Chúa là “quy tụ lại trong sự hiệp nhất mọi con cái của Thiên Chúa đã bị phân tán”. Giáo Hội nói lên rằng nhân loại từ nhiều phải được làm nên một, theo hình ảnh của Ba Ngôi. “Để tất cả nên một như Chúng Ta, như vậy thế gian sẽ tin” (Ga 17,21). “Sứ vụ”, “sự sai đi” là yếu tính của Giáo Hội. Nhiệm vụ đầu tiên của Giáo Hội không phải là tuyển mộ: “Anh em hãy đến gặp chúng tôi!” mà là công bố: “Nước Trời ở đây rồi”; “Thiên Chúa ở với anh em, nơi anh em đang ở”. Trước tiên, phải Tin Mừng hóa, phải rao giảng Tin Mừng.

Dọc đường hãy rao giảng rằng: “Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy”.

Đây là những công thức tượng trung để diễn tả “Dự án” của Thiên Chúa. Mọi đời sống con người đã được Thiên Chúa cư ngụ và có được một ý nghĩa vượt qua chính nó: “bạn sẽ không chết”. Cưới nhau và sinh con cái chính là tin rằng sự sống vượt qua sự chết. Triều đại của Thiên Chúa “đã bắt đầu”. Sự khác nhau giữa người tín hữu và kẻ vô thần, đó là người tín hữu lắng nghe ở đáy lòng, “ý nghĩa” của điều mình sống, và người ấy biết điều đó dẫn đến đâu. Người ấy “tin rằng” Thiên Chúa hướng dẫn lịch sử và người ấy tham gia vào lịch sử ấy với nhiều ý thức nhất khi làm cho sự sống chiến thắng.

34.Phương pháp hiệu quả nhất.

(ĐỐI THOẠI VỚI THIÊN CHÚA – Fernandez)

1) Tinh khẩn thiết của sứ mạng tông đồ: mùa màng thì nhiều mà thợ gặt lại ít

Bài Tin mừng trong Thánh lễ hôm nay vẽ ra một cảnh tượng mà chắc chắn đã thường xuyên xảy ra mỗi khi Chúa Giêsu rảo bước qua các thành thị và làng mạc để rao giảng Nước Trời đang đến gần. Khi nhìn đám đông, Người chạnh lòng thương; Người đã xúc động trước cảnh ngộ khốn khổ của họ vì thấy họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt (Mt 9,36). Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,37). Ngày nay hoàn cảnh cũng tương tự như thế, có quá ít nhân lực để thực hiện một công trình to tát. Hoa mầu có thể thất thu vì không có người ra đồng mà gặt. Vì thế có một nhu cầu thúc bách các Kitô hữu sống trung tín đơn thành hiệu quả và vui tươi với Hội Thánh và ý thức được những việc cần phải làm. Tất cả chúng ta đều can dự vào công việc này, vì Thiên Chúa đang cần những công nhân, sinh viên đem Đức Kitô đến công trường hay vào giảng đường bằng uy tín và tinh thần tông đồ của họ. Thiên Chúa cần những giáo viên sống mẫu mực, truyền bá nhân sinh quan Kitô giáo, những giáo viên biết tận tụy dành thời giờ cho sinh viên, những giáo viên chính hiệu. Thiên Chúa cũng cần những bậc làm làm mẹ biết quan tâm đến việc giáo dục và đức tin của con cái và đóng một vai trò tích cực trong hội đồng nhà trường, các ủy ban và hiệp hội địa phương.

Khi chúng ta thấy nhiều người đang đi vào con đường sai trái, cuộc đời họ luôn thiếu vắng Thiên Chúa và trong lòng chỉ quan tâm tới của cải vật chất hay khao khát muốn chiếm hữu những của cải ấy, chúng ta không thề cứ ù lì, bất động, “bình chân như vại” mãi được. Vì mặc dù bề ngoài họ có vẻ dửng dưng, nhưng thâm sâu trong tâm hồn, họ vẫn khát khao tìm Thiên Chúa. Họ mong muốn có ai đó nói với họ về Thiên Chúa và những chân lý cứu độ. Nếu các Kitô hữu không lấy tinh thần hy sinh ra mà giải quyết vấn đề này, thì những lời tiên tri của ngôn sứ Giôen ngày xưa sẽ trở thành sự thật mất thôi: Đồng ruộng bị tàn phá, đất đai cũng u sầu như thể chịu tang, vì lúa mì bị tàn phá, rượu mới đã cạn khô, dầu tươi chẳng còn nữa. Hỡi nhà nông, hãy thẹn thùng xấu hổ, kẻ trồng nho, hãy rú lên nào, tiếc cho lúa miến, lúa mạch, vì đồng ruộng chẳng còn gì để gặt hái. Nho cằn cỗi, vả héo tàn, cả lựu, cả chà là lẫn táo, mọi cây cối ngoài đồng đã chết khô. Thế là đã cạn hết niềm vui của con cái loài người (Ge l,1-12). Thiên Chúa mong mỏi hoa mầu được thu hoạch nhưng chúng lại thất thoát chỉ vì sự chểnh mảng của đám thợ gặt mà thôi.

Những lời Chúa Giêsu nói, lúa chín thì nhiều nhưng thợ gặt thì ít, đáng cho chúng ta hôm nay suy gẫm, và hàng ngày xét mình xem: hôm nay chúng ta đã làm cho Danh Chúa được tỏ hiện cho mọi người chưa? Tôi đã nói với ai về Đức Kitô chưa? Tôi đã làm được một việc tông đồ nào chưa? Tôi có quan tâm đến ơn cứu độ của bằng hữu và đồng nghiệp? Tôi có nhận thức rằng nhiều người có thể đến gần Thiên Chúa hơn nếu như tôi dạn dĩ hơn và gương mẫu hơn trong việc chu toàn những nghĩa vụ bổn phận hàng ngày?

2) Không được viện cớ thoái thác.

Thiên Chúa kêu gọi mọi người làm tông đồ. Cầu nguyện là phương thế cần thiết và hiệu nghiệm nhất để thực thi sứ mạng ơn gọi này.

Người ta có thể đưa ra nhiều lời bào chữa cho việc đã không mang Đức Kitô đến với tha nhân – nào là thiếu nhiều phương tiện, chưa chuẩn bị tương xứng, không có thời giờ, nào là vì chúng ta đang sống ở xó xỉnh này có quen biết được bao nhiêu người đâu hay vì chúng ta sẽ phải đi thật xa, hay cho dù ngay trong vùng chúng ta đang sống cũng phải đi thật nhiều. Tuy nhiên Thiên Chúa tiếp tục nhắc nhở tất cả chúng ta, và đặc biệt hơn trong thời đại mà người ta quá dửng dưng với tôn giáo này, rằng mùa màng thì nhiều mà thợ gặt lại ít. Hoa màu không thu hoạch kịp sẽ bị hư thối. Những lời vàng ngọc của thánh Gioan Kim khẩu sau đây cũng có thể giúp chúng ta thấy được là trong khi cầu nguyện, chúng ta có quá dễ dàng thoái thác lời kêu gọi cao quý đến nỗi từ chối làm tông đồ theo như thánh ý Chúa. Không có ai lạnh lùng nn tâm hơn một Kitô hữu mà chẳng biết quan tâm đến ơn cứu độ của tha nhân. Anh em không được dùng sự nghèo khổ mà biện bạch. Bà góa dâng cúng vào đền thờ vài xu kia sẽ tố cáo bạn cho mà xem. Chính thánh Phêrô cũng nói: “Vàng bạc thì Ta chẳng có” (Cv 3,6). Còn Thánh Phaolô còn nghèo đến độ lắm phen phải chịu cảnh đói khát thiếu thốn mọi phương tiện cần thiết để sống, Đừng viện cớ hoàn cảnh khiêm hạ bình dân để biện minh chữa mình. Các Ngài cũng xuất thân từ đám người khiêm hạ nhất đấy thôi. Cũng đừng phân trần kêu ca mình thiếu kiến thức này kia. Các Ngài cũng mù chữ thất học cả đấy. Dù có là nô lệ tôi đòi, hay là khách kiều cư di dân lập nghiệp, anh em phải làm tất cả những gì có thể làm. Ônêsimô trước vẫn thế, và hãy khôn ngoan trong ơn gọi của mình… Đừng kêu ca ốm đau bệnh hoạn để biện minh chữa mình. Timôthê cũng thường xuyên đau ốm đấy thôi… Mỗi người trong chúng ta đều có thể có ích cho những người chung quanh nếu như chúng ta làm tất cả những gì chúng ta có thể làm. Chúng ta muốn trung tín với Thiên Chúa. Chúng ta sẽ mãi tín trung với Ngài nếu chúng ta làm tất cả những gì chúng ta có thể.

Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Thánh Gregoriô chú giải thế này: Khi nghe câu này, chúng ta không thể không cảm thấy buồn, vì chúng ta biết rằng có nhiều người muốn nghe Tin mừng, nhưng cái đang thiếu là thiếu những người đi loan báo cho những tin vui này.

Vì thế để có nhiều người vai kề vai, mỗi một người trong vị trí riêng của mình, cùng nhau làm việc trên thế giới này, chúng ta chỉ có một cách là đi theo con đường chính Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta: Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về (Mt 9,37). Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cầu xin Thiên Chúa đánh thức ước muốn, trong nhiều tâm hồn, được góp phần to lớn hơn vào công cuộc cứu độ. Cầu nguyện là những phương tiện hiệu quả nhất để thu phục những tông đồ mới và giúp con người khám phá ra ơn gọi của mình. Trong kinh nguyện dâng lên Thiên Chúa, ước muốn có thêm những tông đồ phải được chúng ta bộc bạch với Ngài trước mọi điều khác: nài xin khiêm tốn, tín thác và liên lỉ. Tất cả mọi Kitô hữu cần cầu xin Thiên Chúa sai thợ ra gặt lúa về. Nếu chúng ta cầu xin Thiên Chúa ban nhiều ơn gọi, thì chính chúng ta sẽ cảm thấy thôi thúc hơn, bạo dạn hơn trong công tác tông đồ của chúng ta, vì thế cũng có thể thu hút thêm nhiều thợ gặt mới cho vụ mùa.

3) Cầu xin Thiên Chúa ban nhiều ơn gọi

Bằng cách sai các môn đệ đi trước, Chúa Giêsu đã chuẩn bị xa cho những chuyến đi của Người tới những làng mạc thị thành khác. Công việc ấy mới chỉ là chuẩn bị nhưng cũng là công tác tông đồ cả đấy. Các tông đồ đã đi vào các làng mạc nơi chính Chúa Giêsu sẽ đến. Mọi công tác tông đồ chẳng qua đều là nhắm đến mục tiêu chuẩn bị cho người ta đón nhận Thiên Chúa đến với họ.

Lúa chín vẫn cứ nhiều… chúng ta cứ phải tiếp tục cầu xin Thiên Chúa đánh thức tâm hồn mọi Kitô hữu nam cũng như nữ để họ nhận ra được ý nghĩa ơn gọi trong cuộc đời mình. Họ sẽ nhận thức rằng mình không chỉ muốn sống lương thiện tốt lành, mà còn phải tập tành làm thợ gặt trong cánh đồng của Thiên Chúa, mỗi khi quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu. Nam hay nữ, trẻ hay già đều sống tận hiến cho Thiên Chúa trên đời này; nhiều người độc thân làm tông đồ; cả những Kitô hữu bình thường, trong khi cùng sinh hoạt với mọi người trong xã hội, lại là những người mang Đức Kitô vào tận giữa lòng cuộc đời này.

Hãy cầu xin chủ mùa gặt… chúng ta cũng phải cầu xin cho có nhiều ơn gọi linh mục và tu sĩ, những ơn gọi đầy hân hoan thánh thiện và trung tín, những ơn gọi rất đỗi cần thiết cho Hội Thánh.

Chúa Giêsu, một mình Người vẫn có thể thực hiện trọn vẹn ơn cứu độ trên thế gian này, nhưng lại muốn cậy dựa vào các môn đệ đi trước mình vào các làng mạc thị thành, và nay là các đại học, các công trường nhà máy, để loan báo những kỳ công, dấu lạ, điềm thiêng và những yêu sách đòi hỏi của Vương quốc Thiên Chúa đang ngự đến. Rõ ràng là Hội Thánh Mẹ chúng ta đang cần những người dấn thân vào con đường tận hiến thánh thiện này. Các Đức giáo hoàng Rôma đã không ngừng nhắc nhở chúng ta nhớ đến nhu cầu khẩn thiết cần có những ơn gọi làm tông đồ, vì công cuộc phúc âm hóa thế giới này đang nằm trong tay những ơn gợi ấy.

Hãy cùng tôi kêu lên: “Lạy Chúa Giêsu, các linh hồn!… các tâm hồn tông đồ! Ho thuộc về Chúa, họ sống cho Chúa, cho Vinh Danh Chúa”. Cuối cùng anh em sẽ thấy Ngài sẽ nhậm lời chúng ta.

Phần tôi, tôi đang làm gì để thu nhận những ơn gọi này? Những ơn gọi này sẽ xuất hiện giữa con cái, anh em, chị em, họ hàng, bằng hữu và người quen biết của chúng ta. Chúng ta đừng quên Thiên Chúa muốn gọi nhiều người. Chúng ta hãy xin Ngài ban ơn thúc đẩy và khuyến khích ơn thiên triệu cho những người chúng ta tiếp xúc hằng ngày.

Chúng ta cũng cầu xin Đức Maria giúp chúng ta lắng nghe nghiêm túc Lời Chúa hôm nay và quyết tâm làm tất cả những gì chúng ta có thể, với ý thức khẩn trương và liên tục nhờ vậy để chúng ta sẽ được thấy nhiều thợ gặt đến làm việc trong cánh đồng Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu xin Ngài ban cho mình niềm vui được làm dụng cụ cho Chúa Giêsu mời gọi người khác. “Tin vui đây: một “gã khùng” khác sắp vào nhà thương điên đây… Và tất cả mọi chuyện đều trở nên hồ hởi phấn khởi qua lời lẽ của anh thuyền chài nọ… Xin Thiên Chúa làm cho những mẻ lưới của anh em đầy tràn.”

Thiên Chúa không bao giờ quên được ‘anh chàng thuyền chài’ đó đâu.

35.Sứ mệnh của Nhóm Mười Hai

(Trích trong “Chú giải Phúc Âm Chúa Nhật của Giáo Hoàng Piô X Học Viện”)

CÂU HỎI GỢI Ý

1. Chủ đề “quyền bính” (quyền năng) có được nhắc lại trong đoạn văn này không?

2. Con số 12 ở đây có ý nghĩa gì đặc biệt?

3. Hình ảnh đoàn chiên không người chăn và hình ảnh mùa gặt có phải là do Chúa Giê-su tạo ra không?

4. Phải hiểu thế nào lời Chúa Giêsu ra lệnh cho các sứ đồ đừng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại?

5. Trong Mt, sau Diễn từ về sứ mệnh, ta có thật chứng kiến một chuyến truyền giáo của nhóm 12, như trong Mc và Lc không? Tại sao?

***

1. Với đoạn văn hôm nay, ta vượt qua một giai đoạn quan trọng trong tình thuật Mt. Theo bố cục căn bản của Tin Mừng này, ta đang đến bài huấn thị dài thứ hai của Chúa Giêsu trong bài huấn thị làm thành 5 mốc chủ yếu của Tin Mừng. Sau khi mô tả sự “công chính” mới hay sự trung tín của Nước Trời (ch. 5- 7), và trước khi diễn tả mầu nhiệm” của nó trong các dụ ngôn ở chương 13, tác giả giới thiệu các truyền lệnh sứ của Nước ấy với các huấn thị mà họ nhận được từ Chúa Giêsu. Tất cả đều nằm trong quan niệm sư phạm và thần học của Mt. Ta dễ dàng ghi nhận mối liên hệ về văn chương cũng như về tư tưởng giữa bản văn với những gì đi trước: Nếu các chương 5 đến 7, với phần trình thuật bổ túc là các chương 8 và 9, bị chi phối bởi ý tưởng Chúa Giê-su có quyền bính trong việc giải thích Lề luật và trong mối liên hệ với giáo quyền (Biệt phái)  cũng như quỷ thần (bệnh tật) của thời Người và của dân Người,  thì phần này lại trình bày cho thấy quyền năng đó đã được Chúa Giêsu ban (10, 1) cho sứ đồ Ngài.

2. Thật là đầy ý nghĩa khi Simon được nêu danh trước mọi sứ đồ khác với cái tên thứ hai là Phêrô. Nhưng lâu về sau, Mt mới ghi lại các hoàn cảnh của việc ông nhận tên ấy (16, 18). Đây là một bản danh sách chính thức trong đó tên thứ hai của Simon được ghi vào. Tiếp theo ông, người ta nêu danh hai nhóm anh em (câu chuyện kêu gọi họ đã được ghi lại trên kia, 4, 18- 22), những kẻ mà thời đầu Giáo Hội chắc đã coi như là những người được hiệu triệu trước tiên. Còn các tên khác, Tin Mừng chỉ nêu ra chi tiết về hai người: Matthêô (Lêvi) nhân viên thu thuế, kẻ được gọi khi đang hành nghề (9,9), và Giuđa,  tên phản bội. Tin Mừng thứ tư ghi thêm vài chi tiết liên hệ đến ông Philipphê, Batôlômêô và Tôma nữa (Ga 1 , 43- 51; 6, 5-7; 14, 8- 10). Nhưng từng ấy không đáng kể tí nào. Nên chẳng lạ gì khi thấy về sau người ta đã thêu dệt thêm các dữ kiện ít ỏi đó hầu lắp đầy những lỗ trống lớn của bản văn Tin Mừng. Nhưng tác giả bản văn ta đang nghiên cứu đã không tìm cách thỏa óc hiếu kỳ hay các loại tình cảm đạo đức; ông chỉ muốn mọi cái đều tập trung vào điểm thiết yếu: Chúa Giêsu, Đấng Mê-si-a. Ngay cả những kẻ được trao phận vụ tối thượng là làm sứ đồ cũng chỉ có giá trị nhờ Người, với Người và trong Người mà thôi.

3. Tuy thế, việc đơn giản nêu danh cũng cho ta một vài nhận xét, đặc biệt về thành phần cấu tạo của nhóm Sứ đồ. Có các tên Hy lạp và Do thái cho thấy mấy ông thuộc nhiều miền khác nhau trong xứ Palestin; vài ngư  phủ chất phác đứng bên cạnh một đảng viên đảng cấp tiến tên là Nhiệt Thành (Simon nhiệt.Thành); rồi có môn đồ của Gioan Tẩy giả nữa (Giacôbê và Gioan.). Tóm lại, nhóm thật mang nhiều sắc thái. Rõ ràng là Chúa Giê-su không tìm cách quy tụ quanh mình các phần tử dễ tính và học thức, cũng chẳng muốn liên kết với những kẻ nịnh bợ xu thời. Người phải khổ sở vất vả với họ và hình như đã chẳng thâu lượm mất kết quả khả quan. Tuy nhiên, ngày họ thực sự hoán cải và lãnh nhận Thánh Thần, họ đã biến thành những nhân chứng sẵn sàng đổ máu, và trở nên cột trụ nền tảng của tòa nhà Giáo Hội.

CHÚ GIẢI CHI TIẾT

“Thấy dân chúng, Người chạnh lòng thương họ”: khởi điểm sứ mệnh tạm thời của nhóm 12 và khởi điểm toàn thể sứ mệnh của Giáo Hội là lòng trắc ẩn của Chúa Giêsu … Đây là một thứ tình cảm sâu đậm (chữ Hy lạp gợi lên hình ảnh tâm thần xao xuyến) mà Cựu ước đã gán cho chính Thiên Chúa (Xh 34, 6; Tv 103, 8- 13; Tv 103, 8- 13; Hs 2, 2- 3; Gr 31, 20; Is 54, 7) và các Tin Mừng dành riêng cho Chúa Giêsu (Mt 14, 14; 15, 32; 20, 34; Mc 6, 34; 8, 2;  9, 22; Lc 7, 13) hay cho các nhân vật dụ ngôn tượng trưng Người hay Thiên Chúa (Lc 15, 20; Mt 18, 27; x. Lc 10, 35).

“Vì họ bơ phờ vất vưởng như chiên không người chăn giữ” ở đây điều làm Chúa Giêsu âu yếm xót thương là tình cảnh quẫn bách của những đoàn lũ “bơ phờ”, “yếu liệt”, “nằm sòng sãi “, như một đàn chiên không có chủ chăn. Hình ảnh thôn dã này mượn từ Cựu ước, mà bản văn gần giống nhất là Ds 27, 16-17: Môien thưa với Giavê rằng: Lạy Giavê, xin Ngài đặt một ai đó trên cộng đoàn, để ra trước chúng và vào trước chúng để đem chúng ra và đem chúng vào, hầu cộng đoàn của Giavê khỏi như chiên không người chăn giữ “. Đàn chiên của Thiên Chúa, trong suốt giòng lịch sử, đã từng bị những tên lái buôn “bóc lột và phân tán” (Dcr 11, 7. 11; x. 1 V 22, 17; Gr 23, 1- 2; 50, 6; Ed 34, 1- 10; Is 56, 11); và bây giờ vẫn còn những kẻ hướng đạo đui mù (Mt 15, 14; 23, 16. 24) dùng môn học thuyết sai lạc của họ (16, 12) làm lạc hướng đàn chiên, vẫn còn những hạng chăn thuê vô liêm sỉ làm chiên tan tác (Ga 10, 12tt). Vì thế Chúa Giêsu, chủ chăn vương giả mà Edêkien laon báo (34, 23tt), mục tử tuẫn nạn mà Dacaria đệ nhị đã thoáng thấy mơ hồ (13, 7 = Mt 26, 31), sắp ủy thác cho nhóm 12 trách vụ quy tụ đàn chiên từ mọi chuồng chiên khác (Ga 10, 16) như ngày xưa Môisen đã ủy thác dân cho môn đồ mình là Giosuê chăm nom (Ds 27,17). Đây thật là một vinh dự lớn  lao và cũng là một trách nhiệm nặng nề cho nhóm 12 môn đồ của Môisen mới…

“Mùa màng nhiều, thợ gặt ít”: Mùa gặt là một hình ảnh cổ điển Cựu ước thường dùng để chỉ cuộc Chung thẩm của Thiên Chúa (Is 27, 12; Ge 4, 13 v.v…). Trong. Tân ước mùa gặt này thường phân làm hai, gồm giai đoạn đầu được đánh dấu bởi thời gian của Chúa Giê-su và của Giáo Hội và giai đoạn hay lịch sử chấm dứt, lúc Con Người sẽ thu lúa vào lẫm (Mt 13, 30) và đốt cỏ lùng (13, 30. 41tt): đó sẽ là mùa gặt sau hết (Mc 4, 29; Kh 14, 14tt), là “ngày tận thế” (Mt 13, 39), ngày chung thẩm (25, 31- 46) và bấy giờ thợ gặt sẽ là chính Chúa Ki-tô với các thiên thần của Người (13, 39; x. Kh 14, 14- 19). Nhưng trong khi chờ đợi ngày tận cùng đó, thì kể từ cuộc giáng lâm lần thứ nhất của Chúa Kitô, rõ ràng phải cần một vụ gặt qua sự kiện là đã có sự phân biệt giữa hạt giống tốt và xấu, khi Tin Mừng đòi buộc con người phải tuyên bố theo hay chống Chúa Ki-tô (Mt 10, 13- 16. 40; Ga 3, 18tt). Đấy là công việc chuẩn bị trong đó Chúa Giêsu đã đóng vai trò gieo giống (Mt 13, 1- 8ss; 13, 37; Ga 4, 36tt), còn nhóm 12 sẽ là những người thu hoạch.

Chính mùa gặt tiên trưng này là mùa mà nhóm 12, khi thụ hưởng các thành công đầu tiên của Chúa Giêsu, thấy mình được Người ủy thác cho tại Galilê, và chính về nó mà ta có thể áp dụng trước tiên câu nói của Chúa Giêsu trong Gioan: “Thầy đã sai các con đi gặt nơi các con đã không vất vả làm ra: có những kẻ khác đã vất vả rồi, còn các con chỉ đến thừa hưởng công lao của họ” (Ga 4, 38). Tuy nhiên sứ vụ ở Galilê chỉ là mào đầu và là hình ảnh của những mùa lúa chín vàng (Ga 4, 35) và phì nhiêu (Mt 9, 37) mà các sứ đồ cùng bao thợ khác của Tin Mừng, thừa hưởng công lao khó nhọc và hoa quả của hy tế Chúa Giêsu (x. Ga 4, 6; 12, 24), sẽ thu vào lẫm (so sánh Ga 4, 37tt và Cv 8, 15tt) từ ngày Hiện xuống.

“Chữa mọi tật nguyền bệnh hoạn”: Ở đây Mt dùng lại cùng những hạn từ đã sử dụng để nói lên quyền năng tràn đầy mà chính Chúa Giêsu đã được trao ban (9, 35); qua cách đó ông cho thấy các sứ đồ hoàn toàn in hệt Người và họ phải trở nên như cánh tay nối dài của Người vậy. Họ sẽ hoàn tất các công thành giống như của Người và sẽ củng cố lời rao giảng của họ bằng cách làm phép lạ. Uy quyền của Chúa Giêsu được chuyển qua cho môn đồ của Người vậy.

“Mười hai sứ đồ “: Đây là lần duy nhất Mt dùng thành ngữ này; nơi khác, ngoài thành ngữ “nhóm 12” (10, 5; 20, 17; 26, 14. 20. 47), ông sẽ viết “12 môn đồ ” (10, 1; 11, 1; x. 28, 16) hay các môn đồ ” (13, 10; 14, 15; 26, 8. 56 v.v. ..), vì hơn Mc và Lc, Tin Mừng thứ nhất ưa lẫn lộn môn đồ và sứ đồ với nhau. Kiểu nói bất thường của đoạn văn chúng ta sử dụng chữ “sứ đồ” theo chính xác được dùng trong Giáo Hội sơ khai để chỉ nhóm 12 và một vài nhân chứng chính thức khác của việc Chúa phục sinh.

“Đừng lên đường đến các dân ngoại”: Mấy chữ này rõ ràng là kiểu nói cổ xưa (như kiểu nói “thành của người Samari” để chỉ tỉnh Samari), có căn ngữ  Aram (kết quả nghiên cứu Schurmann, Cerfàux) cũng chắc chắn phát xuất từ một nguồn trước Mt; và bởi thế ta hiểu được rằng Mc và Lc đã dùng đến vì nể các độc giả lương dân của họ. May thay còn lại các chữ đó, vì chúng là bằng chứng cho thấy các Ki-tô hữu đầu tiên đã xem việc truyền giáo ở Galilê là một sự kiện lịch sử, đáng ghi nhớ. Ông không xem đó như là lời phát biểu một nguyên tắc ngàn đời của việc truyền giáo, vì như vậy mâu thuẫn với mệnh lệnh sau cùng mà ông có ghi lại: các con  hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân” (28, 19), nhưng xem như  là lời diễn tả một kế hoạch tạm thời, mà tất cả thái độ của Chúa Giêsu đã làm chứng cho thấy, một kế hoạch mà theo đó Tin Mừng phải được dành riêng cho “con cái của Vương quốc” (8, 12) Trong một thời gian đầu, nghĩa là cho đến cuộc chiến thắng phục sinh, cái biến cố sẽ tạo nên khí cụ cứu rỗi cho tất cả mọi người, tạo nên chủ đề chính yếu của lời rao giảng và khởi điểm của việc rao giảng khắp vũ hoàn. Mt đã nghĩ rằng độc giả của ông đủ thông minh để phân biệt, trong mớ tài liệu sưu tập của chương 10, cái gì đã chỉ có giá trị đối với việc truyền giáo ở Galilê và cái gì áp dụng được cho mọi thời đại của Giáo Hội.

“Hãy loan báo … hãy chữa lành”: Việc rao giảng của Chúa Giêsu và của các sứ đồ ở Galilê đã quy hướng cái nhìn của Israel về sự can thiệp dứt khoát cận kề của Thiên Chúa, được hứa thực hiện trong thời sau hết (Is 52, 7; Dcr 14, 9; Đn 2, 44 v.v…). Và các phép lạ cùng các việc trừ quỷ của Chúa Giêsu, đi đôi với lời người rao giảng (Mt 4, 23; 9, 35; Lc 9, 11…) làm nên khởi nguyên (Mt 12, 28; Lc 17, 20) cũng như dấu chỉ của Vương quyền cứu độ này của Thiên Chúa. Đó cũng là vai trò của các phép lạ và việc trừ quỷ do nhóm 12 thực hiện. Ngoài ra Mt còn ghi thêm lệnh phục sinh kẻ chết và tẩy sạch người phung hủi; như thế ông đã đưa ra được bản liệt kê các dấu chỉ thiên sai, cảm hứng từ Is, gần giống với bản liệt kê trong câu Chúa Giêsu trả lời cho Gioan Tẩy giả (11, 4).

Sau này, các sứ đồ sẽ tiếp tục rao giảng Nước Trời (Cv 19, 8; 20, 25; 28, 23. 31), nhưng sẽ thêm vào đó (Cv 8, 12) tên của Đấng đã chết để giải thoát ta khỏi ách kìm kẹp của Satan, tội lỗi và sự chết, đã được tôn phong làm Chúa trên trời (Cv 2, 30- 36; Pl 2, 11; Kh 19, 16) và sẽ trở lại hoàn thành Vương quốc (1Cr 15, 20- 28. 50; Cv 3, 21…). Để củng cố lời rao giảng Tin Mừng (Mc 16, 15- 18; Cv 4, 29tt), họ sẽ tiếp tục chữa lành bệnh tật (Cv 3, 1- 10; 5, 15tt; 8, 7; 9, 32- 35; 19, 12), phục sinh kẻ chết (Cv 9, 36- 42; 20, 7- 12), xua trừ ma quỷ (Cv 8, 7; 16, 16) và tỏ ra bất vụ lợi hoàn toàn (1Tx 2, 2- 12; Cv 8, 19tt). Tiếp tục trách vụ của họ, Giáo Hội truyền giáo sẽ không thể tách rời việc rao giảng Tin Mừng với các hoạt động bác ái vô vụ lợi, vì cả hai đều ban phát cho mọi người ơn cứu độ hoàn toàn Chúa Giêsu đã đạt được.

KẾT LUẬN

Chúa Giêsu đã động lòng xót thương đàn chiên bơ vơ lạc lõng trước mặt Người cũng như các con chiên bơ vơ Người thoáng thấy trong muôn thế hệ về sau. Trước khi hiến thân để chỉ con “một đàn chiên, một chủ chiên” (Ga 10, 16), Người đã chọn và sai nhóm 12, thủ lãnh của một dòng dõi những kẻ phục vụ Tin Mừng, để họ rao giảng Tin Mừng, xua đuổi Tà thần, chữa lành bệnh tật, nghĩa là ban phát cho toàn thể con người ơn cứu độ mà Người đã tạo được nhờ lao nhọc gieo vãi và cứu chuộc Giáo Hội, thành thánh đặt cơ sở trên 12 móng, mỗi móng mang tên của một trong 12 sứ đồ của Con Chiên (Kh 21,14), có trách vụ tiếp tục cho đến tận thế sứ mệnh rao giảng Tin Mừng và ân cần chăm sóc hết những ai đau khổ. Nhưng vì thợ gặt ít, nên Chúa Giêsu xin ta cầu nguyện: Lạy Chúa, xin hãy sai thợ gặt đồng lúa của Ngài !

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Khi hạn định sứ mạng của mình trước tiên cho người Do thái, Chúa Giêsu đã tuân theo một trật tự, một tiến trình cứu rỗi đã được tiên liệu chiếu theo quyết định của Thiên Chúa: bắt đầu từ dân Do thái đi đến dân ngoại. Người đã hiểu sứ mệnh mình như thế và đã nghiêm túc tuân theo. Có lẽ Người đã đau khổ vì sự hạn chế này. Sự vâng phục này nằm trong sự từ bỏ sâu xa và hoàn toàn của Con Thiên Chúa, mà nhờ đó la được cứu chuộc. Giữa bao lao nhọc truyền giáo và mục vụ, ta chớ bao giờ quên rằng: điều quan trọng không phải là số lượng công việc đã làm, đường xa đã đi, số người đã ảnh hường, tính cách bao la của công trình, nhưng là thi hành thánh ý Thiên Chúa trong các giới hạn mà thánh ý Ngài đã ấn định.

2. Thiên Chúa đã muốn cần đến con người để tiếp nối hành động Ngài trong thế gian. Ngài có thể bất cần sự hợp tác đó thế nhưng Ngài đã muốn cho con người tham dự vào cuộc tạo dựng thứ hai (việc rao giảng Tin Mừng làm lại con người một cách khác từ cái chết do tội) sau khi đã kết nạp họ vào cuộc tạo dựng thứ nhất (“Hãy nên đầy dấy trên đất và hãy bá chủ nó “, St 1, 28).

3. Những kẻ Thiên Chúa gọi, thì Ngài gọi cách tự do, chứ không chiếu theo danh nghĩa đặc biệt nào (giai cấp xã hội, quốc tịch, chính kiến, thông minh…). Tuy nhiên Ngài ưa tiên lưu tâm đến những người đơn sơ chất phác, nghèo hèn, ít học… Điều Ngài đòi hỏi là sự cởi mở, quảng đại, sẵn sàng. Nếu có các đức tính đó, Ngài có thể làm những việc kỳ diệu, dù họ vẫn còn nhiều khuyết điểm và yếu đuối của con người.

4. Lòng thương xót trắc ẩn của Chúa Kitô thúc bách Người lắng lo cho các chiên không chủ chăn thời đó. Ngày nay phải chăng đã đổi hoàn cảnh? Không! Đọc bất cứ tờ báo nào, nghe bất cứ đài phát thanh nào, ta đều chứng kiến bao cảnh biểu lộ sự bối rối hay thất vọng trước nỗi khó khăn, phi lý của cuộc đời. Nhìn đám đông trong thành phố, dưới vỉa hè hay trên xe cộ, hình như ta cũng có cùng cảm thức như Chúa Giêsu khi đứng trước đám người Do thái ở Galilê. Đôi lúc chính các Ki-tô hữu ngày nay không còn biết tin tưởng vào ai, theo vị thầy nào. Chúa Kitô sai Kitô hữu đến thế gian để tiếp nối sứ vụ chủ chiên nhân lành của Người bên cạnh con người thế kỷ XX.

5. Vào mỗi thời kỳ khó khăn hay chuyển hướng của lịch sử Giáo Hội, thì chủ mùa gặt, để đáp lại lời cầu xin của biết bao người hèn mọn, yếu đuối, vô danh, đã luôn làm chỗi dậy nam nữ sứ đồ. Những kẻ này xuất hiện như là những vị giảng đạo của thời đại, những chứng nhân cho một Vương quốc duy nhất có thể biểu lộ sức mạnh của mình bằng nhiều cách. Nhưng chỉ nhờ lời cầu nguyện mới có các chứng nhân đó.

36.Sứ mạng đầu tiên của mười hai tông đồ

(Trích trong “Fiche Dominicale”)

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1) Một sứ mạng bắt nguồn từ “lòng thương xót” của Đức Giêsu.

Sau những hoạt động truyền giáo của Đức Giêsu tại Galilê, câu 35 cho một cái nhìn tổng quát về hoạt động này: “Đức Giêsu rảo khắp các thành phố, làng mạc, rao giảng trong các hội đường. Công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa, chữa mọi bệnh hoạn, tật nguyền, nay đến giờ tổng kết, để tạo một đà lực mới cho sứ mạng. Nguồn mạch của đà lực mới cho sứ mạng này phát xuất từ cái nhìn của Đức Giêsu, từ trái tim Mục Tử nhân hậu của Người, từ “lòng thương xót” của Người đối với “đám đông mệt mỏi rã rời”, tệ hơn nữa, bị những người có trách nhiệm hướng dẫn – Luật sĩ và Biệt phái – bỏ rơi vì những vị này khép lòng lại trước tính chất mới mẻ của Nước Chúa. Họ bơ vơ như đàn chiên không người chăn dắt. Thấy nhiệm vụ quá lớn lao mà phương tiện lại nghèo nàn, trước khi cất tiếng kêu gọi và sai các tông đồ lên đường sứ mạng, Đức Giêsu hướng tầm mắt các môn đệ về phía “ông chủ mùa gặt”: “Hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai nhiều thợ gặt đến”.

2) Một sứ mạng không khác sứ mạng của Đức Giêsu

Nhân việc Đức Giêsu kêu gọi “mười hai môn đệ”, tác giả Phúc âm phong cho họ tước hiệu “tông đồ” nghĩa là “được sai đi”. Simon được gọi là “Phêrô” đứng đầu, Matthêu người thu thuế “ở chương 9,9; “Giuđa”, “kẻ nộp Người”.

Việc kêu gọi đi liền với việc sai đi truyền giáo được diễn tả dưới hình thức diễn từ, đó là diễn từ thứ 2 trong 5 diễn từ quan trọng của Phúc âm thứ 1 mà ta sẽ đọc Chúa nhật XII và Chúa nhật XIII sắp tới. Đoạn Phúc Âm hôm nay trả lời hai vấn nạn: Họ được sai đến với ai? Sứ mạng của họ là gì?

Đến với ai? Với cuộc hẹn cuối cùng tại Galilê, Đức Giêsu phục sinh đã mở chân trời truyền giáo ra tới “mọi dân tộc” (28,19). Còn hiện tại, những người được sai đi trước hết: “với những chiên lạc nhà Israel”.

Sứ mạng gì? Y hệt sứ mạng của Đức Giêsu. Như Người họ sẽ loan báo việc Nước Thiên Chúa đến. Họ sẽ thực hành những cử chỉ nhân hậu của Chúa, những dấu chĩ mà tác giả Phúc âm, ở 11,2, gọi là “những công việc Đức Giêsu”. Khi nhớ lại rằng họ chỉ hành động như vậy nhờ Đức Giêsu ban các quyền năng của Người cho họ một cách nhưng không, họ đã đi đến một thái độ sống nghèo “Anh em đã lãnh nhận nhưng không, hãy ban nhưng không”.

BÀI ĐỌC THÊM

1) Chính nơi trái tim Đức Giêsu ta tìm thấy động lực cho việc truyền giáo, sứ mạng của ta (Mgr. L. Daloz, le Règne de Diêu s’est approché DDB).

Cho tới nay, Đức Giêsu chưa trao cho những kẻ kêu gọi một nhiệm vụ nào. Giờ đây Người sắp trao cho họ và sai họ đi. Trước đó, Matthêu đã cho ta thấy nguồn cội của sứ mạng của họ: Thấy đám đông, Người động lòng thương, vì họ mệt mỏi rã rời như bầy chiên không người chăn dắt. Rất nhiều lần, Phúc âm đã nói về lòng thương của Đức Giêsu đối với đám đông. Nguồn cội của việc sai đi, của sứ mạng truyền giáo là tình thương của Đức Giêsu, tình thương mà ta gọi là lòng thương xót, không phải là sự hạ cố, nhưng vì tình thương ấy đã nhìn thấy đám đòng mệt mỏi rã rời” và Đức Giêsu đã xúc động… Từ ngừ Hi Lạp còn nói mạnh hơn: Người đau thắt ruột lại. Chính nơi trái tim Đức Giêsu, nơi sự âu yếm của Người, nơi sự xúc động tâm can của Người, ta tìm thấy động lực của sứ mạng truyền giáo của ta. Có lẽ ta nghĩ rằng lời kế tiếp sẽ là lời mời gọi lên đường làm việc thu hoạch mùa màng, vì có quá ít thợ ! Nhưng Đức Giêsu lại không nói điều đó với các môn đệ. Hãy nghe Người: Các con hãy xin Chủ ruộng sai thợ gặt đến. Tự nguyện chưa đủ. Quảng đại chưa đủ. Còn phải hiệp thông với tình yêu của Chúa Cha, ông chủ ruộng nữa. “Lòng thương xót” của Đức Giêsu diễn dịch tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại lầm lạc. Vâng, thật cần thiết, những người muốn làm việc cho mùa gặt, loan báo Nước Trời, làm chứng Phúc âm, đi kín múc từ nguồn tình yêu làm cho hoạt động của họ có ý nghĩa. Lời kêu gọi trước hết là theo Đức Giêsu. Hiểu biết Đức Giêsu, nhận biết Người là Đấng Cứu Thế, Đấng đến nhân danh Chúa Cha, để Người khai tâm mở trí, chiêm ngắm người, năng lui tới với Người, khám phá bằng nghe Người nói, nhìn Người hành động không mỏi mệt, và tặng ban chính sự sống của Người, thấy Người xúc động vì “thương xót” đến mức nào, thổn thúc vì khổ đau của nhân loại… và như thế, chia sẻ sự bao la, sự sâu xa của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu không giới hạn cháy bỏng: Thiên Chúa muốn nhân loại vào một cuộc xuất hành khác với cuộc xuất hành do Mosê hướng dẫn, muốn ban cho nhân loại một cuộc giải phóng vĩ đại hơn! Đó là tất cả điều kiện của một sứ mạng thực sự, không phải là trước khi lên đường, nhưng không ngừng, ở nền tảng của sứ mạng. Trước đây, không biết diều đó, ta vẫn có thể xúc động trước nỗi khổ của con người, trước sự thiếu thốn của họ và dấn thân phục vụ họ, can đảm hành động. Điều đó rất quan trọng, và đó cũng là công việc của Thánh Thần Thiên Chúa. Nhưng Phúc âm còn đưa ta đi xa hơn: Nó mạc khải tình yêu mà chính Thiên Chúa mang đến cho nhân loại, say mê, không mỏi mệt. Đời sống và cái chết của đức Giêsu là bằng chứng hùng hồn về điều đó. Người mời gọi ta đến chia sẻ tình yêu ấy làm tôi tớ phục vụ tình yêu ấy cho anh em ta, bắt tay vào hành động vì Người sai ta đi truyền giáo truyền giáo không phải là tác phẩm của ta. Cũng không do sáng kiến của ta truyền giáo đâm rễ sâu trong lời cầu nguyện làm trái tim và ý chí ta phù hợp với tình yêu trong trái tim Thiên Chúa. Truyền giáo không thể tách rời cầu nguyện: Hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai thợ gặt đến.

2. Chúng ta là Giáo Hội (L. Sintas, Parole de Diêu pour la méditation ét lhomélie, Médias Paul).

Sứ mệnh trao ban cho các tông đồ cũng là sứ mệnh trao ban cho ta hôm nay. Giáo hội hôm nay chính là chúng ta. Vậy đến lượt ta phải loan báo Nước Thiên Chúa đã đến. Chắc rằng ta không đi tìm mặt trời giữa đêm khuya. Xuyên qua hoạt động hằng ngày, cuộc sống gia đình, nghề nghiệp, ta có thể, hoặc trở nên tôi tớ của Vương quốc sự dữ khi ta gieo rắc chia rẽ, vun trồng ghen tương, ích kỷ, hoặc trở nên chứng nhân cho hoạt động của Thiên Chúa khi trở thành men tình bạn, men bình an, men hoà giải. Cần cầu nguyện để nhắc nhở những gì Thiên Chúa đã làm cho ta dù ta tội lỗi. Nhưng cầu nguyện còn có mục đích giúp ta kiên vững trong sứ mệnh là tác nhân hoà bình, chữa lành bệnh và hiệp thông. Muốn là Kitô hữu, phải làm cho cách hành động của ta phù hợp với niềm tin. Đó là cách duy nhất để trở thành tông đồ, làm cho Giáo Hội nên sống động và có sức hấp dẫn. Thực vậy, đối với những người không cùng chia sẻ niềm tin với ta, thành phần hữu hình của Giáo Hội mà họ thấy được chính là các Kitô hữu cụ thể ở làng ta, trong khu phố ta ở. Là chính chúng ta. Chính ta có trách nhiệm tạo cho Giáo Hội một khuôn mặt của Thiên Chúa, khuôn mặt ấy có sức lôi cuốn mọi người sống quanh ta. Đó là loan báo Nước Thiên Chúa đã đến

3. Cầu nguyện và truyền giáo (Mgr. R. Coffy, cine Ezlta qui célêber ét quiprie, Le Centurion).

Truyền giáo là lãnh nhận trước khi là hành động. Truyền giáo chỉ là hành động nhân danh Đấng sai đi. Được sai đi chính là hành động nhân danh ai. Nó giả thiết mối quan hệ quen thuộc thông thường giữa người sai và kẻ được sai, trong sứ mạng tông đồ, đó là cầu nguyện. Hoạt động truyền giáo không dựa trên cầu nguyện sẽ có nguy cơ trở nên hoạt động thuần tuý nhân loại chứ không còn là hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi con người. Nói về truyền giáo mà không nói trong cầu nguyện, có thể vi phạm tính cách chân thực của sứ mạng.

37.Truyền giáo

Nhìn thấy đám đông, Chúa Giêsu đã động lòng thương xót và Ngài đã đưa ra hai hình ảnh để nói lên tình trạng đáng thương của họ. Đó là hình ảnh đàn chiên và hình ảnh cánh đồng lúa chín.

Trước hết là hình ảnh đàn chiên. Thực vậy, đàn chiên mà thiếu vắng người chăn, thì rồi sẽ như thế nào? Những con chiên ấy làm sao biết được con đường dẫn tới đồng cỏ non và dòng suối mát. Những con chiên ấy làm sao chống trả được với nanh vuốt sói rừng. Những con chiên ấy làm sao tìm được nơi nghỉ ngơi an toàn qua đêm. Phải, nếu không có người chăn, chắc chắn đàn chiên sẽ bị tan tác.

Tiếp đến là hình ảnh cánh đồng lúa chín. Thực vậy, lời cảnh báo của Chúa Giêsu, từ ngàn xưa và cho tới ngày hôm nay, vẫn còn là một sự thật:

– Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ sai thợ đi gặt lúa về.

Trong những năm gần đây, vùng đồng bằng sông Cửu Long đã thay thế lúa mùa bằng lúa thần nông. Mà đã cấy lúa thần nông, thì hầu như vào cùng một thời điểm, nhà nhà đều xuống giống và nhà nhà đều thu hoạch. Vì thế, kiếm được thợ để xuống ruộng gặt lúa, đôi khi đã trở thành một vần đề nan giải. Lúa đã chín mà không có thợ, bị rơi rụng trên ruộng đồng, nhìn thấy mà xót xa.

Dĩ nhiên qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn nói đến một mùa gặt thiêng liêng, cũng như muốn nói đến những người thợ vừa thành tâm, vừa thiện chí, lại vừa có đủ khả năng để đem lại những lợi ích cho các linh hồn. Bởi đó, chúng ta hãy cầu xin để có được nhiều người nhiệt tình đáp trả lời mời gọi của Chúa trên cánh đồng truyền giáo.

Tôi nghĩ rằng ơn gọi thì không thiếu. Cái thiếu duy nhất đó là sự quảng đại của con tim để đáp trả. Nhu cầu truyền giáo mỗi ngày một khẩn thiết, bởi vì rất nhiều người sẽ bị hư đi chỉ vì thiếu vắng các mục tử, các chủ chăn.

Hoàn cảnh hôm nay của chúng ta thật khác xa với hoàn cảnh của các môn đệ ngày xưa. Thực vậy, ngày xưa chính Chúa Giêsu đã qui tụ các ông, sai các ông đi và trao ban cho các ông những quyền hành đặc biệt, để được dễ dàng hơn trong việc thi hành sứ mạng của mình.

Đúng thế, chính Ngài đã phán:

– Các con hãy làm cho những người bệnh được khỏi, hãy làm cho những người chết được sống lại, hãy làm cho những người phong cùi được lành sạch và hãy xua trừ ma quỉ…

Sở dĩ như vậy là để mọi người có thể nhận ra rằng sứ mạng của các ông là sứ mạng xuất phát từ trời cao, xuất phát từ Thiên Chúa. Nếu như ngày hôm nay, các linh mục, tu sĩ hay các nhà truyến giáo cũng có được những quyền hành như thế, chắc hẳn việc rao giảng Tin Mừng sẽ dễ dàng hơn và sẽ gặt hái được những thành quả tốt đẹp. Thế nhưng, đó chỉ là một giấc mơ, hay chỉ là một phép lạ. Đúng thế, đừng mơ mộng nữa mà phải trở về với thực tế. Thời buổi buổi bây giờ phép lạ rất họa hiếm và chỉ xảy ra trong những trườn họp đặc biệt mà thôi.

Trở lại với các môn đệ. Trước hết Chúa Giêsu sai các ông đến với những người Do Thái, những con chiên lạc của nhà Israen, rồi sau đó, đến với các dân tộc. Các ông đã lên đường và hăng hái rao giảng:

– Nước Trời đã đến gần.

Trải qua hai ngàn năm, sứ mạng truyền giáo, sứ mạng rao giảng Tin Mừng vẫn còn là một sứ mạng cấp bách, bởi vì trên toàn thế giới mới chỉ có hơn 30% dân số nhận biết Đức Kitô, trong đó người công giáo chỉ chiếm có 17% mà thôi. Còn tại Việt Nam, số người công giáo chưa được 10%.

Sứ mạng truyền giáo, sứ mạng rao giảng Tin Mừng không phải là một sứ mạng được dành riêng cho các linh mục và tu sĩ. Trái lại, phải là một sứ mạng chung của mọi Kitô hữu. Bởi vì đã là Kitô hữu, chúng ta đều có bổn phận phải làm cho thân mình mầu nhiệm của Đức Kitô, tức là Giáo Hội, được phát triển, được lớn lên. Tuy nhiên, chúng ta đã thực thi sứ mạng trọng đại ấy như thế nào? Chúng ta đã góp phần vào công cuộc truyền bá đức tin của Giáo Hội ra làm sao? Đừng hỏi rằng Giáo Hội đã làm được những gì cho tôi, nhưng hãy tự vấn lương tâm xem tôi đã làm được những gì cho Giáo Hội?

38.Truyền Giáo

Hẳn chúng ta đều biết SOS là ba chữ viết tắt trong tiếng Anh bởi câu: Save our soul, có nghĩa là hãy cứu lấy linh hồn chúng tôi. Đây là một tín hiệu khẩn cấp. Đúng thế, khi một chếc tàu bị lâm nguy, thì lập tức vị thuyền trướng phải dùng máy vô tuyến điện gửi đi những tín hiệu khẩn cấp ấy. Và theo luật làng hải quốc tế, thì bất kỳ chiếc tàu nào nhận được tín hiệu này, đều có bổn phận phải chạy đến tiếp cứu.

Cách đây mấy năm, một đoàn thám hiểm dùng khinh khí cầu khởi hành đi bắc cực. Lúc trở về, họ gặp phải cơn bão lớn. Khinh khí cầu của họ bị cuốn đi như một chiếc lá. Sau cùng đã rớt xuống một vùng băng tuyết, cách xa làng mạc hàng trăm cây số.

Nghe có tiếng kêu cứu khẩn cấp phát ra từ một đài vô tuyến, người ta hối hả tổ chức đoàn cấp cứu. Những chiếc tàu phá băng được gửi tới nơi xảy ra tai nạn. Những chiếc phi cơ bay đi tìm đoàn thám hiểm mắc kẹt trên vùng băng giá. Sau cùng, họ đã tìm thấy và đã cứu thoát những người gặp nạn.

Ngăm 1932, có một phi cơ bị rớt giữa sa mạc Sahara. Suốt một tuần lễ, cả miền bắc Phi được đặt trong tình trạng báo động, sẵn sàng lên đường để cứu giúp chiếc phi cơ lâm nạn.

Chúng ta ca tụng những nghĩa cử cao đẹp ấy, thế nhưng nếu suy nghĩ, con người chúng ta gồm có hồn và xác. Phần hồn thì cao trọng hơn phần xác bội phần. Thế nhưng giờ đây có biết bao nhiêu linh hồn đang kêu cứu, đang gửi đi những tín hiệu khẩn cấp SOS, song lại không có một ai đã đến để giúp đỡ họ, không có một ai đã ném cho họ chiếc phao cứu độ. Hay nói theo Chúa Giêsu:

– Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít.

Thực vậy, Đức Kitô đã chết để cứu chuộc chúng ta hai mươi thế kỷ rồi, thế mà ngày hôm nay mới có khoảng 30% dân số nhân loại nhận biết Ngài. Riêng những người công giáo thì chiếm khoảng 17%. Và như vậy còn biết bao nhiêu người đang ngồi trong bóng tối, chưa được đón nhận ánh sáng Tin mừng. Giáo hội luôn đưa mắt nhìn họ, đồng thời sai phái những người con dũng cảm nhất của mình đến với họ.

Ngay tại quê hương Việt Nam, trong số 70 triệu dân thì mới có khoảng hơn sáu triệu là người công giáo, tỷ lệ chưa tới 10%. Rồi lại còn biết bao nhiêu xứ đạo hẻo lánh, vùng sâu vùng xa, vắng bóng các linh mục và tu sĩ, vì thế đức tin dần dần bị xói mòn và mai một. Đúng thế, bên cạnh chúng ta còn có biết bao nhiêu anh em lương dân chưa nhận biết Chúa.

Có ba em nhỏ cùng ngắm nhìn bức ảnh chuộc tội trong một gian hàng. Cả ba em cùng ngạc nhiên. Em thứ nhất bảo:

– Coi kìa, người ta đã tạo cho ông ấy một vẻ mặt thật đau khổ.

Em thứ hai liền hỏi:

– Tại sao đầu ông ấy lại gục xuống.

Em thứ ba trả lời:

– Hình như ông ấy khóc.

Các em dùng hai tiếng “ông ấy” vì em không biết Đức Kitô là Con Thiên Chúa đã chịu chết vì chúng ta và cho chúng ta. Qua những lời lẽ chân thành và đơn sơ ấy, chúng ta thấy các em mò mẫm tìm hiểu, nhưng không một ai đã dẫn đường chỉ lối cho các em.

Rồi trong số hơn sáu triệu người công giáo Việt Nam, tự hỏi có bao nhiêu người đã thực sự sống đức tin của mình? Có bao giờ chúng ta, những người công giáo, đã lắng tai nghe những tiếng kêu khẩn thiết của các linh hồn hay chưa? Liệu trái tim chúng ta có thể dửng dưng trước hằng triệu người đang lao mình vào cõi chết hay không? Chúng ta đã thực sự hiểu được giá trị của một linh hồn hay chưa?

Mỗi linh hồn chính là một người con cưng của Thiên Chúa, được Ngài dựng nên giống hình ảnh Ngài, được Ngài nuôi dưỡng bằng Mình Máu thánh Ngài, được Ngài cứu chuộc bằng những giọt máu đổ ra trên thập giá.

Hiểu như thế nên các thánh không ngần ngại chấp nhận mọi gian nan cực khổ để rao giảng Tin mừng hầu cứu vớt những kẻ đang bị tội lỗi vùi dập và cuốn trôi.

Một Phanxicô Xaviê, sau nhiều tháng lênh đênh trên biển cả, mới đặt chân lên đất Ấn độ. Người đầu tiên thánh nhân gặp trên bãi biển là một thiếu phụ nghèo túng, ẵm đứa con sắp chết trong tay. Thánh nhân tiến lại, giảng giải và ban bí tích rửa tội, rồi qui xuống cảm tạ Thiên Chúa đã ban tặng cho mình niềm an ủi lớn, đó là đã gửi được một thiên thần về quê hương vĩnh cửu.

Một vị tông đồ tại bắc cực đã phát biểu:

– Trên miềm băng giá này vẫn có những thương gia lặn lội tìm mua da gấu, thế mà không có một linh mục, một tu sĩ hay một giáo dân thiện chí nào đến tìm kiếm các linh hồn.

Một Martinô đã thưa cùng Chúa:

– Lạy Chúa, nếu con còn làm ích cho anh em, thì con sẽ không từ chối bất cứ lao nhọc nào.

Một Catarina muốn được đứng trước cửa hỏa ngục để ngăn chặn không cho các linh hồn rơi vào đấy.

Một Vianney đã nói:

– Nếu tôi đã đặt được một chân vào thiên đàng mà bỗng nhìn thấy một người cần cứu vớt, thì tôi sẽ không ngần ngại trở về trần gian để cứu vớt người ấy.

Thánh nữ Têrêxa cũng đã nói:

– Để cứu một linh hồn khỏi tội lỗi và hỏa ngục, tôi sẵn sàng hy sinh mạng sống của tôi đến muôn ngàn lần.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã làm được những gì để góp phần nhỏ bé của chúng ta vào công cuộc rao giảng Tin mừng, truyền bá Đức tin của Giáo hội?

39.Ơn thiên triệu

Một chàng thanh niên quí phái đang thong thả bước đi trên một con đường tại vùng quê nước Ý, đi ngược chiều, có một bà già quê ăn mặc rách rưới. Cảm động vì thân hình tiều tụy ấy, chàng thanh niên bước tới ân cần nhã nhặn an ủi, rồi chàng lấy ví ra tặng cho bà cụ tất cả số tiền mang theo. Cử chỉ nhân ái và món quà của chàng thanh niên đã khiến bà cụ xúc động, và khi được biết chàng thanh niên đó là người Công giáo, bà hứa mỗi ngày đọc một tràng chuỗi cầu nguyện cho anh được làm linh mục. Ngày tháng trôi qua, chàng thanh niên đã quên hẳn, không còn nhớ gì chuyện gặp bà cụ ấy, nhưng ít năm sau, lời cầu nguyện chân thành của bà cụ nghèo khổ ấy đã được Chúa chấp nhận. Anh trở thành linh mục, và còn hơn thế nữa, trở thành một Đức Giáo Hoàng thời danh, đó là Đức Lê-ô XIII.

Kể lại câu chuyện trên tôi muốn nói rằng: tất cả chúng ta hãy cầu nguyện, hãy cầu xin Chúa ban nhiều thợ gặt, vì lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Hơn nữa, chúng ta cũng cầu xin cho các thợ gặt của Chúa trở thành những thợ gặt lành nghề, những thợ gặt nhiệt tâm làm cho nhiều người biết Chúa và đưa nhiều linh hồn về kho lẫm Nước Trời.

Quả thật, cánh đồng lúa thật bao la mênh mông, hàng triệu triệu người chưa biết Chúa, nhưng ai sẽ đem Tin Mừng cứu rỗi cho những người ấy? Ai sẽ mang Chúa đến cho những tâm hồn chưa biết Chúa ấy? Ai sẽ là chứng tá sống động của Thiên Chúa giữa một thế giới ngày càng lãnh đạm đối với những lời giảng dạy của Chúa? Chúng ta hãy cầu xin chủ ruộng gửi thêm thợ gặt. Thiên Chúa là chủ ơn cứu chuộc. Muốn có nhiều người xung phong vào cánh đồng phì nhiêu kia, Chúa bảo chúng ta phải cầu nguyện. Cầu nguyện để Chúa ban nhiều thợ gặt và nhiều thợ gặt lành nghề, đó là công việc của mỗi người. Chúng ta có thể làm công việc đó bất cứ lúc nào và không bao giờ có gì giới hạn cả. Hơn nữa, chúng ta phải coi việc cầu nguyện này như một bổn phận thường xuyên, một nhiệm vụ hàng ngày của chúng ta.

Lạy Chúa, chúng con cám ơn Chúa vì đã có những người ưng thuận làm linh mục, làm thừa sai để giúp đỡ chúng con, nếu các vị đó cũng thích đời sống dễ dãi, thích có một gia đình ấm cúng như chúng con, thì không biết hiện giờ thân phận linh hồn chúng con sẽ ra sao? Và nếu đâu đâu cũng vậy, thì thế giới này sẽ như thế nào?

Lạy Chúa, chúng con cám ơn Chúa đã ban cho các linh mục ý chí can đảm để sẵn sàng hy sinh, nhờ các ngài mà chúng con có bánh trường sinh nuôi dưỡng linh hồn, nhờ các ngài mà chúng con thành lập được những gia đình vững chắc, nhờ các ngài mà chúng con được tẩy sạch trong bí tích Giải tội, nhờ các ngài mà chúng con được chết bình an.

Lạy Chúa, chúng con cầu cho công việc của các linh mục. Xin Chúa cho các ngài thành công, nhưng đừng cho các ngài khải hoàn. Nếu các ngài có gặp thất bại, xin Chúa đừng để các ngài thất chí, bởi vì biểu hiệu một công việc đẹp lòng Chúa không phải tại thành công hay thất bại, nhưng chính là tình yêu Chúa. Xin Chúa gìn giữ các linh mục trong tình yêu Chúa.

Lạy Chúa, chúng con xin Chúa cho các linh mục trở thành những nhà mô phạm đối với trẻ em, những nhà chuyên môn về vấn đề gia đình, những nhà tâm lý uyên thâm đối với thanh thiếu niên, những nhà thông thái và đầy kinh nghiệm trong tòa giải tội. Xin cho các linh mục biết đáp lại tất cả mọi lời chào, không phân biệt của ai, khi gặp họ ở đường phố, và nhất là biết trả lời cho tất cả mọi người với nụ cười luôn nở trên môi, cho dù trong lòng đang xao động vì phong ba và thể xác đang rã rời vì công vụ.

Lạy Chúa, xin Chúa cho chúng con biết phê bình các linh mục với tất cả tấm lòng quảng đại, vì công việc của các ngài quá nhiêu khê, phức tạp. Xin Chúa ban cho chúng con ơn biết tha thứ những khi các ngài lầm lỗi và thông cảm những khi các ngài nóng nảy, gắt gỏng.

Lạy Chúa, xin cho chúng con bền chí cầu nguyện cho các linh mục, bởi vì cầu nguyện cho các ngài là ơn quí trọng nhất đối với chúng con và hữu ích nhất đối với các ngài.

40.Chạnh lòng thương

Trên báo Dấn Thân số 6 tháng 6 năm 2003, Trần Duy Nhiên tâm sự về “Mẹ Giáo Hội: Tự Hào và Xót Xa” như sau: “Họ đã vẽ lên một cơ chế quyền bính, hẹp hòi và áp bức. Không ít lần tôi có dịp gặp những linh mục đường hoàng là “cha: người ta, với quyền sinh sát thiêng liêng: các ngài ấy sẵn sàng giải tội khi tín đồ xúc phạm đến Chúa, và cũng chóng vánh “rút phép thông công” khi người ta xúc phạm đến bản thân mình, đến uy quyền mình. Tôi đã nhìn thấy những thánh đường nguy nga giữa đám giáo dân nghèo hèn rách nát, và ngày ngày đám dân nghèo ấy phải đến thờ phượng một Thiên Chúa vô tâm, thật cao vời nhưng cũng thật dửng dưng trước cái khốn cùng của con người”.

Đọc bài chia sẻ này tôi rất “xót xa”, vì tác giả đã đưa ra những nhận xét thực tế trái ngược với những điều Chúa Giêsu đã làm và giảng dạy trong bài Phúc âm hôm nay.

Sứ vụ thiên sai của Chúa Giêsu phát xuất từ một tình yêu thương tha thiết đối với nhân loại. Chúa Giêsu thương dân Do Thái khi Ngài nhìn thấy đám đông không có người lãnh đạo. Những quyền lực chính trị và tôn giáo đặt ra những loại thuế và luật lệ quá nặng nề để bóc lột dân chúng vì ích lợi cá nhân của những người lãnh đạo. Dân chúng lúng túng và hoang mang: “Đức Giêsu thấy đám đông, Người chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt”.

Theo William Barclay, chỉ “splangchna” đã được dùng để diễn tả lòng thương xót của Chúa Giêsu, là tiếng mạnh mẽ nhất trong ngôn ngữ Hy Lạp. Nó có nghĩa là ruột, diễn tả sự sâu xa nhất của con người. Ngôn ngữ Việt Nam cũng nói “máu chảy ruột mềm” để diễn tả tình nghĩa cha mẹ, anh em với nhau. Nếu một người đau ốm hoặc chết đi, cả nhà đều đau khổ như chính mình bị đứt từng khúc ruột vậy!

Các Phúc âm đã diễn tả những hoàn cảnh làm cho Chúa Giêsu phải chạnh lòng thương khi đứng trước đau khổ của con người: đối với người bệnh, người mù, người bị quỉ ám; trước nỗi buồn: của bà góa thành Nain khóc thương con trai đã chết; trước sự đói khát của dân chúng; trước nỗi cô đơn, bị bỏ rơi của người bệnh phong.

Tôi trông thấy người đàn bà ngồi ngủ trước thềm nhà thờ khi đã đóng cửa. Mùa hè bà biến mất. Lúc sang đông, gió lạnh, bà ngồi co ro trong chiếc áo lạnh dài màu xám, đầu cuốn khăn len, chân đi giầy bút cao trên mắt cá, với một túi đồ có mấy tờ báo. Bà không nói chuyện với ai, chẳng thèm nhìn ai, lặng lẽ ngồi gục đầu xuống ngủ trước những con mắt dòm ngó của khách qua lại bên đường. Tôi đoán bà vô gia cư, nhưng không bao giờ nói chuyện hay xin ai cái gì, lại có vẻ bất cần đời.

Bà đã ngồi ngủ mỗi buổi tối ngoài trời giá lạnh như vậy khoảng mấy tuần lễ rồi. Tôi thắc mắc bà ấy từ đâu đến? Ở đâu? Muốn gì? Ăn uống ra sao? Đi vệ sinh ở đâu? Bà giải quyết thế nào đối với những nhu cầu tối thiểu của một con người cần phải có để sống? Sự hiện diện của bà trước ngôi thánh đường, và trước tòa nhà xứ ba lầu làm tôi áy náy lương tâm mỗi khi đi qua lại nhìn thấy bà. Tôi liên tưởng đến dụ ngôn ông nhà giầu và anh Ladarô trong Phúc âm của Luca 16, 19-31.

Đôi lần tôi thử chào, bà làm thinh. Có một lần tôi dừng lại hỏi thăm, bà xua tay như đuổi tà! Trời về khuya, mùa đông lạnh, tôi vào nhà xứ nằm trên giường nệm ấm áp, nhưng tiếng nói từ bên trong tâm hồn vẫn thôi thúc tôi phải làm gì. Có lẽ không bao giờ thay đổi được cuộc đời của bà, nhưng cũng đừng quên lãng hoàn toàn sự hiện diện của bà. Hãy có sự xúc cảm của con tim. Hãy tỏ ra có lòng thương xót. Đừng hững hờ kẻo sẽ trở nên chai đá!

Sau mấy lần “Hello”, bà có vẻ cởi mở hơn. Bà đưa tay vẫy chào mỗi khi tôi qua lại. Tôi đưa tiền bà không lấy, lại còn xua đuổi tôi hơn nữa: “Đi đi, đi đi!” Tôi chưa nghe bà nói câu nào, chỉ diễn tả bằng cử chỉ tránh né và từ chối. Có một lần thấy bà đang uống lon “coke”, tôi dúi vào tay bà 5 đôla và chỉ vào lon “coke”. Bà gật đầu như nói cám ơn, nhưng cũng e ngại như muốn nói hãy để tôi yên. Tôi không muốn làm bà cảm thấy bất an, đành bỏ đi. Sau đó tôi không thấy bà xuất hiện nữa.

Đôi khi suy nghĩ về bà, tôi tự hỏi tại sao tôi đã không làm gì hơn nữa để tỏ lòng thương xót? Cho bà một hay hai bữa ăn chẳng hạn, nhưng còn những ngày khác trong suốt cuộc đời bà thì sao? Có rất nhiều người trên thế giới cần đến sự giúp đỡ, nhưng phải bắt đầu từ đâu? Giúp bao nhiêu thì đủ? Lòng thương xót có một khởi đầu, nhưng có kết thúc không? Chắc chắn rằng chỉ một nỗ lực làm phước cho một người không phải là điều Chúa Giêsu muốn kêu gọi tôi hôm nay trong bài Phúc âm.

Lòng thương xót đối với dân chúng là động lực cho sứ vụ Thiên Sai của Đức Kitô. Chính Ngài đã chết và hy sinh cho nhân loại. “Chạnh lòng thương” tiếng Anh dịch là “compassion”, nguyên gốc từ tiếng La tinh “cum-patior”, có nghĩa là cùng chịu đau khổ với, Mẹ Têrêsa Calcutta đã khuyên rằng:

“Chúng ta hãy cho đi, hãy ban phát tình yêu chúng ta đã lãnh nhận cho những người xung quanh. Hãy cho đi, cho đến khi nó trở thành một việc hy sinh vì tình yêu đích thực luôn đòi hỏi hy sinh. Đó là lý do vì sao các bạn phải yêu cho đến khi chính tình yêu đó làm các bạn đau khổ”.