CN.II.PS.C: Bình an cho các con…

CN.II.PS.C

Bình an cho các con…
(Cv 5, 12-16 ; Kh 1, 9-13.17-19 ; Ga 20-19-31)

Trong lối sống thực dụng, bình an, an lành dường như được coi như một món hàng có thể buôn bán. Điển hình là bao người làm từ thiện để xoa dịu lương tâm vì đồng tiền làm ăn bất chính, hay mua tấm bằng ân nhân thật to như bùa hộ mệnh treo trong nhà tạo uy tín, khoe khoang. Có cầu tất nhiên có cung, một số nhóm, tổ chức hay các đấng đưa ra bảng gía với bằng ân nhân “to” tương ứng được xếp hạng từ ân nhân đặc biệt, bậc một, bậc hai, bậc ba, phổ thông kèm theo “khuyến mãi” được cầu nguyện suốt đời ! Phải chăng bình an thật sự có thể buôn bán, có thể mua được ? Câu trả lời xin dành cho các vị ân nhân, các vị cung cấp dịch vụ đó !

Riêng Thầy Giêsu sau Phục Sinh, câu nói đầu tiên khi gặp gỡ lại các môn đệ của mình là lời chào, lời trao ban bình an : “Bình an cho các con”. Bình an Thầy ban xoa dịu biến cố thất vọng, chạy tan tác, sợ bị bắt bớ và chết như đau đớn tủi nhục như Thầy nơi các môn đệ. Một bình an hồng ân xuất phát từ sâu thẳm con người sau khoảng thời gian khủng hoảng Thầy tử nạn. Một câu nói, một trao ban như tha thứ những phản ứng, cách sống và cư xử của các môn đệ khiến họ đang sống trong bối rối, bất an nay được xoa dịu. Tất cả vỡ òa niềm vui, hạnh phúc khi lại được thấy Thầy Phục Sinh hiện diện trước mặt họ không lời trách mắng. Tuy nguy hiểm, bắt bớ, tù đày vẫn còn đó, nhưng có Thầy hiện diện nên các môn đệ không còn sợ hãi. Để rồi từ nay, họ lãnh nhận sứ vụ Thầy truyền giao : “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em…”

Từ nay, các môn đệ mạnh dạn đi rao giảng : bị bắt, các môn đệ không sợ ; bị tra tấn tù đày, môn đệ vui mừng đón nhận vì được chịu khổ nhân danh Thầy ; bị xử tử, đón nhận trong bình an hạnh phúc vì được giống Thầy. Bình an Thầy trao ban là nguồn sức mạnh, nơi nương tựa, lòng an ủi không nao núng sợ hãi trước gian truân và nguy hiểm. Tuy hồng ân bình an được trao ban cách nhưng không, nhưng không phải ai cũng có thể đón nhận được suối nguồn đó. Tôma đứng trước bao người anh em làm chứng chia sẻ niềm vui Thầy Phục Sinh lại nghi ngờ và không tin : “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin”.

Tội nghiệp tông đồ Tôma, vì câu nói này mà bị bao người hiểu ông là người cứng lòng tin. Là người có tính thẳng thắn, rõ ràng và thực tiễn, nên ông muốn nghiệm chứng Thầy Phục Sinh. Phải chăng vì thế ông là người hoài nghi, duy lý, duy thực nghiệm ? Không, ông có một tấm lòng chân thành-thẳng thắn yêu mến Thầy, không hề che đậy những nghi ngờ của mình. Ông lên tiếng dường như cũng là tiếng lòng của bao người, ông lên tiếng để thấy được những trăn trở đức tin thuở ban đầu, và những nỗ lực cá nhân làm cho đức tin có được bản sắc riêng không lẫn với người khác, được thấm nhuần thực sự. Để rồi khi thấy Thầy, ông đã tuyên tín vào Thầy không theo bất kì công thức chung nào, làm thành đỉnh cao của lời tuyên xưng Phục Sinh : “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”.

Chưa hết, câu tuyên tín đó không chỉ dừng lại ở tuyên xưng đức tin vào Thầy Giêsu Phục Sinh, nhưng còn là cảm nghiệm bàng hoàng khi thấy các vết thương bị xé nát trên thân thể Thầy. Tôma nhận thức được những đau đớn mà Thầy đã phải chịu trên con đường thập giá. Nỗi đau đớn vượt khỏi sức chịu đựng của vị tông đồ để ông phải cất tiếng thốt lên cách xót xa. Để rồi cũng từ đó ông đón nhận bình an được trao ban từ Thầy, chế ngự được khủng hoảng, sợ hãi và mạnh dạn can đảm làm chứng cho Thầy Giêsu Phục Sinh. Tôma trở thành một trong những Tông đồ vĩ đại nhất của Giáo hội. Trong truyền thống Giáo hội, ông mang Tin Mừng đến tận Ba Tư, Syria và lãnh nhận phúc tử đạo tại Ấn Độ.

Và đặc biệt hơn nữa, tại sao Thầy Giêsu Phục Sinh không tỏ lộ cho các môn đệ thấy vinh quang Đấng phục sinh, mà lại là những thương tích nơi thân thể như thế? Phải chăng Thầy muốn cho các môn đệ xem thấy những thương tích trong cuộc thương khó là bằng chứng lòng Chúa thương xót tha thứ cho con người: Chính vì lòng thương xót, mà Thầy đón nhận sự tính toán độc ác của giới lãnh đạo Do thái, đã vu khống những tội nặng nề cho Đấng vô tội; vì lòng thương xót, Thầy đón nhận là sự lên án bất công của Philatô, dù ông biết rõ Giêsu vô tội nhưng vì sợ mất lòng dân, nên đánh đòn và hành hạ Thầy cho đến chết; vì lòng thương xót, Thầy đón nhận nụ hôn phản bội của Giuđa, dấu chỉ của yêu thương chỉ đáng giá 30 đồng bạc; vì thương xót, Thầy tha thứ cho sự hèn nhát chối bỏ Thầy của Phêrô, sự trốn chạy của các môn đệ, cũng như sự thay lòng đổi dạ vô ơn của dân chúng; đỉnh điểm, luôn chạnh lòng thương, Thầy thiết lập Bí tích hòa giải, để những ai yếu đuối sa ngã phạm tội chạy tìm đến, luôn đón nhận được ơn tha thứ với lời trao ban: “Bình an cho các con”; và, Thầy thiết lập Bí tích Thánh Thể để luôn đồng hành, chia sẻ yếu đuối kiếp người, luôn trao ban chính bản thân làm lương thực nuôi dưỡng phận người trên con đường Chân – Thiện – Mỹ lữ hành hướng về Nước Trời.

“Bình an cho các con”, lời chúc lành của Thầy Giêsu luôn vang vọng trao ban cách nhưng không cho từng người, từng kitô hữu. Hãy luôn đến với Thầy để lãnh nhận hồng ân; hãy tin vào Thầy luôn chạnh lòng thương để được củng cố đời sống, được an vui, hạnh phúc dù phải đối diện mọi sóng gió cuộc đời…

Lm. Jos. PHẠM, SCJ